- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc

CÁM ƠN ĐẤT NƯỚC HOA KỲ - THANK YOU, AMERICA

08 Tháng Bảy 20265:41 CH(Xem: 5247)

Nơi Đất Ở
Hình Minh Họa - Nơi Đất Ở



LTS: Có những lời cảm ơn không chỉ dành cho một đất nước, mà còn dành cho số phận.

Nhân kỷ niệm 250 năm lập quốc Hoa Kỳ, Tiến sĩ Trần Kiêm Đoàn gửi đến Hợp Lưu bài tùy bút Cám Ơn Đất Nước Hoa Kỳ như một lời tri ân lặng lẽ của một người Việt đã sống gần nửa cuộc đời trên quê hương thứ hai.

Từ những trải nghiệm của người lưu dân, từ nỗi nhớ Việt Nam đến lòng biết ơn nước Mỹ, tác giả không biện luận mà chiêm nghiệm. Chỉ bằng một chữ thay trong câu thơ nổi tiếng của Chế Lan Viên – từ "chỉ" thành "mới" – ông đã gợi mở một cách nhìn đẹp về quê hương, về nơi chốn để sống và để thuộc về.

Khép lại bài viết là một câu nói giản dị nhưng chứa đựng cả một hành trình đời người:

"Hoa Kỳ là trái tim và Việt Nam là dòng máu."

Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc Hợp Lưu
TCHL

 

 

 

 

CÁM ƠN ĐẤT NƯỚC HOA KỲ

 THANK YOU, AMERICA

 

Tác giả: Trần Khiêm Đoàn

 

 

Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ.

 

Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.

 

Hôm nay, ngày 4-7-2026, Quốc Khánh 250 năm kỷ niệm ngày Ngày Độc Lập (Independence Day) của Mỹ, tôi thức dậy sớm và bên chén trà mai, viết đôi điều cám ơn nước Mỹ.

 

Nhiều bằng hữu từ Việt Nam mới qua vẫn thường bày tỏ sự ngạc nhiên vì rất ít khi thấy nhà nào treo cờ hay băng đèn trong các dịp quốc lễ như thế này.

 

Người Mỹ không thường treo nhiều cờ quạt, khẩu hiệu rợp đường như một số quốc gia khác, dù họ mừng Quốc Khánh rất lớn bằng pháo hoa, diễn hành, picnic, barbecue, ca nhạc và lễ hội. Lý do chính là vì tinh thần yêu nước của người Mỹ thường thiên về sinh hoạt tự do cá nhân hơn là hình thức tập thể có khẩu hiệu.

 

Họ mừng bằng cách tụ họp, ăn uống, xem pháo hoa, đi parade, nghe nhạc, mặc áo màu cờ Mỹ, hơn là treo khẩu hiệu chính trị. Ở Mỹ, treo cờ hay thể hiện mọi hình thức yêu ghét là quyền tự nguyện, không phải bổn phận bắt buộc. Văn hóa Mỹ rất ngại sự tuyên truyền hình thức nên tuy họ vẫn tổ chức mừng Quốc Khánh rất trọng thể, nhưng cách mừng của họ là vui, tự do, dân sự và gia đình. Nó phản ánh một văn hóa trong đó lòng yêu nước được để cho mỗi người tự biểu hiện theo cách riêng của mình. Đó mới chính là tinh thần cốt tủy về khái niệm Độc Lập, Tự Do trong Hiến Pháp Mỹ từ thời 1787 và 1791.

 

 

Mỗi lần chào mừng Quốc Khánh Mỹ, tôi lại nhớ Việt Nam với ước mơ gần trăm năm chưa thành là một ngày Quốc Khánh chỉ có niềm vui và chúc tụng; quanh ta và khắp năm châu không còn mảy may dấu vết phân hóa, hận thù. Mỹ là một nước của 50 nước và một quốc gia của hơn 200 nhóm chủng tộc trên toàn thế giới. Tôi suy niệm là muốn được thế thì nơi ta ở phải là nơi đất ở trọn vẹn như tâm trạng người lưu dân từ những ngày đầu tiên đặt chân lên đất Mỹ.

