- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc

TÔI LÀM CÔ GIÁO

18 Tháng Tám 20243:37 SA(Xem: 28964)

 

đêm giửa ban ngày-tranh LE MINH PHONG
tranh LÊ MINH PHONG

 

 

Thái Thanh

TÔI LÀM CÔ GIÁO 

 

 

Tôi không bao giờ nghĩ rằng mình sẽ là cô giáo. Nhưng có lẽ là duyên trời nên tôi đã từng đứng trên bục giảng, dưới kia là những đôi mắt thơ ngây của các em thơ ngày ấy- học trò nhỏ của tôi và tôi đã là cô giáo.

 

Ngày ấy tốt nghiệp Sư Phạm xong, tôi được phân về huyện Hoài Ân một huyện tại làng quê xa hẻo lánh.

Ngày ấy tôi ham chơi lắm, suốt cả ngày thơ thẩn dưới bóng râm xanh mát của tàng cây chùa Long Khánh, hay lang thang một mình trên bãi cát vàng với biển cả mênh mông... Đến khi bạn bè nhận nhiệm sở hết, tôi mới lóp ngóp đi sau cùng. Cuối cùng tôi bị điều động về trường Ân Nghĩa-Kim Sơn, một ngôi trường xa nhất huyện , nằm ở sát chân núi gần Ca18, chỗ nhốt những người tù chính trị. Cũng vì đi trễ nên tôi không được dạy tại chính trường Ân nghĩa mà dạy ở Nhơn Sơn, một chi nhánh của trường Ân Nghĩa.

 

Ngày ấy hồn tôi trong trẻo lắm. Tôi không hề biết so đo toan tính hơn thiệt với ai, nên dù là tốt nghiệp Sư Phạm loại giỏi tôi có thể sẽ được dạy ở chỗ tốt hơn nhưng tôi không bận lòng tôi vui vẻ mà đến nhận lớp. Trường tôi dạy nằm trên một ngọn đồi, gió thổi vi vu, chung quanh cây cỏ mọc xanh rì như ở giữa rừng. Một dãy lớp học nằm kề nhau, bàn ghế đóng sơ sài không có hộc. Vách và nền tường đều bằng bùn đất trộn rơm trét lên đến nóc trần cũng chỉ bằng rơm. Con đường đến trường dài ngoằn ngoèo đầy đất đỏ nằm giữa hai bên là vách núi ,đường gồ ghề lên đồi xuống dốc.Trời nắng xe chạy ngang tung bụi đỏ mịt mù.Trời mưa đường trơn tuột lầy lội đất đỏ bám lên người.Thầy cô giáo dạy nơi này toàn là những người có gốc rễ ở đây không có ai là người ở phố Qui Nhơn mà đến như tôi .Hồi ấy anh Hoàng Trương, giáo viên dạy Văn của trường đã cảm xúc mà sáng tác mấy câu thơ để tặng tôi :

 

Sáng em đi sương còn vương ngọn cỏ 

Chiều em về đất đỏ đọng trên vai 

Em trắng trong như đóa hoa đồng nội 

Nụ cười tươi ôi thương quá nụ cười...

 

Tôi là "chúa mộng mơ" nên chẳng buồn vì phải đến nơi này, trước cảnh đẹp như thế tôi đã làm không biết bao nhiêu là thơ tả cảnh tả tình. Dù là những buổi sáng đến trường, tôi chào ngày mới bằng cái bụng đói meo không ăn sáng. Ngày ấy học trò của tôi đều là những đứa trẻ rất nghèo, chúng cũng đói meo như tôi. Dưới cái nắng chói chang của miền núi, chúng để đầu trần khô rốc mà đi không có nón. Trời mùa đông lạnh chúng phong phanh chỉ một tấm áo đến trường không đủ ấm. Thời ấy tôi cũng hòa mình với chúng, sau bữa dạy cô trò đi cắt chuối sứ sống về luộc ăn đỡ thay cơm. Học trò tôi, chúng ăn bất cứ một con vật nào mà nó bắt được: cào cào, ếch nhái, dế ( eo ơi! may mà trên đó sao tôi không thấy có chuột và gián ). Có lần chúng bắt được một số con dế to, chúng để dành đem nướng lên và trịnh trọng mang cho cô. Tôi không dám ăn cái món này; tôi nhìn những đôi mắt tha thiết ấy mà thương vô hạn.

