- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc

TRUYỀN THUYẾT KHÁC VỀ LĂNG MỘ VUA ĐINH VÀ LONG MẠCH Ở CỐ ĐÔ HOA LƯ.

02 Tháng Mười 20264:23 CH(Xem: 2245)
lang mo DINH THIEN HOANG

TRUYỀN THUYẾT KHÁC VỀ LĂNG MỘ VUA ĐINH
VÀ LONG MẠCH Ở CỐ  ĐÔ HOA LƯ.

Mai An NGUYỄN ANH TUẤN

___________________________

 

Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:

“Sau khi trẫm băng hà, trẫm muốn được đưa lên đỉnh Mã Yên, trong một lăng mộ khiêm nhường xây bằng đá núi Tràng An sẵn có… Chớ có biến ta thành một Tần Thủy hoàng đế cho ngàn năm căm hận nguyền rủa khi tạo ra hàng chục mộ giả dẫn theo cái chết oan nghiệt vô nghĩa của bao tráng sĩ hộ linh và dân thường! Nếu kẻ thù của Đại Cồ Việt ta, cũng là của gia tộc ta có tìm được mộ ta đào lên để nhục mạ thì cũng là sự nhục mạ cả non sông gấm vóc này, và khi đó mỗi hạt xương thịt ta hòa lẫn cỏ cây đất đá cũng hóa thành bó đuốc giữa hang sâu trong lòng các ngươi…

Ta lường trước sẽ có triều thần bẩm tấu: Giữ gìn di cốt của Đại vương cũng là bảo tồn Long mạch của Quốc gia! Lầm to! Họ Đinh ta, cũng như nhiều dòng họ khác trên mảnh đất này từ ngàn năm qua, cho tới hàng ngàn năm sau nữa, tuy không có dòng họ nào trường tồn hay triều đại nào vĩnh cửu cả, nhưng sẽ hòa trộn máu vào nhau, và Long mạch của các dòng họ chỉ có ý nghĩa khi hòa với Long mạch của Quốc gia. Các ngươi nên khắc ghi tâm nguyện của Tổ tiên: “Long mạch thiêng liêng quan trọng nhất của Non Sông là nằm trong lòng người!”

Các ngươi nên nhớ: danh tướng kiêm phù thủy Cao Biền từng cưỡi diều giấy bay khắp nước ta để tìm các nơi linh khí hội tụ, chốn sơn chầu thủy tụ nhằm yểm bùa, triệt tiêu khí tượng đế vương nước Nam ta; vua Tống đang chờ đợi kết quả các cuộc tầm long trấn yểm độc địa của Cao Biền và học trò y để kéo đại quân sang chiếm đoạt nước ta. Hãy tìm cách bảo vệ Long mạch nước nhà ở chính nơi ta đã cho lập đàn giải oan cầu siêu các oan hồn Sào Khê, thu phục nhân tâm, rồi chú tâm tập luyện binh mã, đón đợi quân xâm lược…”

Qua các bậc Đại thần tin cậy và vị Pháp sư của triều đình, Đức vua lúc sinh thời đã hiểu rất rõ điều này: Nhận thấy phương Nam có nhiều hình sông thế núi linh thiêng, long mạch vượng phát, sợ rằng sẽ sinh ra bậc chân mệnh thiên tử đánh đuổi giặc phương Bắc, Cao Biền và các nhà phong thủy sau ông ta theo lệnh chủ đã tìm mọi cách để triệt hạ, họ dùng thuật phong thủy lẫn những phương pháp thần bí để “tầm long” ráo riết -  “Long” này là long mạch, được coi là “tinh hoa” của đất trời, nơi tụ hội đủ cả “Sơn khí, Thủy khí, Nhân khí, Đạo khí”, tạo ra các huyệt đạo không thể bị phá hoại.

