- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc

TÌNH TỰ CHO MỘT QUÊ HƯƠNG

03 Tháng Hai 20254:56 CH(Xem: 17488)
nck- can nha dau tien
Căn nhà đầu tiên 1975. Hình tác giả cung cấp





Nguyễn Công Khanh

TÌNH TỰ CHO MỘT QUÊ HƯƠNG

 



Nhớ lại 50 năm trước, một điều dĩ nhiên là thế giới không phải như ngày hôm nay, nước Mỹ không phải như ngày hôm nay và người Việt ở Mỹ hay ở khắp các nơi cũng không hẳn là người Việt ngày hôm nay. Trong thời gian ấy, ít nhất hai thế hệ mới đã ra đời.

Nhớ lại 50 năm trước, đêm cuối cùng, một phép lạ đã đưa chúng tôi lọt được vào quân cảng Saigon và trèo lên được chiếc chiến hạm cuối cùng đang nằm ụ, bỏ nước ra đi. Những ngày dài chen chúc nhau trong một con tầu chết máy trôi trên biển mãi mới đến được đảo Guam. Những ngày lang bạt, tất tưởi rời trại này qua trại khác, cuối cùng được đưa vào vào đất liền, và tạm trú tại Camp Pendleton trại Thủy Quân Lục Chiến miền Nam Cali. Trại trải dài hàng cây số, với hàng trăm căn lều vải đón nhận hàng trăm ngàn người tị nạn.  

Lúc đó, còn có nhau, ngủ trên ghế bố nhà binh chung lều, ngày ba bữa xếp hàng đi ăn, còn lại ngoài giờ thì đi từ trại này sang trại khác tìm người thân, lo cho những người ở lại, và chờ gọi lên làm thủ tục, đợi xem có ai bảo trợ ra bên ngoài định cư. Nghĩ đến đó, ai cũng cũng có cùng một suy nghĩ vừa mừng vừa lo âu, mừng là mình sẽ có một cuộc đời mới, lo là mình sẽ bị tách rời khỏi đồng bào mình để đưa đi mất hút vào một miền đất mới lục địa mênh mông.

Cuối cùng, sau hơn ba tháng chúng tôi được một nhà thờ Baptist tại một vùng lân cận Seattle bảo trợ.  Vợ chồng ông bà mục sư cùng một vài người của nhà thờ ân cần đón chúng tôi tại phi trường và đưa đến một căn nhà có 4 phòng tại một thành phố nhỏ gần đó. Họ cẩn thận chu đáo lo mọi thứ cho chúng tôi, gần như đủ cả, giường, bàn ghế, chăn gối sạch sẽ, lại có cả máy giặt và máy sấy, tủ lạnh thì đầy thức ăn cả tuần… Hàng ngày, họ đến giúp đỡ và hướng dẫn hội nhập vào đời sống mới. Chúng tôi cám ơn họ suốt đời, nhiều người không còn nữa và nhiều người chúng tôi đã đến dự tang lễ cuối cùng của họ. 

Qua suốt một ngày di chuyển khá mệt, buổi sáng đầu tiên, chúng tôi thức giấc muộn. Đó là một buổi sáng mùa Hè, nhưng vẫn cảm thấy lạnh. Tôi ra khỏi phòng, mở cửa nhìn ra bên ngoài, ngỡ ngàng trong một thinh không không tiếng động, một không gian không một bóng người, không thấy một chiếc xe chạy qua. Cái không gian vắng lặng này tôi nghĩ vẫn không thay đổi trong nhiều khu phố tại Mỹ cho tới ngày hôm nay.