Nhưng tôi cũng có lần phạm phải lỗi lầm với học trò của tôi, tôi đã là cô giáo không tốt. Có một đêm kia, sau một ngày dạy ở Nhơn Sơn tôi về nghỉ tại trường An Nghĩa; tôi cùng chị Hạnh,Tĩnh và Ánh cô giáo ở Qui Nhơn cùng ở chung phòng với tôi ngồi dưới cột cờ trên bậc tam cấp. Đêm thanh vắng chúng tôi ngồi tâm sự bên nhau, đêm ấy tôi nghe chị Diệu Hạnh hát bài Phôi pha của Trịnh công Sơn. Tiếng hát chị bay cao trong đêm vắng nghe hay quá, chúng tôi cùng lắng nghe, cùng im lặng cảm nhận theo tâm tư của mỗi người. Đêm ấy về phòng, tôi trằn trọc suốt đêm không ngủ được. Tôi nhớ Qui Nhơn, tôi nhớ ba má nhớ nhà quá đỗi. Gần sáng tôi mới thiếp đi trong giấc ngủ. Ngoài trời mưa to lắm, mưa dầm dề, mưa miền núi kèm với tiếng gió hú trong đêm nghe buồn não nuột... Tôi ngủ quên mất đến sáng các bạn tôi đã đến lớp cả rồi, trời vẫn còn mưa, mưa to lắm. Nghĩ đến con đường đất đỏ một mình đến trường, tôi ngán ngẩm quá, nằm ỳ luôn. Hôm ấy tôi nghỉ dạy...

Dù trong tiếng mưa tiếng gió hú, nhưng tôi vẫn nghe tiếng thầy Phiên hiệu trưởng oang oang ngoài cửa 

- Cô T ơi... Cô T ơi... Cô đau sao mà không đi dạy?

 

Tôi quấn mền im lặng (sao mà ông ấy biết tôi nghỉ dạy vậy cà, vì thời đó không có điện thoại mà trường Nhơn Sơn cách xa nơi này lắm). Phần thì lười và phần vì cái tánh ương bướng nổi dậy nên tôi không mở cửa. Nhưng tôi nằm không yên được, tôi nghe tiếng nhốn nháo ngoài kia, nhìn qua phên cửa, trong sân trường dưới cơn mưa tầm tã. Tôi thấy học trò của tôi, con gái có, con trai có dường như chúng kéo hết cả lớp đến thì phải:

- Thầy hiệu trưởng ơi... Cô T có sao không?

- Cô đau rồi... Các em về đi hôm nay nghỉ học.

Tôi không đủ can đảm để bước ra ngoài, tôi xấu hổ đứng chết lặng trong phòng.

Hôm ấy tôi nghe thầy Phiên hiệu trưởng ca cẩm suốt buổi chiều : "Tại sao cô nhẫn tâm bỏ học trò mà không đến lớp. Cô có biết tụi nó toàn ở Nghĩa Điền rất xa, chúng phải lội qua không biết bao nhiêu con sông, bao nhiêu cái suối nước chảy xiết để đến được Nhơn Sơn mà kiếm cái chữ. Cô có biết con đường đi của chúng nguy hiểm biết dường nào không. Một ngày đến trường của một đứa là nó phải bỏ đi làm đồng; đi bắt cua,  bắt ốc phụ cho cha mẹ nó để được đi học. Đến nơi không có cô, gần cả 100 đứa học trò đội mưa, đội bùn đất trơn trợt tới đây kiếm cô vì sợ cô đau ốm, sợ cô bỏ chúng không dạy nữa cô biết không... Cả trường, từ phụ huynh , tới giáo viên đến cả học trò ai cũng khen cô T là cô giáo tính nết dễ thương. Cô thấy mình có xứng đáng với lời khen ấy hay không... !?. Tôi im lặng lắng nghe và hối lỗi.

