- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc

THOÁNG CHIM BAY

05 Tháng Sáu 20262:52 CH(Xem: 7609)

Trần Thị Nguyệt Mai

 THOÁNG CHIM BAY

  

 

* Tưởng nhớ hai năm ngày mất

của anh chị Trần Hoài Thư & Nguyễn Ngọc Yến.

 



Tran Hoai Thu - TTNMai
Trái: Nhà văn Trần Hoài Thư ngồi khâu di sản văn chương Miền Nam

Phải:  Anh chị Trần Hoài Thư – Nguyễn Ngọc Yến

 

Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.

       Anh yêu chị nhiều lắm. Những ngày chị nằm bệnh, anh chăm sóc, lắng lo. Không phải đôi ba ngày hay đôi ba tháng mà gần 12 năm. Từ một người chưa bao giờ phải nấu ăn, anh đã tìm tòi, học hỏi nấu thức ăn Việt dặm thêm gia vị tình yêu để mỗi ngày hai bận mang vào nursing home cho chị. Cứ như vậy trong suốt thời gian chị nằm bệnh cho đến thời đại dịch Covid-19 phải chịu cách ly... Chị không ăn được đồ Mỹ, cộng thêm có quá nhiều cư dân ở đó, y tá đâu thể đảm đương việc ăn uống cho từng bệnh nhân đầy đủ như anh lo cho chị trước đây. Dần dà chị mất khả năng nhai, nuốt. Nên từ đó chị phải sống nhờ G-tube đưa thức ăn vào thẳng bao tử và anh cũng “mất job” nấu ăn... Sau tang lễ vào đầu tháng 6/2024, chúng tôi cùng ghé đến thăm căn nhà của anh chị lần cuối. Có quý anh Phạm Văn Nhàn, Tô Thẩm Huy, Nguyễn Đình Hiếu, quý anh chị Phạm Cao Hoàng – Cúc Hoa, Nguyễn Minh Nữu – Kim Mai, các con của nhà văn Doãn Dân và những thân hữu quý mến anh cùng gia đình các cháu Thoại, Hưng. Tôi thật cảm động khi bắt gặp cuốn sách dạy nấu ăn nằm chơ vơ trên chiếc bàn phụ nhỏ dưới tầng hầm, nơi chốn thân thương từng gắn bó mỗi ngày với anh. Từ đây, anh đã cho ra đời tạp chí văn học nghệ thuật Thư Quán Bản Thảo (TQBT) vào tháng 9/2001, hồi phục những tạp chí văn học Miền Nam qua dạng flipbooks phổ biến trên trang blog Trần Hoài Thư cũng như in ấn Di sản Văn chương Miền Nam với biết bao công lao khó nhọc của anh chị đi sưu tầm tài liệu từ thư viện các Đại học Cornell (Ithaca, New York) và Yale (New Haven, Connecticut) của Hoa Kỳ.

        “... 4 giờ sáng mồng 7 Tết Tân Mão, bắt đầu rời nhà. Rời nhà khi trời còn đen tối, khi tuyết bão, khi trời sương mù dày dặc. Khi chúng tôi đến Scranton, cách thư viện Cornell khoảng 50 dặm, vào lúc 8 giờ sáng thì đường đông đá. Chiếc xe đầu chạy chậm lại khiến tôi, quen như một phản xạ, cũng đạp thắng và đạp rất nhẹ. Vậy mà xe đã mất điều khiển trợt tự do. Hết trái, rồi qua phải, không thể kiềm chế nó nổi. Trong khi đó phía đường ngược chiều nằm phía bên trái, một chiếc xe truck chạy ngược lại. Tôi chỉ còn biết nhắm mắt...”

[Rong bút – Trần Hoài Thư – tr. 5 (TQBT số 46 tháng 4/2011)].

      

       Kỷ niệm của những ngày phụ anh thực hiện những số TQBT lại hiện ra trong trí. Với sự tiến bộ của khoa học, email và máy tính đã giúp chúng tôi thực hiện những cuốn báo rất dễ dàng mà không cần phải cùng ngồi làm việc trong một tòa soạn nơi có những máy in to lớn cùng những người thợ sắp chữ. Tôi đọc bản thảo, đôi khi anh nhờ đánh máy bài vở trong những tài liệu văn chương mà lúc chưa bị bệnh, chị Yến đã cùng anh lái xe đến các thư viện để sưu tầm những di sản văn chương miền Nam. Nhắc lại thời kỳ này, anh luôn nói đến chị bằng giọng rất thương yêu, trìu mến: “Tội chị lắm em, chị giành lái xe vì mắt anh cận thị nặng không thấy rõ. Và chị hát suốt trên đường ru anh ngủ”.  