Những người hàng xóm đầu tiên mà chúng tôi tiếp xúc là những đứa trẻ hàng xóm hiếu kỳ lân la đến đứng xa nhìn, nhưng chỉ ít ngày sau, chúng tôi làm quen được và các con chúng tôi ra chơi với chúng.  Tôi còn nhớ một kỷ niệm khó quên, là chúng muốn tôi dậy cách cầm đũa. Tôi tin rằng những trẻ này thời ấy chưa bao giờ được bố mẹ đưa đi ăn cơm Tầu và đây là lần đầu thấy có người dùng đũa để ăn. Bài thi cuối cùng trong lớp huấn luyện đó là, tôi đưa cho mỗi đứa trẻ một đôi đũa và đặt mấy hòn bi ve tròn thủy tinh trên một cái đĩa. Đứa nào gắp được lên hai lần là đỗ. Sau một hồi chật vật, một đứa đầu tiên sung sướng hét lên “I did it, I did it!”. Tôi cũng sung sướng không kém vì đã làm tròn nhiệm vụ. Tôi tặng cho chúng đôi đũa và còn muốn ký trao cho chúng “Chứng Chỉ Cầm Đũa”.  

Tôi còn muốn viết thêm những gì đầu tiên, chân ướt chân ráo trên một miền đất xa lạ, bao la.  Người Việt Nam đầu tiên tôi đã gặp. Chén nước mắn đầu tiên mà mấy tháng trời không có trong bữa ăn đã khiến tôi phải cầm lên húp một hơi và ngồi một lúc lâu để cái chất mặn của quê hương ấy thấm dần vào cơ thể. 

Những bát phở đầu tiên, những bát phở dò dẫm, khám phá ở nhà hay của bạn bè. Mọi người quây quần, vừa ăn vừa khen. Người thì gật gù, giọng khuyến khích: “Cũng gần giống phở”, người thì nhiệt thành hơn, kêu: “Giống quá!  Giống quá!” và ngậm ngùi nhớ đến những bát phở ở nơi mà mình vừa rời bỏ.

Nhớ đến cái Tết đầu tiên, hai vợ chồng chúng tôi làm một bàn thờ nhỏ, thắp hương cúng vọng tổ tiên ở quê hương xa. Tối đó tuyết vừa tan, tôi lái xe đưa gia đình đến họp mặt đầu năm, đồng bào từ các thành phố lân cận tụ họp đông nghẹt cả hội trường lớn. Cô ca sĩ Thanh Thúy được mời từ Cali lên, áo lạnh khoác bên ngoài dầy cộm, lướt mướt từ bên ngoài bước vào.  Những bài cô hát tối nay, nghe rất quen thuộc mà tôi đã được nghe bao nhiêu lần từ bao nhiêu năm qua, sao lần này nghe thấy rưng rưng khôn tả, muốn khóc.

Chiếc xe đầu tiên tôi có là một chiếc xe cũ đời 62, tôi đã lái đi quanh vùng thăm bạn bè, dự các buổi họp cộng đồng và đúng là “Điếc không sợ súng” đã dùng cái xe đó lái hơn ngàn dặm xuống miền Nam Cali thăm bạn bè, khiến nhà thờ phải viết lời cầu nguyện an lành cho chúng tôi trên bản tin của họ. Xe không có máy lạnh chở 7 người, trời Cali nắng gắt, sờ vào thành xe nóng bỏng. Đường thì nhiều đèo, máy nóng khiến bình nước nhiều lần bốc hơi ngùn ngụt, nhưng may mắn chúng tôi cũng đi được đến nơi về đến chốn.

Nhớ đến cái “job” đầu tiên, lúc đó chúng tôi và bạn bè đều nghĩ rằng mình như người đuối nước nên chấp nhân bất cứ một cái gì để tồn tại. Khi người bảo trợ hỏi có muốn đi làm không, ai cũng trả lời là có và “I can do any job”. 

Chúng tôi cũng vừa quen với một gia đình Viêt Nam mới đến.  Chồng vốn là phi công, vợ là thư ký ngân hàng. Bà vợ được giới thiệu làm “Housekeeper”, trong phần công việc lại có vụ lau cầu tiêu, bà ta đi làm về tủi thân, ngồi khóc ấm ức. Tôi cũng không khá gì hơn, được cái job part-time có tên là “Maintenant” trong một khu người già; suốt buổi công việc là “móp” sàn nhà và dùng máy hút bụi nơi có thảm. Tôi đã không nề hà vì công việc, nhưng lương của tôi lúc đó là lương tối thiểu có $2.25 một giờ, nghĩ đến làm sao nuôi nổi một gia đình 7 người và tương lai thì mù mịt. Ít lâu sau, tôi xin nghỉ và tìm cách đi học lại tìm một nghề thích hợp hơn. Phải cám ơn nước Mỹ một lần nữa, lúc nào cũng sẵn sàng cung cấp cơ hội cho mọi người. 