 

Ngày rời quê hương Việt Nam ra đi, tôi có mang theo trong gói hành trang tâm thức của mình hai câu thơ của Chế Lan Viên:

 

"Khi ta ở chỉ là nơi đất ở,

Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn."

 

Hai câu thơ mà những năm còn ở trong nước tôi thường suy ngẫm về cái tâm đi lạc giữa đời như Nguyễn Bính xưa với Huế: “Ở Ngự Viên mà nhớ Ngự Viên”. Và luôn cả những thi sĩ gạo cội của dòng thi ca truyền thống như trong thi ca thế giới, có nhiều thi sĩ đã diễn tả ý tưởng rằng một nơi chốn chỉ thực sự trở thành quê hương khi con người rời xa nó. Tuy nhiên, rất hiếm câu thơ nào đạt đến sự cô đọng và sức khái quát như hai câu thơ của Chế Lan Viên.

 

T. S. Eliot viết:

 

Ta vẫn miên du vĩnh cửu đi tìm

Tận cùng trong cuộc lữ lặng im

Có về quê cũ nơi cất bước

Mới hiểu ban đầu trong trái tim

 

(We shall not cease from exploration,

And the end of all our exploring

Will be to arrive where we started

And know the place for the first time)

 

Ý thơ cho thấy sau mọi cuộc hành trình, con người trở về nơi cũ với một tâm hồn khác, và chính lúc ấy mới thật sự hiểu và yêu nơi mình đã sống.

 

Hay như Kahlil Gibran lại viết:

 

Tình yêu nào biết nông sâu,

Phải chờ đến phút khởi đầu chia ly.

 

(And ever has it been that love knows not

 its own depth until the hour of separation.)

 

Phải chăng vì thế mà con người thường bị lạc loài với thực tại vì chỉ chỉ khi xa cách, con người mới nhận ra giá trị sâu xa của điều mình từng gắn bó.

 

Phương Đông và phương Tây đã thành lão hóa nên thường nhìn thực tại qua dĩ vãng "ở Ngự Viên mà nhớ Ngự Viên”; bởi vậy mà có những bóng dài nghìn năm không thay đổi; trong khi đó Mỹ như một vùng đất mới đón bước lưu dân: 

 

Ta ở nơi đây, ta thuộc chốn này

Nơi chiếm ngự lòng ta vừa bước tới

Mai đã có nhưng chân trời tươi mới...

Đón bước lưu dân thắp sáng một chân trời

 

(Here I am, and here I belong;

This place has shaped my heart so long.

Tomorrow waits beyond the blue,

With fresh horizons, wide and true.

                                James Hawley (Boat People)

 

Ở Mỹ hơn nửa cuộc đời, từ tuổi trưởng thành cho đến về già, trải nghiệm thực tế qua từng bước đi hòa điệu của đàn con cháu đã trưởng thành trong xã hội Mỹ trong suốt 44 năm qua từ ngày chập chững những bước đầu tiên cho đến lúc trưởng thành, tôi đã đi qua nhiều tiểu bang, cư trú nhiều nơi trên đất Mỹ và nơi đâu cũng là “nơi đất ở” trọn vẹn từ bước đầu đặt chân đến. Sự hòa điệu của con người với mạch đất về cả tâm hồn và thể chất không đợi đến khi xa rồi thì mới biết “khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn”!

 

Nếu có một giấc mơ hoang tưởng là được gặp lại Nhà thơ Chế Lan Viên (mất năm 1989), tôi chỉ xin phép được thay một chữ trong hai câu thơ nổi tiếng của Thi Sĩ cho hợp với hoàn cảnh của tôi: Tôi xin được thay chữ CHỈ bằng chữ “MỚI” trong câu:

 

"Khi ta ở CHỈ là nơi đất ở,

Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn."

 

Thành ra:

 

“Khi ta ở MỚI là nơi đất ở,

Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn.”

 

Nước Mỹ có gì khác nước Việt chăng?