Nhớ em, bài hát đường về

Em ơi, tiếng hát bây giờ tìm đâu?

(Trần Hoài Thư – Tiếng Hát)

 

Mỗi lần thực hiện xong một số báo, anh rất vui. Như niềm vui của người vừa gặt hái xong cánh đồng chữ nghĩa, bội thu những hạt vàng mẩy, chắc, lóng lánh. Hãy nghe tiếng reo vui của anh:

Con tôi đã thức dậy rồi

Đang thi nhau nhả những tờ giấy in

Đứa dưới hầm, đứa ở trên

Đứa chạy chậm, đứa “run” nhanh cấp kỳ

Đứa chớp đèn báo bị jammed

Đứa cho biết giấy đã vơi cạn rồi

Vậy mà vui quá là vui

Hình như xuân cũng về rồi, bạn ơi

Con tôi đã thức dậy rồi

Thư Quán Bản Thảo sắp ra đời, bà con!

(Trần Hoài Thư – Con tôi đã thức dậy rồi)

 

       Trong một trả lời phỏng vấn của nhà văn Trần Doãn Nho, anh THT giãi bày:

        “... nếu người đọc muốn biết về văn chương và tác giả trước 1975, thì sách báo đâu mà đọc? ... sau 1975, văn chương về người lính miền Nam đã bị tận diệt. Sách vở tạp chí bị đốt hủy thì lấy chứng cớ đâu để nói lên tính cách nhân bản của nền văn học thời chiến... Bộ máy nhà nước cũng như mấy ông nhà văn nhà thơ trong hàng ngũ thắng trận luôn luôn trắng trợn vu cáo văn chương chúng tôi là văn chương thực dân kiểu mới, là văn chương đồi trụy, nọc độc văn hóa, vân vân để những khối óc ngây thơ luôn luôn bị tiêm nhiễm. Tôi biết có người sẽ bảo chuyện cũ mấy mươi năm rồi vẫn còn nhắc lại, mất thì giờ. Nhưng sự thật ai trả lại cho chúng tôi đây, hở? Ai biện hộ giùm cho những lời vu cáo người lính thám báo được viết trong Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh hay trong Cõi người rung chuông tận thế của Hồ Anh Thái? Ai?

       Chẳng hạn đoạn sau đây của Hồ Anh Thái trong truyện ngắn vừa nói:

“Cuối cùng, điều Hoa không ngờ đã tới. Cô chỉ nghĩ rằng bọn thám báo sẽ lôi Hùng đi làm tù binh để tiếp tục lấy khẩu cung. Nhưng thằng cầm con dao găm của anh đã cúi xuống rạch một đường thành thạo trên bụng Hùng. Anh quằn quại hét lên một tiếng rùng rợn. Ở trên cao, Hoa nghiến chặt răng gần như ngất đi. Hai thằng kia đè chặt chân tay Hùng cho thằng mổ bụng moi tim gan ra. Chúng nổi lửa nướng tim gan ăn ngay tại chỗ. Hai hột tinh hoàn thì được phân chia cho hai thằng chắc là cấp cao hơn.”

       Vai trò thám báo là tuyệt đối giữ bí mật để làm nhiệm vụ săn tin hay chỉ điểm máy bay oanh tạc đơn vị địch. Họ bị đẩy vào những chỗ mà có lẽ mỗi lần ra đi là ít khi có ngày về. Bởi không ai có thể bảo vệ họ được trừ họ. Vậy mà ở đây, cảnh năm tên thám báo bắt một tù binh loại chính quy, nhởn nhơ với một bữa yến tiệc ăn tim gan và tinh hoàn người, giữa thanh thiên bạch nhật, đầy ổ kiến lửa (chúng tôi hay dùng cụm từ này để chỉ một mục tiêu khó nuốt, thường ám chỉ nơi có sự xuất hiện đơn vị chính quy Bắc Việt). Lại tỉnh bơ nổi lửa đốt cho khói bốc lên để ‘lạy ông tôi ở bụi này’! Biết viết văn là bịa, nhưng bịa vừa vừa thôi chứ, ông Hồ Anh Thái ơi. Và thiên chức nhà văn ở đâu? Bịa trắng trợn như thế ai mà tin được!