Nói đến những thứ đầu tiên, mà không kể đến căn nhà đầu tiên là một điều thiếu sót. Người Việt thường coi câu “An cư lập nghiệp” làm châm ngôn.  Ba năm sau, chúng tôi đã mua căn nhà đang ở khi người chủ muốn bán. Mua nhà lúc đó quá dễ dàng, giá nhà chỉ chừng trên ba chục ngàn, tiền “down” khoảng ba ngàn, trả hàng tháng dưới ba trăm.  Chúng tôi sửa sang, sơn lại căn nhà giống như “Căn nhà trong mộng”, trong bài học thuộc lòng văn chương Pháp hồi trung học mà khi chúng tôi mới lấy nhau thường mong ước: “Căn nhà mầu trắng có những cửa sổ sơn mầu lá cây”. Chúng tôi làm thêm hàng rào thưa theo kiểu pickle cũng sơn theo mầu trắng và trồng thêm các loại hoa. Nhà chúng tôi ở ngay đầu dẫy nổi bật, nên làm khu phố được sáng sủa thêm, thay vì một căn nhà cho thuê như trước kia. Hàng xóm đi qua thường hay dừng lại cám ơn.  Chúng tôi ở đó sáu năm. Sau khi dọn đị một thời gian, tôi gặp lại vợ chồng ông hàng xóm bên cạnh, thay vì mừng rỡ, ông giơ tay đấm vào bụng tôi, đấm đùa thôi, nhưng giọng đầy trách móc là tôi đã bán nhà cho một tên lười biếng để căn nhà nhếch nhác, lại mang đầy đồ cũ ở đâu về, làm hỏng cả khu phố.

Trong từng năm ấy đến nay, chúng tôi đã đổi đến bốn căn nhà, căn nhà thứ hai là một căn nhà mới, từ trên bao lơn chúng tôi có thể nhìn thấy biển qua ngọn cây và những hoàng hôn rực rỡ, mặt trời tròn đỏ ửng lặn dần. Đây là một thành phố ven biển yên bình, trong cơn gió có mùi rong biển và đêm nào cũng nghe thấy tiếng những con tàu hụ từ xa vọng lại. Tôi còn nhớ có những chiều hè cả gia đình thường hay lội bộ trên bãi biển và đi ra cầu tầu ngắm biển ngoài xa. Chúng tôi ở đó gần hai chục năm, con cái đều xong trung học ở đó. 

Căn nhà thứ ba chúng tôi mua lại, có lẽ vì hàng đào, khoảng mười cây đào Nhật Akibono trồng sau nhà, mùa Xuân hoa nở phủ rợp đầy sân. Con cái chúng tôi lúc đó đã xong cấp Đại học và tung cánh đi các nơi xa. Thay vào đó chúng tôi cần bạn, nên mỗi mùa hoa đào nở lại có dịp mời các bạn đến nhà dự “Hội Hoa Đào”. Cùng các bạn uống trà, ngâm các bài thơ xưa và hát những bài ca của một thời… Nhưng chúng tôi lại chỉ ở căn nhà này có bốn năm.    