Tràng An vốn được coi là vùng đất của Rồng, vùng đất của Thái Dương - những “rừng đá vôi” vươn lên từ lòng đất Mẹ; và của Thái Âm là những mạch rồng uốn lượn qua các dòng sông và hang động, mang theo hơi thở của Rồng, như một thứ Năng lượng tinh kết chủ quyền tâm linh của dân tộc, và cho đến nay, các nhà nghiên cứu cổ sử đã có đủ cơ sở để khẳng định lý do vì sao vùng đất địa linh này được chọn làm kinh đô cho một nước Việt Nam độc lập.

Một nhà nghiên cứu người Việt cho biết: “Vào thế kỷ thứ 9, Cao Biền đã hiểu rằng những ngọn núi đá xanh Ninh Bình có khả năng hấp thụ và lưu giữ năng lượng cực mạnh… Bằng cách xác định các huyệt đạo của đất và đặt vào đó những neo năng lượng, ông ta đã biến những đỉnh núi này thành những chiếc đinh khổng lồ đóng chặt vào xương sống của Rồng, tạo ra những nút thắt của sự trì trệ. Những cuộc Trấn Yểm này sâu sắc đến mức, để tháo gỡ chúng cần một nguồn lực tương đương với việc dời non lấp bể” [1].

Song Di nguyện cuối cùng mong bảo vệ Long mạch - Huyệt đạo quốc gia của Đinh Tiên Hoàng đế đã bị lãng quên ngay sau khi ngài về miền Mây trắng, và điều đó phải chăng là nguyên cớ cho sự ra đời một truyền thuyết theo tập quán gần như nô lệ chắc chắn làm đau lòng Tiên đế dưới suối vàng: Triều đình đã máy móc làm theo cung cách của bạo chúa nhà Tần xưa kia, tạo ra 99 quan tài giả để làm thành 99 mộ giả đánh lừa những kẻ muốn phá lăng mộ đồng thời phá huyệt đạo, trấn yểm và bức tử long mạch của riêng hoàng tộc! Sau đó, truyền thuyết kể: toàn bộ những người trực tiếp đưa các linh cữu Thật - Giả đi mai táng đều không một ai trở về, họ đã tự tuẫn tiết bằng rượu độc hoặc bằng gươm để giữ kín bí mật chốn an nghỉ của quân vương (May mà trong giai thoại không có chuyện họ bị sai giết đi để bịt đầu mối!). Phủ Khống là nơi nhân dân vùng Tràng An tạo ra để thờ phụng những vị trung thần đó.

Nhưng Dân gian nếu quả đã tạo ra truyền thuyết ấy thì thực là bất công với Tiên đế và các tráng sĩ đã bỏ mạng không phải vì nghĩa cả mà vì sự trung thành mù quáng với những kẻ cố tình làm trái Di nguyện của Tiên đế! Hoặc giả có một vị nho sĩ đời sau trung thành với lý tưởng Khổng - Mạnh đã bịa ra rồi gắn cho Dân gian?

Chúng tôi cho rằng: Chắc chắn phải có một truyền thuyết khác, nhân văn hơn, hợp đạo lý dân tộc hơn, về sự kiện Mộ giả này.

Trong lúc cùng một số bạn thân làm văn hóa ở Ninh Bình đi tìm hình hài của truyền thuyết này hiện còn lẩn quất đâu đó hay nằm trong những cuốn gia phả, thần phả phủ bụi, chúng tôi đành tự hình dung ra, theo cung cách của Dân gian minh triết. Và Giai thoại hoàn toàn khác này sẽ làm cơ sở cho một scenario film Âm bản, coi như là sự tiếp tục cảm hứng sáng tạo của các nhà làm phim HLTS:BMMVĐ.