       Tôi bỗng liên tưởng đến những giọt nước mắt chảy trên má của người tù binh nào đó của chiến trường Bình Định vào những năm cuối của thập niên 60, như qua bài thơ của Trang Châu sau đây:

 

Nước mắt kẻ thù

 

nó bị thương

bị bắt sống

mọi người đòi giết nó:

nó núp trong hầm

với một khẩu tiểu liên

cầm chân cả trung đội:

nó bắn ngã chúng tôi một người

bắn bị thương hai người khác

tôi đọc nét căm hờn

trên những khuôn mặt đồng đội

mọi người đòi giết nó

tên du kích vùng khốn nạn

gài lựu đạn lùm cây bờ ruộng

giết những người bắt cá mò tôm

 

nó nằm đó

mình bết bùn

máu cánh tay nhầy nhụa

tránh những tia nhìn nổ lửa

những báng súng gờm gờm

nó nằm chờ

một phát súng vào đầu

một lưỡi dao rạch bụng

một cái đạp xuống hố sâu

nó nằm chờ nằm chờ

tử thần

 

nhưng

chỉ có bàn tay vuốt dịu căm hờn

bàn tay băng bó vết thương

bàn tay vỗ về an ủi

nó nằm chờ tử thần

sững sờ bắt gặp tình thương

đồng loại

đôi mắt sát nhân vụt bỗng hiền từ

nhen hai dòng lệ nhỏ

 

trong cuộc chiến hôm nay

cho tôi xin chiến đấu không hận thù

xin những vết thương bình đẳng

cho tôi đổi một trăm chiến thắng

lấy một giọt nước mắt kẻ thù

 

Trang Châu (Bên bờ Kinh Sáng 17-2-67)

(trích trong Dấu vết chiến tranh)

 

       Ôi cho tôi đổi một trăm chiến thắng lấy một giọt nước mắt kẻ thù! Còn gì là nhân bản hơn, còn gì tình người hơn. Không phải lời ước ao trên phát xuất từ một y sĩ tiền tuyến là Trang Châu, nhưng nó phát xuất từ trái tim của Miền Nam. Đó là bản chất của con người. Đó là cõi lòng thấm đầy Chúa và Phật. Không phải như từ trái tim đen từ những kẻ sống chỉ biết căm thù! Và căm thù mãi mãi!”

 

       Anh yêu văn chương, yêu chữ nghĩa, yêu cái đẹp trong từng con chữ, từng lời văn, từng câu thơ. Và muốn chia sẻ những nét đẹp đó cho tất cả mọi người.

       Dưới đây là những dòng trích từ Thư Tòa Soạn của Giai Phẩm TQBT số 98, tháng 5/2022:

        “Truyện của Sơn Nam rất nhiều, đăng rải rác trên các nhật báo hay tuần báo thủ đô.

Mặc dù có sự nỗ lực tìm tòi để cho ra đời ba tuyển tập truyện ngắn Sơn Nam, nhưng vẫn có một số nhiều truyện không tìm thấy trong các tuyển tập này.

Nhận thấy nếu không sưu tập là cả một thiệt thòi rất lớn cho nền văn học nước nhà, nên chúng tôi cố gắng cho ra đời giai phẩm 98 Thư Quán Bản Thảo để đăng lại một số truyện quý hiếm của nhà văn Sơn Nam mà chúng tôi tìm thấy trên tuần báo Tiểu Thuyết Thứ Năm...”

 

Hay khi thực hiện xong Giai Phẩm TQBT tháng 12-2023, chủ đề Mai Thảo – Hạt Vàng Đã Mất, sưu tập những bài tùy bút, tạp ghi, nhận định văn học của Nhà văn Mai Thảo xuất hiện trên tuần báo Khởi Hành, Nghệ Thuật, Vấn Đề, anh tâm sự:

Tôi đâu còn hơi còn sức như ngày nào

Khuân một ít đồ phải thở hào thở hển

Chân đi nay không còn vững

Ngón tay rã rời như không còn thuộc về ta!