Khi gần về hưu, chúng tôi lại đổi nhà lần nữa, đáng lẽ là phải mua một căn nhà trệt nhỏ hơn, không hiểu sao khi chúng tôi đến một khu mới, một khu cũng bình thường, lại chọn một căn nhà phía trên lưng chừng đồi, tầng nào cũng có thể nhìn xuống một vùng thung lũng mà ban đêm đèn sáng như sao sa. Hai bên đường, một bên họ trồng hàng đào Thunder Cloud, bên đối diên họ trồng hàng cây phong nên hai hàng cây đó khi nở hoa, khi lá đổi mầu, khi lá rụng trơ trọi đều báo hiệu cho mọi người biết sự thay đổi của bốn mùa.

nck- can nha thu 4
Căn nhà thứ tư đang ở, 2025. Hình tác giả cung cấp



Trong khu này có 24 căn nhà, gồm nhiều sắc dân. Họ bầu tôi làm chủ tịch của HOA, tạm gọi là ông Trưởng Khóm.

Ai đến thăm nhà cũng kêu, sao đến tưổi này còn chọn căn nhà như thế, đã leo dốc lại còn leo hơn hai chục bậc thang. Nhưng chúng tôi lại thích ở căn nhà khoáng đãng này vì gần đủ các nơi mà chúng tôi cần đến, nhất là nghĩ rằng có đủ phòng ốc để các con của chúng tôi dễ dàng khi từ các tiểu bang khác về thăm, và dù mùa đông có nhiều lần phải bỏ xe dưới đường lội bộ lên đồi. Hai mặt nhà là khu rừng thông cao ngất còn lại, có lần một cơn bão đã thổi ngã luôn ba cây, may quá chiều gió lại về phía rừng, nếu không thì cả nhà sẽ bị sập.

Vườn sau, đi thẳng từ phòng khách ra, tôi thuê trải sỏi và lát gạch nên không phải cắt cỏ chăm sóc thường xuyên. Nhớ lại căn nhà trước tôi trồng sáu cây đào Yoshino, mùa Xuân hoa nở không thấy trời, lúc hoa rụng trắng xóa cả sân.  Tôi chép lại mấy câu thơ hợp cảnh của một người bạn thơ:

Ta về ở ẩn lưng đồi
Rạng đông bắt gặp mây trôi ngang nhà
Tự tay đun nước pha trà
Ngắm đào nở rộ tháng ba quanh vườn

(Thơ Trần Thiện Hiệp)

Tôi dựng thêm một gazebo. Những buổi sáng, buổi chiều ngồi trong đó uống cà phê nhìn lên phía đồi sau, thấy những con chim lạ đến nhẩy nhót trên cành, những con cáo nhỏ vừa ra khỏi rừng đứng ngơ ngác nhìn xuống thung lũng xa. Năm vừa rồi hai mẹ con nai đến vườn ăn cỏ và gặm những quả táo non. Tôi theo rõi, thấy nai con lớn dần và cho đến một hôm chỉ thấy có nai con đến, tôi vừa buồn vừa vui là nai con đã trưởng thành và nai mẹ bao lâu nay đã dẫn con đến những nơi quen thuộc để tự mình kiếm ăn.  Có lần một con công lạc đến và ở lại trong khu vườn của tôi hai tháng trời.  Người ta nói công đến nhà là có tin vui, quả nhiên năm đó hai đứa con tôi lấy vợ lấy chồng mà chúng tôi nhiều năm mong đợi. 

Căn nhà này chúng tôi ở đã hai mươi năm rồi, chắc còn ở nữa cho đến khi phải “Downsize” rời đi một địa chỉ khác. Tôi cũng không hiểu sao, qua nhiều lần dọn nhà như thế chúng tôi lại không nghĩ đó là những dịp giúp tôi dọn về Cali như chúng tôi và các bạn cũ đều mong muốn trong nhiều năm qua, mà chỉ dọn luẩn quẩn quanh vùng. Có những lần, cùng các con ở xa về, lái xe vòng qua thăm những căn nhà xưa, chúng tôi đậu xe bên đường, ngồi bên trong yên lặng ngắm lại căn ngày nào mình ở, biết bao nhiêu kỷ niệm tràn về…

Có phải chúng tôi đã mọc rễ khá sâu ở đây, nhổ đi cũng khó. Có phải chúng tôi đã thấm những gì quá đậm ở nơi này. Cha mẹ chúng tôi đã yên nghỉ ở đây, các con cháu và các thế hệ tiếp theo cũng sẽ ở đây. Năm nay tôi đang đứng ở ngưỡng cửa 90, tôi sinh ra ở Hà nội và rời Hà nội “năm tôi mười tám…”, cả một thời thanh lịch, phong lưu, lãng mạn di cư theo cả thành phố khi đất nước chia đôi.  Sống ở Saigon hơn 20 năm, chào đón, ngọt ngào với những năm hưng thịnh. Và đến nay đã ở Mỹ 50 năm, dài hơn gấp đôi ở Việt Nam rồi.