Mặc sự phản đối ngấm ngầm trong hàng ngũ quần thần, Triều đình vẫn quyết cho dựng nên một công xưởng đóng quan tài, sau đó Bảy vị tráng sĩ được triều đình cử ra làm nhiệm vụ Hộ linh, Hộ táng 07 đoàn xe tang đựng 99 quan tài còn thơm mùi gỗ đi theo 07 hướng khắp vùng Tràng An để tạo lăng mộ giả. Bảy vị tráng sĩ này, có người tình nguyện, có người bị ép giao trọng trách, người xuất thân dân dã từng lập công cùng Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn các sứ quân, người thuộc dòng dõi hoàng tộc – đều là những người được tin cậy là trung thành tuyệt đối với Triều đình. Nhưng có đôi ba người trong số đó lại mang nỗi hoài nghi thắc mắc về nhiệm vụ được trao, bởi đã phong thanh biết được Di nguyện của Tiên đế…

Kịch bản phim của chúng tôi sẽ chỉ tập trung xây dựng quanh câu chuyện của một vị tráng sĩ, lấy tạm tên là Lê Dũng - phụ trách một đoàn xe tang chở 15 cỗ quan tài (Trong khi 6 đoàn kia mỗi đoàn chỉ chở 14 quan tài). Nhưng chỉ mỗi mình Lê Dũng nhận được mật chỉ của Dương Thái Hậu và một vị Đại thần về công vụ hệ trọng sắp tới: Phải đánh lừa những kẻ đang trấn yểm Long mạch - Huyệt đạo giang sơn bằng các Quan tài giả, để triệt phá đến cùng âm mưu hiểm độc của chúng!

Lê Dũng đã dẫn đoàn mình tới nơi vua Đinh từng lập đàn giải oan và cầu siêu cho các oan hồn Sào Khê tại cửa hang Luồn thuộc Tiểu Hoàng Long (rồng nhỏ) - đây là long mạch quan trọng nhất, đại huyệt trọng yếu của Đại Cồ Việt (Sông Sào Khê dẫn nước từ sông Đáy, luồn lách qua các hang động, núi đá, rồi đổ ra sông Hoàng Long - rồng lớn). 

Hành trình của đoàn Lê Dũng nhằm thực thi sứ mệnh thiêng liêng do Triều đình giao phó đã gặp biết bao gian nan, thử thách: Họ chỉ đánh lừa được bọn xấu lúc đầu, sau đó chúng hiểu ra sự việc, liên kết với những kẻ thù địch với Đinh Tiên Hoàng đế và triều Đinh tìm mọi cách tiêu diệt đoàn Lê Dũng và duy trì các Bùa trấn yểm độc hại, đồng thời khai thác - lợi dụng những mâu thuẫn bất hòa trong triều đình nhà Đinh cho công cuộc xâm lược nước Nam đang được chuẩn bị ráo riết bên chính quốc…

Một cô gái giỏi võ thuật từ nhỏ - lấy tạm tên là An, là con gái của một vị sứ quân trước đây bị Đinh Bộ Lĩnh giết đã bí mật theo gót đoàn Lê Dũng để tìm cách trả thù riêng theo lời trăng trối của cha… Phim sẽ có những tình huống kịch tính (cả đấu võ) để An dần hiểu rõ sứ mệnh thiêng liêng của Lê Dũng đang thực hiện, cũng như nhân cách cao quý của anh, và sau cùng, cô quyết gạt bỏ thù Nhà để tình nguyện theo anh đền nợ Nước, rồi tình yêu đã đến với hai người ( Tình tiết này được ảnh hưởng từ một mối tình được đặt trong thế tranh giành sinh tử giữa Tình yêu và Thù hận, Danh dự và Hanh phúc, Tổ quốc và Cá nhân trong vở bi kịch cổ điển nổi tiếng “Le Cid” của nhà viết kịch Pháp P. Corneille)[2].