Vậy mà điên rồ in sách báo tặng free

Muốn chia sẻ những niềm vui chữ nghĩa

Mới tháng trước vừa ra lò 32 bài văn Mai Thảo*

Thì giờ đây sắp Mai Thảo Hạt Vàng **

Tuổi già ai ai cũng muốn tẩy trần

Tôi lại đem nia đi đãi sàng tìm ra ngọc quý

Mang chiếc giỏ nặng ra ngoài bưu chính

Thấy ánh mắt cô quầy

lòng cũng đủ vui…

(Trần Hoài Thư – Khiêng Giỏ Sách Ra Bưu Điện)

      

       Tạp chí TQBT cũng là nơi anh Trần Hoài Thư lên tiếng bênh vực cho người đã khuất nhưng cô thế, để phục hồi danh dự cho tác giả. Như trường hợp dịch giả Phùng Thăng. Bà tên thật Công Tằng Tôn Nữ Phùng Thăng, sinh năm 1943 tại Huế trong một gia đình hoàng tộc rất mộ đạo Phật. Là em ruột của cố Ni trưởng Thích Nữ Trí Hải (tên thật Công Tằng Tôn Nữ Phùng Khánh) - một danh ni uyên bác của Phật giáo Việt Nam. Phùng Thăng là giáo sư triết học, cùng với chị gái Phùng Khánh, là dịch giả của một số tác phẩm triết học, văn học và tâm linh nổi tiếng đương thời. Giáo sư Thái Kim Lan nhận định: “Quả thật tư tưởng và tác phẩm cũng như hành trạng của họ không những mang lại vẻ cẩm tú trên văn đàn miền Nam thời đó mà còn soi sáng trí tuệ và tâm thức của thế hệ đồng thời.” (Thái Kim Lan – Phùng Khánh và Phùng Thăng: Lộ trình suy tư triết học – phác họa hiện tượng luận tình yêu – TQBT số 71)

 

       “Chỉ khoảng một tháng sau khi Những Ruồi được phát hành thì bị Trần Thiện Đạo (TTĐ) dùng nguyệt san Văn để “phang” nặng nề qua bài viết “Tìm hiểu vở kịch Les Mouches của Jean-Paul Sartre (nhân đọc bản dịch của Phùng Thăng)”. Bài đăng hai kỳ trên nguyệt san Văn tháng 11, tháng 12, dày tất cả khoảng 50 trang, khổ chữ nhỏ. Bài được người viết ghi là hoàn tất vào cuối tháng 9/1967.

       Đặc biệt, kỳ 2 ông dành trọn bài để phang Những Ruồi: Nào là “một cái kho chất chứa chật ních và đầy đủ hết mọi lỗi lầm trong phép dịch văn”, “bản dịch vừa phản vừa diệt”, “khinh thường độc giả và miệt thị giới phê bình tới độ ấy”, “dịch chữ không dịch tinh thần câu văn”, “cắt bỏ không dịch”, “cái giọng đặc Tây”, ngớ ngẩn”, chối tai”, “một thứ giấy khống chỉ…”, “cẩu thả”, “sai bét”, “ngờ vực cái vốn liếng Pháp ngữ”, “không giữ tánh cách Việt Nam”, “vô nghĩa”, “thiếu nghĩa”, “tối nghĩa”, “lòng thòng”, “dịch ẩu”, “dịch càn”, “sai cả mẹo luật tiếng Việt Nam”, “lối dịch đầu-gà-đít-vịt”, “Chưa lãnh hội thấu đáo mẹo luật Pháp”, v.v…. Ông xả tiểu liên, trung liên, AK, M16, B40. Ông tấn công đủ mặt, từ trang đầu đến trang cuối… Vây chặt, càng vây càng pháo…

Có điều ngạc nhiên là chẳng thấy một nhà trí thức, nhà văn,  nhà thơ hay phê bình nào thời ấy động lòng trắc ẩn lên tiếng bênh vực Phùng Thăng!