Chúng tôi cũng chỉ là những người bình thường, không hiểu “Giấc mơ” mà mọi người thường nói đã đạt được chưa? Mỗi lần đi xa lại muốn trở về căn nhà của mình, “Home! Home sweet home!”. Về một miền “Xanh mãi ngàn năm”, về những vũng biển yên bình có những chuyến phà qua đảo, có những cánh hải âu rập rờn trong gió, có những rặng núi tuyết phủ quanh năm, nhất là có những quán cà phê trong chiều mưa… Dù rằng đây là một miền mưa lạnh rỉ rả gần suốt nửa năm, dù rằng ở đây đường xá quanh co, lên đồi xuống dốc …

Các nhà văn, các nhạc sĩ Việt Nam thường viết về tình yêu quê hương mà mọi người cho đó là “Tình tự quê hương. Tình tự dân tộc”, với lũy tre xanh, căn nhà nhỏ bé với vườn rau, con trâu già nằm yên trong ngõ, bến đò với dòng sông hiền hòa, chùm khế ngọt, tiếng võng đưa lẫn với tiếng gà gáy trưa… Những hình ảnh này chắc không còn nữa, đã bị bật gốc xóa nhòa, chỉ còn trong ký ức ảo tưởng, nhưng người ta vẫn hát, cả những người chưa từng sống với những tình tự này, và khi hát lên vẫn tưởng như cô lái đò vẫn còn neo thuyền, cô hàng xóm năm xưa vẫn còn tựa cửa chờ mình…

Một nhà văn quốc tế đã viết “Nơi nào có tự do, nơi đó chính là quê hương”. Không hiểu trong thời gian mình đã sống ở đây nửa thế kỷ, hơn nửa đời người dài hơn gấp đôi nơi mình phải rời bỏ. Trong thời gian ấy đã có bốn thế hệ, với biết bao nhiêu gắn bó, gắn bó với căn nhà mình ở, với bạn bè, với cộng đồng, với một đất nước với biết bao nhiêu là ân tình. Không hiểu như thế mọi người có cho đó là đã đủ cái tình tự quê hương, cái tình tự dân tộc cho một quê hương mới hay chưa? 