 

Lưu dân đến Mỹ từ những ngày bình minh lịch sử cho đến lúc này đã nguyện lòng đến đất này để ở như vọng âm đầy thực tế và huyền thoại về biểu tượng Nữ Thần Tự Do:

 

LỜI NỮ THẦN TỰ DO

 

Hỡi người lưu dân, hãy đến đây và đừng sợ hãi.

Hãy mang theo quê hương cũ trong tim, nhưng hãy mở lòng đón nhận quê hương mới.

 

Nơi đây, người có quyền sống, quyền mơ ước và quyền tự chọn con đường đi tới. Hãy gieo xuống mảnh đất này những giọt mồ hôi, những ước vọng và tình yêu của mình.

 

Rồi một ngày, người sẽ hiểu:

 

Khi ta ở, mới là nơi đất ở,

Khi ta đi, đất bỗng hóa tâm hồn.

 

Tôi đã chọn xứ Hoa Kỳ làm nơi đất ở suốt 44 năm nay.

 

HAI THIÊNG LIÊNG: Hoa Kỳ là trái tim và Việt Nam là dòng máu.

 

Xin cám ơn đất nước Hoa Kỳ.

Thương nhớ Việt Nam.

 

Thủ phủ California July 4th 2026

Trần Kiêm Đoàn

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
12 Tháng Sáu 20194:37 CH(Xem: 46412)
Tôi tình cờ gặp F trong hành trình tour hai ngày một đêm tới Loch Ness, Scotland. F sinh năm 1985, đến từ Macao. F chủ động chào tôi khi bước lên xe bus, chắc do thấy tôi cũng là Châu Á. Trên đường đi, xe dừng lại cho khách ăn trưa, F hỏi tôi có muốn ăn cùng ko? Tôi gật đầu! Thế là thành bạn đồng hành.
13 Tháng Năm 20199:17 CH(Xem: 47712)
…Trong miền bụi đỏ mơ hồ đôi mắt ngây thơ vương giọt nước mắt làm dịu cái oi bức mùa hè cứ ám ảnh tôi qua bao giấc ngủ… Quãng đời ấy thật sự ngọt ngào. Chúng tôi đến trường trước hết là học làm người, sau đó mới là kiến thức. Tôi vẫn nhớ như in những câu cách ngôn mà mỗi sáng thứ hai thầy trang trọng viết lên đầu bảng và giảng giải ý nghĩa của nó cho cả lớp cùng nghe. Những câu ca dao, tục ngữ nói về công ơn cha mẹ, đối nhân xử thế, kính già yêu trẻ…
08 Tháng Tư 20191:46 SA(Xem: 49341)
Tôi không có tham vọng sẽ viết được hết về ba tôi, tôi chắc chắn không có đứa con nào có thể viết hết được về tình yêu của cha mẹ dành cho mình. Cái cách người đàn ông đó, lặng lẽ đi qua cuộc sống, vật lộn với nó, vắt kiệt mình cho công việc và để nuôi lớn một đàn con cháu, thật lạ lùng và kỳ diệu. Cái quá khứ âu yếm mà lặng lẽ của ba tôi, cuối cùng chỉ còn là những mảng ký ức.
31 Tháng Ba 201911:38 SA(Xem: 49720)
Mảnh giấy không đề tên người nhận, cũng chẳng ký tên người viết, song tôi thuộc tuồng chữ của Thiện, cái tuồng chữ với những phụ âm d, đ, t, th, k, kh, vân vân... đâm thẳng lên trời và cao hơn bình thường như muốn nổi loạn, và những nguyên âm thấp, cam phận, tự nén. Bên dưới hai câu thơ là dòng chữ vỏn vẹn: "Nếu không đoán được ai là tác giả của hai câu thơ trên thì sẽ không về nữa."
20 Tháng Hai 20198:42 CH(Xem: 50169)