Ngày hôm sau, tôi đến lớp, trời quang mây tạnh. Đám học trò của tôi, đứa thì mang khoai lang nướng, đứa thì nấu cháo ếch mang cho cô ăn. Tôi nghẹn lòng nuốt nước mắt mà không thể từ chối được...

Từ ấy tôi đã sống hết mình với đám học trò nhỏ thân yêu của tôi. Tôi có một bệnh đau bụng kỳ lạ từ thuở bé. Trước năm 1975, má tôi đưa tôi đi khám nhiều bác sĩ giỏi ở Qui Nhơn, uống nhiều thuốc mới bớt nhưng cũng chưa tìm được bệnh gì. Cứ lâu lâu bệnh lại tái phát, khi cơn đau trở lại tôi vật vã lăn lộn khổ sở. Lần này tôi trở bệnh khi đang cùng đám học trò đi nhổ củ mi. Tội cho học trò của tôi, ở miền núi đâu có dầu có thuốc, nó cứ nghĩ là tôi trúng gió. Chúng bưng cái đèn hột vịt, chắt dầu lửa ra tay xoa bóp lên bụng của cô nhưng không bớt được. Cuối cùng, cái đám con trai giữa trưa nắng chói nó đã chạy vào tận chân núi Nghĩa Điền để mời thầy về chữa cho tôi. Đó là một ông thầy người Thượng, chữa bằng cây cỏ của núi rừng. Hồi đó tôi đau quá, nhưng nhờ cái thứ cây cỏ hoang dại kia; nhờ cái ông thầy thuốc già người dân tộc; nhờ học trò nhỏ của tôi mà tôi bớt bệnh. Điều kỳ diệu là tôi bớt hẵn luôn cho đến bây giờ.

Ngày ấy các bạn ở Qui Nhơn ra dạy ở nơi này, họ đã tìm cho mình có được một bờ vai ấm cúng để dựa vào cho bớt nỗi cô đơn nhớ nhà. Tôi đơn lẻ từ thuở học trò cho đến khi là cô giáo chưa có một mối tình, chưa một ai nắm lấy bàn tay hò hẹn. Nhưng tôi cũng có kỷ niệm trong đời mình tại nơi chốn này. Hồi ấy, thiếu giáo viên trầm trọng nên tôi dạy cả ngày. Có những giờ nghỉ, cô trò tôi đi đào củ chuối đi hái rau trong vùng sâu. Ngày ấy, tôi thấy có một số người tù họ cũng ra đây làm rẫy rừng. Chân họ bị xích và bị công an quản chế một bên nhưng họ hiền hòa dễ mến lắm. Trước năm 1975 họ là những sĩ quan VNCH, họ là những người tù chính trị. Tôi thường bắt gặp ánh mắt của người ấy dõi theo tôi. Cho đến một ngày, người ấy nhờ học trò của tôi mang đến cho tôi một trang giấy xếp lại không có bì thư.

 

"Chào em cô giáo nhỏ, tôi không biết làm thơ chỉ xin gởi cho em bài thơ của Nguyễn Bính nói hộ giúp lòng tôi 

 

Ước .

Ước gì tôi được quen cô giáo

Để đến xin cô học vỡ lòng 

Chỉ sợ đông người bàn ghế chật 

Nhiều người cô có nhận tôi không?

Nếu cô đồng ý nhận thêm tôi

Tôi sẽ yêu cô đến trọn đời 

Suốt đời tôi chỉ theo một lớp 

Suốt đời tôi chỉ học cô thôi ...