Nguyễn Công Khanh

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
22 Tháng Bảy 20216:09 CH(Xem: 34413)
Sài gòn cách ly. Tôi chẳng được ra khỏi nhà hơn hai tháng nay từ khi cháu ngoại nghỉ học chứ không phải tới cái " Giờ thứ 25" Sài gòn đã điểm như lúc này. Nếu tôi được rong ruổi ngoài đường mà tận mắt chứng kiến Sài gòn xôn xao, lo toan, thắt thỏm mỗi ngày cho đến lúc hốt hoảng mà chạy trốn dịch như thế nào tôi sẽ viết sống động hơn, nhưng tôi chỉ ở nhà và chỉ biết tình hình mỗi lúc một nghiêm trọng khi thấy các con tôi.
13 Tháng Bảy 20214:16 CH(Xem: 38415)
Saigon không chỉ của những người hàng giờ lên Facebook khoe đẹp, khoe thân, khoe của, khoe tình ái, khoe giàu… Saigon là của những người không có Facebook để khoe, chạy ăn từng bữa, sấp mặt kiếm cơm. Saigon là của công nhân nhập cư chen nhau trong dãy nhà trọ 10m vuông, là của người đẩy xe đi bán rau cải 2000 đồng 1 bó, bán kẹo kéo nhân đậu phộng, tàu hủ nước đường gừng, bán dừa xiêm 15,000 đồng 2 trái, bán bánh su kem, bán thạch dừa nhà làm…
02 Tháng Bảy 20216:21 CH(Xem: 40944)
Tuổi trẻ chúng tôi sinh ra và lớn lên giữa lúc cuộc chiến diễn ra vô cùng khốc liệt. Ngay từ tuổi thiếu niên – tuổi học sinh trung học, lẫn lộn giữa tiếng đạn bom, chúng tôi đã nghe những bài hát, hoà cùng cuộc chiến có, chống lại cuộc chiến có. Trong những bài hát phản đối chiến cuộc, có những bài hát của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.
10 Tháng Sáu 20216:03 CH(Xem: 32814)
Tôi nhớ xa xôi có người đã từng ví von bên tai tôi " Dù cho sông cạn đá mòn tình cảm này không hề thay đổi". Ngày ấy, tôi cứ nghĩ sông khó mà cạn lắm chứ, nhưng không, dòng sông nơi tôi ở cứ cạn rồi đầy liên tục trong ngày. Lòng người cũng vậy không có gì là mãi mãi với thời gian. Cái mà dễ thay đổi nhất trên đời này nghiệm ra rằng đó chính là tình cảm; những lời yêu xưa chỉ là ví von trong lúc cảm xúc còn đong đầy nên chả trách gì nhau khi người dễ quên nhau...
19 Tháng Năm 202110:35 CH(Xem: 35391)
Tôi thuộc thơ của thi sĩ Hoàng Cầm từ nhiều năm trước khi biết đến Hoàng Kỳ - người con trai đầu của cụ. Qua nhà thơ Thanh Kim, phóng viên báo Bắc Giang, tôi được gặp anh lần đầu tại thư viện của thị xã Bắc Giang (tỉnh Hà Bắc cũ). Mới gặp, anh có vẻ lịch sự xã giao, thậm chí như hơi đề phòng- thói quen hình thành trong một hoàn cảnh gia đình đầy sóng gió đã ảnh hưởng sâu đậm tới cuộc đời anh... Nhưng dần dà, cái vỏ ngoài ấy đã biến mất hẳn sau nửa giờ trò chuyện, khi anh hiểu rõ rằng: trước mặt anh là một "con mọt sách", đang muốn tìm hiểu về văn hóa vùng Kinh Bắc...
07 Tháng Năm 20214:48 CH(Xem: 36339)
Tiếng nói đầu tiên của một em bé khi bắt đầu học nói là Me, Mẹ, Mạ, Má, Mommy, Maman, và nhiều nữa với những ngôn ngữ hay tiếng địa phương khác, đặc biệt hầu như đều bắt đầu bằng chữ “M”. Có lẽ đó là mẫu tự thiêng liêng chung của nhân lọai khi gọi người đã cưu mang, yêu thương và đùm bọc mình suốt cả cuộc đời. MẸ ở kinh thành hay MẸ ở nơi thôn dã, MẸ ở trên núi hay MẸ ở dưới biển, MẸ là lá ngọc cành vàng hay MẸ gặt lúa trồng rau….. MẸ cũng mang nặng con chín tháng mười ngày, MẸ banh da xẻ thịt đưa con vào đời, và khi con khóc tiếng khóc đầu đời, MẸ đã vừa khóc vừa cười ôm con vào lòng mà quên đi hết những nhọc nhằn mang nặng đẻ đau. Khỏang thời gian còn lại của MẸ là ôm ấp, bảo bọc, hy sinh, dạy dỗ….. và nhiều lắm của tình mẫu tử MẸ dành cho đàn con của MẸ, và cứ thế mà nhân lọai tồn tại và phát triển.