(THT – Khi nghĩa tử không là nghĩa tận – TQBT số 71, tháng 8/2016)

 

       Thời trước không ai lên tiếng bênh vực dịch giả Phùng Thăng. Sau này mới có Nhị Linh dành những lời khen ngợi cho bà. Riêng anh THT đã trân trọng và hết lòng “theo dấu chân Phùng Thăng qua kinh nghiệm của một cựu trung đội trưởng thám kích: bằng sự thu nhặt tin tức, đúc kết, đánh giá” để “vực dậy di sản văn học miền Nam, vực dậy sự thật”, để rồi ba số báo TQBT với chủ đề Phùng Thăng lần lượt ra đời:

       - TQBT số 59, tháng 3/2014 – Theo dấu Phùng Thăng

       - TQBT số 71, tháng 8/2016 – Chiều đầy bông Phùng Thăng

       - TQBT số 105, tháng 4/2023 – Phản phê bình Trần Thiện Đạo và Thụy Khuê về dịch phẩm Những Ruồi của Phùng Thăng của tác giả Chơn Hạnh Trần Xuân Kiêm

       Bên cạnh việc phát hành TQBT, Thư Ấn Quán cũng tái bản hai dịch phẩm của bà trong tủ sách Di sản Văn chương Miền Nam:

       - Những Ruồi (nguyên tác Les Mouches của Jean-Paul Sartre)

       - Kẻ Lạ ở Thiên Đường (nguyên tác Attente de Dieu của Simone Weil)

để độc giả thấy được một dịch giả Phùng Thăng rất tài hoa, không như lời mạt sát nặng nề của TTĐ.

 

       Đối với anh THT, tạp chí TQBT như một mái nhà để anh em bằng hữu họp mặt, đóng góp, chia sẻ văn chương. Anh không quản công in ấn, đóng gói gửi tặng bạn bè thân hữu. Ai muốn đóng góp tem thư hay tiền bạc phụ giấy mực in với anh cũng tốt, không có cũng chẳng sao. Tuy thế, lúc sinh thời, anh rất buồn mỗi khi tạp chí TQBT bị trả về vì không có người nhận mà anh hoàn toàn không biết lý do. Có thể vì họ đã đáp chuyến tàu hoàng hôn ở cuối cuộc đời, hoặc đã dọn nhà đi xa không lời thông báo... Một nỗi buồn khác là khi độc giả đã nhận được sách báo hay tài liệu anh gửi tặng nhưng rồi ít lâu sau lại phủ nhận và yêu cầu anh gửi lần nữa, khiến anh thật không hiểu... Anh cũng tâm sự, có khi bài viết gửi cho tạp chí TQBT, thay vì ca ngợi người Thầy đáng kính, tác giả lại có ý nâng mình lên, nên anh đã rất tiếc không thể đăng những bài như thế...

 

       Lễ Đại tường năm nay cũng là ngày cháu Thoại xả tang ba mẹ. Ngoài cha, vợ con là những người anh yêu thương, trân quý nhất. Có lần anh chia sẻ, “Chị Yến và Thoại là quà tặng văn chương cao quý mà cuộc đời mang đến cho anh, hơn cả giải thưởng Nobel về văn học”. Ở đầu tập thơ cuối cùng phát hành tháng 4/2024, anh ghi lời đề tặng: “Cho em và con – hai nguồn thơ vô tận, đồng thời cũng là chiếc phao giúp ta mưu sinh và thoát hiểm. Qua em, anh tập therapy về tình yêu. Qua con, với những viên thuốc mầu nhiệm.”

 

Tôi chợt nhớ những câu thơ của Hương Hải Thiền Sư:

“Nhạn quá trường không

Ảnh trầm hàn thủy

Nhạn vô di tích chi ý

Thủy vô lưu ảnh chi tâm”

Anh chị đã đến với cuộc đời này và khi ra đi cũng không có ý để lại dấu như chim nhạn kia. Nhưng những công trình phục hồi văn chương Miền Nam của anh chị sẽ mãi còn đó, trên những kệ sách thật và ảo cũng như trong tâm biết bao người Việt yêu mến văn chương.

 

Trần Thị Nguyệt Mai

22-05-2026

 

-----

 