Kết phim sẽ là đại cảnh bảy tráng sĩ quay trở về Kinh đô nhận rượu mừng của Vua nhỏ và Thái hậu. Sau khi Ngôi đền thờ 7 vị hộ linh được dân chúng lập ra để tiếp tục đánh lừa giặc phương Bắc, đám cưới An - Lê Dũng được tổ chức tại Kinh thành do Thái Hậu làm chủ hôn…

 

Đạo diễn Mai An NGUYỄN ANH TUẤN

 

1. https://pathofmiracles.com/vi/blog/ninh-binh-long-mach-phong-thuy-dia-linh-va-su-menh-han-gan/).

 

2. Vở kịch “Le Cid” miêu tả đôi trai tài gái sắc Rodrigue và Chimène đều là con của các vị đại thần, đang là một cặp tình nhân thắm thiết. Nhưng oái oăm thay, trong một cuộc tranh luận về công lao, Bá tước Don Gomès là cha của Chimène đã sỉ nhục cha của Rodrigue (là Don Diègue) bằng một cái tát. Vì cha đã già yếu, Rodrigue buộc phải thay cha thách đấu kiếm để đòi lại danh dự gia tộc. Rodrigue đã đâm chết cha của người yêu. Đứng trước nghĩa vụ hiếu thảo, Chimène buộc phải nén nỗi đau lòng và cầu xin vua Don Fernand xử tử Rodrigue để trả thù cho cha, dù trong lòng nàng vẫn yêu chàng sâu sắc. Giữa lúc đó, quân xâm lược Moors bất ngờ tấn công kinh thành. Rodrigue dẫn quân ra trận, lập chiến công hiển hách đánh bại kẻ thù và được tôn vinh với danh hiệu "Le Cid" (Chúa tể). Để giải quyết thế bế tắc, nhà vua chuẩn tấu một cuộc đấu tay đôi giữa Rodrigue với người thầm yêu Chimène là Don Sancho tình nguyện chiến đấu vì nàng. Rodrigue đã chiến thắng nhưng tha mạng cho Sancho. Cảm kích trước tài năng và lòng trung thành của Rodrigue, nhà vua chấp thuận cho cặp đôi kết hôn sau một năm tang chế để xoa dịu nỗi đau của Chimène. (Đọc: “Bi kịch cổ điển Pháp”, Hoàng Hữu Đản - Vũ Đình Liên - Huỳnh Lý dịch. Nxb Văn Hóa 1978)