Hôm nay, một ngày đầu năm, nơi tôi ở trời lấm tấm mưa và sương mù còn giăng mắc mặc dù đã 10 giờ sáng. Có lẽ không hạnh phúc nào bằng ngồi trước lò sưởi với ly cà phê và vài cuốn sách -- chính xác thì phải nói là với mấy Web sites sách điện tử, hay e-book, trên cái iPad. Bằng hữu ở xa, giờ già cả cũng ít hoặc hết còn đi thăm nhau được. Ngoài trao đổi điện thư ngày một thưa thớt, chỉ còn cái thú làm bạn với sách. Thú thật chưa bao giờ tôi đọc sách báo nhiều như những lúc về sau này.
25 Tháng Giêng 20198:02 CH(Xem: 51946)
Từ Huế ra đến Quảng Trị mấy ngày đầu năm 2019 là những ngày ủ dột mưa. Sau bài viết: Đi tìm bức tượng Mẹ và Con, tác phẩm bị lãng quên của Mai Chửng ở Hải ngoại. VOA 07.06.2018, tôi có ước muốn trở lại thăm Nhà thờ Đức Mẹ La Vang Quận Hải Lăng Quảng Trị, nơi đã từng có một quần thể tượng nghệ thuật tôn giáo của Giáo sư điêu khắc Lê Ngọc Huệ cùng đám môn sinh trong đó có Mai Chửng với chủ đề Mười Lăm Sự Mầu Nhiệm Mân Côi. (3)
03 Tháng Giêng 201910:50 CH(Xem: 46811)
Đêm ấy, một đêm Giáng Sinh rất lạ, sau ngày giải phóng đất nước một năm.1976. Là đêm Giáng Sinh thứ ba, tính luôn cái năm tôi đi sư phạm xa nhà, tôi không còn cùng bát phố với lũ bạn ngoại đạo trong cái thành phố nhỏ nhoi yêu mến tôi đã sống; nhưng vẫn da diết nhớ Giáng Sinh với những chiếc xe hoa lấp lánh, diễn hành dưới màn mưa lạnh, quanh mấy con phố nhỏ; những cỗ xe luôn mang đến một không gian tượi mới và tràn trề hy vọng. Khi còn hy vọng, là người ta còn mơ ước. Khi còn mơ ước,là người ta còn tin yêu cuộc sống này.Và người ta luôn trông chờ điều đó.
04 Tháng Mười Hai 201811:05 CH(Xem: 51609)
Từ một vùng đất hoang vu của dân tộc thiểu số thuộc bộ tộc K'Ho hiện nay, sau khám phá của bác sĩ Yersin (tháng 6 năm 1893), người Pháp đã quy hoạch và xây dựng lên thành phố Đàlạt. Đàlạt trở thành một trung tâm du lịch và giáo dục của Đông Dương trong nửa đầu thế kỷ 20.
11 Tháng Mười 201811:48 CH(Xem: 53890)
Lễ Quốc Tang của Chủ tịch nước Trần Đại Quang dù được tổ chức trọng thể tại cả ba nơi Sài Gòn, Hà Nội, Ninh Bình; và mặc dù nghĩa trang của ông rất lớn, nó chiếm một diện tích lên đến gần 30,000 m2, chúng ta vẫn thấy sự ra đi của ông rất mờ nhạt.
07 Tháng Mười 20189:13 SA(Xem: 53205)
Sinh ngày 6/10 Nhâm Ngọ, tức 13/11/1942, tại thôn “Me Vừng,” làng Phụng Viện thượng Hải Dương, Bình Giang, Hải Dương—nhưng trên khai sinh, đề ngày 6/0/1942—tôi có một lá tử vi khá kỳ lạ. Giáo sư Nguyễn Bỉnh Tuyên—một lãnh tụ Đại Việt Quốc Xã, thày dạy kèm chữ Pháp cho tôi trong hai năm Đệ Tam, Đệ Nhị (1957-1959)—nói tôi có số “ở tù;” nên “ở lính” có thể giải thích như ở tù. Mãi tới năm 1971, bác Phan Vọng Húc—bạn cha tôi ở Hải Dương, phụ thân nhà thơ Phan Lạc Giang Đông—mới đưa ra lời giải đoán khá chính xác: Tôi có số “Ngựa Trời,” sẽ xuất ngoại, đỗ đại khoa, và thọ tới hơn 70.