07 Tháng Năm 20211:54 SA(Xem: 37865)
Tôi gặp anh Nguyên Minh lần đầu tại một quán cà phê vỉa hè đường Phan Xích Long. Hơn mười năm trước tôi thường viết bài trên trang vanchuongviet, ngày ấy chủ biên Nguyễn Hòa chưa ngã bệnh anh còn xông xáo chuyện chữ nghĩa. Anh em thỉnh thoảng gặp nhau khi tôi vào Sài Gòn, hôm ấy có tôi, vợ chồng anh chị Trương Văn Dân _ Elena, anh Nguyễn Hòa hẹn gặp Sâm Thương và Nguyên Minh. Các anh đều là những bậc tiền bối tôi ngồi nghe các anh bàn luận và dự tính ra mắt một tập san văn học nghệ thuật riêng của mình, từ đó anh em quen nhau.
20 Tháng Tư 20215:10 CH(Xem: 35356)
Mỗi lần nghĩ đến chiến tranh, giải phóng đất nước, cách mạng dân tộc, tự do nhân quyền, xuống đường biểu tình... đầu óc tôi lơ mơ liên tưởng đến vụ Thiên An Môn năm nào. Hình ảnh người đàn ông hiên ngang tiến ra giang rộng hai tay đòi hỏi tự do, chận đứng xe tăng, chống lại quyền lãnh đạo độc tài của đảng cộng sản Trung Quốc. Hình ảnh anh hùng, xem cái chết tựa lông hồng, với lòng đầy thách thức, đòi hỏi tự do dân chủ nhân quyền cho xứ sở. Hình ảnh đó đã đánh mạnh vào tâm não toàn thể người dân trên toàn thế giới. Riêng tôi, vẫn âm thầm nghĩ tới người lính lái chiếc xe tăng khổng lồ đầy răng sắt. Hẳn ông phải là một người rất đỗi từ bi, nhân hậu? Thương người như thể thương thân. Ông từ chối giet người, dù trong tay nắm toàn quyền nghiền nát người đàn ông hiên ngang hùng dũng kia. Hành động nghiền nát đó, sẽ được coi như một chiến công hiển hách đối với đảng và nhà nước.
20 Tháng Tư 20214:59 CH(Xem: 34291)
Tháng tư năm ấy, sao tôi không mấy lao đao về cái chết tự tử của một người chị họ chưa đầy hai mươi tuổi. Năm ấy, một chín bảy lăm, nghe mạ tôi nói chị bị cào nát mặt hoa và ăn đòn phù mỏ chỉ vì lỡ tranh giành một miếng nước ngọt trên chuyến tàu tản cư từ Đà Nẵng vào Nha Trang. Liệu như thế đủ để chị chán sống hay còn vài lý do thầm kín khác mà tôi không đoán được. Ồ phải rồi, nghe kể mẹ chị ấy là mợ tôi ngồi đâu cũng thở dài rất thảm, lâu lâu tuồng như muốn nuốt ực những giọt nước mắt dội ngược vào lòng và lâu lâu thì lại trào ra trăm lời nguyền rủa về những xui xẻo không tránh được, ví dụ nỗi đau rát rực rỡ của mấy bợm máu kinh nguyệt thời con gái chị tôi đã phọc lai láng trên đít quần suốt những ngày chạy giặc thiếu nước và máu ôi thôi là máu của những xác người vô thừa nhận trên con đường lánh nạn.
20 Tháng Tư 20214:23 CH(Xem: 37848)
Tôi đã thay đổi vì biến cố tháng Tư Bảy Lăm, nhưng cũng có thể tôi đã mất thiên đường từ trước khi ra đời. Đó là câu hỏi mà tôi ngẫm nghĩ gần đây. Năm nay tôi 43 tuổi, mặc dù tôi nhuộm tóc và vẫn thích người ngoài khen tôi trẻ, tôi hiểu mình nhiều hơn, và cũng chân thật với mình nhiều hơn lúc còn trong tuổi niên thiếu. Trên nhiều phương diện, có thể tôi cũng đầy đủ hơn ngày xưa. Nhưng tất cả những câu chuyện mà tôi hay kể với bạn bè để biểu lộ tâm trạng “cá ra khỏi nước” mà tôi vẫn cảm thấy đeo đuổi mình thường trực, đều bắt nguồn từ trước biến cố Bảy Lăm.