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
08 Tháng Hai 201312:00 SA(Xem: 92951)
Đ àn chim với những con Rose breasted màu nâu nhạt, ngực đỏ;con Western King with fledgling cũng màu nâu nhưng cái cái ngực vàng hườm; con Red headed woodpecker mình gọi là chim gõ kiến có cái đầu màu đỏ, con Indigo Bunting tròn như con sáo quê nhà, nhưng lại xanh biếc như da trời. Tất cả bọn chúng, mỗi buổi sáng, theo nhau về ríu rít trong vườn nhà tôi...
22 Tháng Chín 201212:00 SA(Xem: 136836)
T ôi đến thăm anh một chiều mưa Huế. Nói chính xác là một chiều mưa rằm Huế. Trời xầm xì và mưa lách nhách. Lá cây ướt đầm...
22 Tháng Bảy 201212:00 SA(Xem: 134484)
K hi tôi viết những dòng chữ này, thì ở Nam California gia đình và thân hữu của nhà văn Nguyễn Mộng Giác đang tiến hành những nghi thức cuối, tiễn anh về nơi an nghỉ cuối cùng. Trước đây gần hai năm cũng tại địa điểm này, cũng những thân hữu này, đã tiễn đưa nhà văn Cao Xuân Huy trong chuyến đi chót cùng của đời anh. Nguyễn Mộng Giác là Chủ nhiệm kiêm Chủ bút đầu tiên và Cao Xuân Huy là chủ nhiệm kiêm chủ bút cuối cùng của tạp chí  Văn Học ...
20 Tháng Bảy 201212:00 SA(Xem: 136203)
N guyễn Mộng Giác sinh năm 1940 tại Bình Định, trong một gia đình gồm 7 anh chị em. Ông là người con thứ hai. Cha ông, một nhà giáo trong thời Pháp thuộc, thưở nhỏ ông cắp sách theo cha đi nhiều nơi vì thời gian đó nhà giáo luôn được thuyên chuyển công tác liên tục. Ông thừa hưởng nếp sống mô phạm từ cha mình.
18 Tháng Bảy 201212:00 SA(Xem: 117233)
T ôi thật sự muốn viết đôi dòng tưởng nhớ anh Nguyễn Mộng Giác nhưng ngày qua bốn ngày, vẫn không viết được gì. Nhớ rất nhiều chuyện. Nghĩ rất nhiều chuyện. Âm ỉ âm u.
18 Tháng Bảy 201212:00 SA(Xem: 120920)
T háng 10, năm 1999, lần đầu tiên tôi gửi bài cho báo Văn Học. Gửi thử thôi. Không có hy vọng báo đăng. Một vài cây viết kỳ cựu trước 1975 bảo tôi, Văn Học, Văn “tuyển” bài lắm. Có người còn dọa, làm thơ phải biết “nhậu”, viết văn phải biết xã giao, phải có quen biết, có gửi gắm,… Đóng cửa như tôi thì viết có mà để giun dế đọc.
22 Tháng Năm 201212:00 SA(Xem: 133144)
T ôi ở ngay Montreal mà cũng không biết là nhạc sĩ Lê Trạch Lựu cùng ở chung thành phố với tôi. Cho tới khi đọc được bài viết về ông trên báo Thanh Niên Online ở trong nước tôi mới biết ông là đồng…tỉnh với tôi! Ông là tác giả của bản nhạc “Em Tôi” mà hầu như mọi người đều biết. Ấm ớ về nhạc như tôi mà lúc nào cũng có thể nghêu ngao em tôi ưa đứng nhìn trời xanh xanh / mang theo đôi mắt buồn vương giấc mơ được. Hứng từ nàng…nhạc nào đã khiến ông sáng tác được bản nhạc bất hủ này vào năm 1953?
27 Tháng Tư 201212:00 SA(Xem: 147022)
N ăm đầu tiên Sài Gòn sập, tôi không nhớ được TV, Radio, và báo chí, có những gì nói những gì. Cả ngày quần quật, hết cái loa phường thét vào tai lại đến học tập chính trị ở trường, hội họp ở tổ dân phố và đi mít tinh (là cái gì cũng chưa hiểu hết). Ngoài đường thì vù vù xe Honda với băng đỏ trên cánh tay của bọn cách mạng 30, và cờ đỏ bán tràn lan tứ phía. Đêm về, cả nhà nhìn nhau lặng lẽ.
26 Tháng Ba 201212:00 SA(Xem: 132560)
K hánh Ly từng viết: “... một dĩa cơm chia hai, một điếu thuốc cùng hút, một ly cà phê cùng uống. Chia nhau nằm ngủ trên những tờ báo nhàu nát trải dưới đất. Tình bạn, tình anh em nẩy mầm từ đó. Quán Văn cái tên dễ nhớ và dễ thương...Mỗi người tới tùy tiện tìm chỗ ngồi trên cái nền xi-măng bỏ trống ngổn ngang gạch vụn và cỏ dại. Đó là nơi gặp gỡ đẹp nhất của một thời tôi còn trẻ...” 
21 Tháng Hai 201212:00 SA(Xem: 130502)
K hi tầu đi ngang qua tượng Đức Trần Hưng Đạo, tôi thấy ngài vẫn đứng uy nghiêm, tay cầm kiếm chỉ xuống dòng sông. Tôi chợt nhớ đến lời nguyền của ngài “Nếu không thắng giặc Nguyên, ta sẽ không trở về con sông này nữa”. Bất giác, tôi tự nói thầm nếu không tìm được Tự Do, chắc mình cũng không thể trở lại được con sông này.