* Ấn bản đặc biệt Tạp chí TQBT, tháng 5/2021:  Mai Thảo – Bài viết ở trang cuối

** Giai Phẩm TQBT tháng 12-2023:  Mai Thảo – Hạt vàng đã mất

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
26 Tháng Bảy 202512:13 SA(Xem: 14943)
Hồi mình sinh con gái bé Kim, rút kinh nghiệm từ đứa con đầu lòng là cu Vũ mình bị tắt sữa đến áp xe vú. Đến đứa này sữa cũng căng đầy mà không bị gì cả, con bé bú trực tiếp vú mẹ no nê.
29 Tháng Năm 20251:06 SA(Xem: 20139)
Ở đâu tôi không biết chứ ở làng quê tôi, điều này đến thế hệ mình ít thấy được duy trì cách gọi này. Thôi thì con cái họ, họ cứ gọi tên cũng được, không sao! Nhưng với người khác nhất là anh em họ hàng nhưng họ lớn tuổi hơn mình thì cần lưu ý cách xưng hô cho lịch sự, dễ nghe để hiệu quả giao tiếp được tốt hơn.
20 Tháng Năm 202512:46 CH(Xem: 17616)
Tin anh Trần Hoài Thư mất đã được nhà thơ Phạm Cao Hoàng thông báo cùng bạn bè đúng một tháng sau ngày chị Nguyễn Ngọc Yến, người vợ dấu yêu của anh ra đi (27-4-2024), vào sáng ngày thứ Hai 27-5-2024 cũng là ngày lễ Chiến sĩ trận vong (Memorial Day) của Hoa Kỳ. Một trùng hợp thật ngẫu nhiên. Nhà văn nhà thơ Trần Hoài Thư là một sĩ quan thuộc QLVNCH ngày xưa và khi định cư ở Mỹ, anh cũng là một chiến sĩ trên mặt trận văn hóa, đã cùng anh Phạm Văn Nhàn, một đồng đội và bạn văn thời trước, xuất bản tạp chí Thư Quán Bản Thảo và thành lập nhà xuất bản Thư Ấn Quán với chủ trương khôi phục và vực dậy di sản văn chương miền Nam. Nay thì người Chiến sĩ ấy đã trận vong. Thật buồn!
18 Tháng Năm 202511:27 CH(Xem: 18649)
Ngày 06.05.2010, cách nay 15 năm, tôi mất một người bạn thân và quý ở Hà Nội. Đó là anh Hoàng Cầm. Hoàng Cầm và Thái Bá Vân là hai người bạn HN mà tôi có tình thân và quý mến từ những năm 1990. Tình cảm này đã gây trong tôi những xúc động sâu xa khi mất đi các anh. Tôi không làm Thơ theo lối “khóc bạn” cổ điển. Những bài Thơ viết về các bạn đã mất là những cảm xúc của một tình bạn tuy không gian cách xa, nhưng rất gần gũi trong Tình, trong Thơ.
28 Tháng Tư 20258:55 SA(Xem: 20083)
Sau 30 tháng 4 năm 1975, tôi chơi thân với nhỏ Ca. Hồi ấy nhà trường ra thông báo yêu cầu mỗi học sinh phải tự viết lý lịch cá nhân để nộp cho trường./ Đó là lần đầu tiên tôi cầm bút để viết lý lịch, năm đó tôi đang học lớp mười. Tôi tưởng giúng như lưu bút, viết thật ý tưởng về mình thích những điều vẩn vơ mơ mộng thời con gái vv... Nhưng thực tế thì không như vậy, vì trong lý lịch buộc phải khai rõ về cả cha mẹ mình./Nhỏ Ca viết xong lý lịch nó ghé mắt nhìn vào lý lịch của tôi rồi la lên: -Thành phần gia đình mầy phải ghi là "Bần cố nông" như tao nè! / Tôi nhìn sang các bạn chung quanh, ai cũng cùng rập khuôn ghi thành phần gia đình là bần cố nông. /Tôi thấy từ lạ quá, tôi không hiểu mặt ngớ ra./ Nhỏ Ca giải thích: -Mầy phải điền là "bần cố nông" thì mấy ông cách mạng khỏi bắt ba má mầy hiểu chưa.
27 Tháng Tư 202511:36 CH(Xem: 20302)
'BẾN BỜ' là một hành trình đầy cảm xúc, kéo dài suốt nửa thế kỷ (1975-2025). Giai điệu bài hát mặc dù khởi phát từ bối cảnh năm 1963, nhưng khi áp dụng vào bối cảnh vượt biên của hàng trăm ngàn người Việt sau 30/4/75, cũng có ba phần: hoạn nạn, giải thoát và kết thúc. Chỉ khác phần kết thúc, vượt biên thì hân hoan xây dựng đời sống mới, còn sau đảo chánh 1/11/63 thì tình hình lộn tùng phèo… Để ý, khi tái lập giai điệu, thay vì chỉ đổi nhịp cho Điệp Khúc như Lam Phương chỉ dẫn, tôi đã đổi nhịp cho toàn bộ bài hát từ 4/4 qua 2/4 và chọn Slow Rock thay vì Ballad hoặc Cha Cha Cha…
26 Tháng Tư 202510:45 CH(Xem: 14569)
Hồi ký này tôi viết từ rất lâu, nhưng chưa từng phổ biến vì nhiều lý do. Nay, sau 50 năm nó không còn tính thời sự nữa, tôi xem lại, sửa chữa những sai sót và cho phổ biến như là một tài liệu mà tôi là chứng nhân. Tôi không phải là văn sĩ, cũng không là ký giả viết phóng sự nên văn vẻ võ biền, luộm thuộm, xin mọi người niệm tình tha thứ. Tôi cam đoan viết lại những điều mắt thấy tai nghe, mốc thời gian được ghi lại cẩn thận qua kinh nghiêm viết nhật ký hành quân khi còn làm ban ba tiểu đoàn tác chiến. Để mở đầu, trước tiên tôi xin giới thiệu cái “Tôi” đáng ghét ở đây, đó là điều bất đắc dĩ, vì cái "tôi” là nhân vật chính, là một chứng nhân kể lại những gì đã xảy ra, trong hồi ký này, và để người đọc biết được cơ duyên nào tôi có mặt tại đó.
24 Tháng Tư 20252:14 SA(Xem: 22681)
Khi nào thì chúng ta- những người bạn, người thân,.. tâm sự cùng nhau, chia ngọt sẻ bùi? Người ta thường nói: Chia vui để được vui hơn, chia buồn để nỗi buồn vơi đi. Điều đó đúng với người thật sự là bạn, người thân, tri kỷ. Nhưng khi trải lòng, trút cạn nỗi niềm cần đúng người đúng việc và đối tượng chia sẻ là với những người tin cậy, đối xử với nhau thật sự chân thành. Có người nghe với thái độ thờ ơ, hờ hững hoặc lãng tránh: “Câu chuyện của mày không liên quan đến tao nhá!”
16 Tháng Tư 20253:38 CH(Xem: 22037)
Tuổi đã về chiều. Cải tuổi dần hiểu đời sâu đậm hơn trong tháng ngày còn lại bên đời, để biết mình không còn trẻ nữa và thời gian ngắn dần lại. / Năm ngày trước. Buổi sáng thức dậy tôi bỗng bị choáng váng cả đầu. Có lẽ là do huyết áp tăng sao?/ Tôi cố nhớ, mình đã không ăn thức ăn nhiều đạm và nước chấm mặn quá thì không thể do huyết áp. / Nhưng tôi cũng uống một viên huyết áp, cộng một viên trợ tim, rồi cho rằng mình ổn nên đi ra đường cùng con cháu. Khi về nhà tôi nấu cơm cho các cháu, tôi giặt và phơi đồ rồi lau nhà và bưng chậu, đem hoa đi phơi, đi tưới. Tôi nghĩ chắc sẽ không sao đâu! / Cho đến khi tôi thắp hương lạy Phật thì đầu óc bỗng quay cuồng và tôi té xuống dưới đất bất lực không ngẩng lên được, phải điện thoại cho con gái về. Và nó đưa tôi đi bịnh viện.
15 Tháng Tư 202511:27 CH(Xem: 21059)
Tôi đã trở lại Mỹ vừa tròn một tháng, sau chuyến về thăm quê hương dài ngày. Cưỡi mây lướt gió, tổng cộng hơn 20 tiếng đồng hồ, suốt chặng đường dài nửa vòng trái đất, chỉ một lần chuyển máy bay ở Đài-Bắc, Đài-Loan. Với tuổi đời khá cao, giờ giấc khác biệt, nên tôi cần một thời gian điều chỉnh để sống lại đời bình thường. Quê hương tuy xa rồi nhưng vẫn còn đó. Những ghi nhận, những suy tư, cảm xúc; những tao ngộ khó quên; những ước mong đã thành hiện thực; vẫn còn đây, còn trong trí tưởng, chưa phai mờ. Lòng tôi chất đầy luyến lưu thương nhớ khi rời xa và hòa quyện với những niềm vui khó tả. Đôi lúc tôi tự trách: đã một tháng trôi qua mà đầu óc còn mơ mơ màng màng, mgười bồng bềnh như đi trên mây, ngẩn ngơ ngơ ngẩn; đáng tiếc nhất là chưa ghi lại một dòng chữ nào, chưa đem tâm tình trải dài trên trang giấy.