Thơ Nguyễn Bính "

 

Bài thơ ấy gởi đi nhưng tôi chưa đáp lại. Lòng tôi cảm nhận một nỗi buồn, khoảnh khắc của sự bất an nào đó mà tôi không dám tỏ cùng ai. Đó là những ngày cuối cùng của năm học, học trò được nghỉ hè và tôi được về thăm nhà ở Qui Nhơn 

 

Tôi không nghĩ đó là chuyến đi cuối cùng của đời cô giáo, tôi không hề nghĩ mình xa mãi nơi này. Lòng tôi cũng đã vương mang trọn cõi lòng với những gương mặt ngây ngô của đám học trò và của một người. Người ấy và tôi chỉ là một thoáng, một thoáng thoảng qua trong đời.

Vì một lý do đặc biệt, trong chuyến về thăm nhà ở Qui Nhơn tôi đã đi và không còn trở lại. Tôi xa tôi xa hẳn mộng mơ đầu. Đường tôi đi rẽ sang một lối khác, tôi chẳng còn là tôi, cô giáo ngày xưa cũ nữa rồi.

 

Dòng đời trôi mãi mấy mươi năm qua rồi, biết bao thay đổi. Tôi đã vào cái tuổi hoàng hôn, chút nhớ thương đầu của một thời xa đó, tôi vẫn giữ tận sâu trong đáy tim mình, một thuở mãi mà thương...

 

Thái Thanh

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
18 Tháng Mười 201511:15 CH(Xem: 62287)
Sài Gòn quả thật vẫn đẹp mà nó vẫn đẹp theo cái cách mà tôi nhìn ngắm nó, nó vẫn đẹp như mơ, cực kỳ hoàn hảo và trác tuyệt. Vì đâu mà tôi có thể thấy như vậy nhỉ? Có lẽ nó xuất phát từ cái chủ quan riêng biệt của tôi mà tôi thấy như vậy.
18 Tháng Mười 201510:41 CH(Xem: 62597)
Tôi thích những định nghĩa về tự do của John Adams và yêu thơ Tagore. Cả hai đều khơi dậy cái sức mạnh tiềm ẩn bên trong con người. Điều lạ lùng là dù ở hai vị trí rất khác nhau, một chính khách và một nhà thơ; song họ lại gặp nhau ở một điểm rất chung. Tôi có thể mượn cái quan niệm của John Adam để nói về Tagore. Cả hai đều cho rằng không có sự ưu việt nào bằng sự ưu việt của linh hồn và không có sự giàu có nào bằng sự giàu có của con tim.
28 Tháng Tám 201511:15 CH(Xem: 70683)
Mùa Thu, năm 1994, chúng tôi trở lại Hà-nội sau 40 năm xa cách. Một trong mục đích của chuyến đi này là đề gặp ông Nguyễn Hữu Đang, người đứng đầu trong nhóm Nhân Văn, sau khi đọc bài của Phùng Quán viết về chuyến đi thăm ông. Ông đã bị giam tại trại Cổng Trời gần 20 năm, đến đó là chỉ chờ chết, khó có thể trở về được.
27 Tháng Tám 20158:59 SA(Xem: 66334)
Năm 1972, Nguyễn Bắc Sơn in tập thơ “ Chiến tranh Việt nam và tôi”, lập tức được giới văn nghệ và đặc biệt lính chiến sài gòn yêu thích vì lối viết phóng túng, giang hồ ...
18 Tháng Tám 20152:21 SA(Xem: 61630)
“ Nói về Nhục Cảm, thì có thể biểu đạt như một cảm giác hưởng thụ.” Cô bạn tôi, sau khi cái miệng xinh đã thỏa mãn chừng vài thỏi chocolate, liền phán tiếp, “ Miếng Chocolate đầu tiên là Thiên đàng, miếng thứ tư thì vẫn còn ngon, nhưng đến miếng thứ mười lăm thì có thể gần như vô vị.
12 Tháng Tám 20153:54 SA(Xem: 54971)
Dù ai có nghệ sĩ tính tận mây xanh, vốn coi tiền chả ra gì, chắc cũng có lúc phải lúng túng im lặng, khi vắng nó. Ít tiền mà để anh bạn mới quen bao cho bữa nhậu lớn hai người, để nợ mãi một bữa nhậu, thì chắc chừng nào bao lại được thì mới dám bè bạn tiếp với người ta. Ít tiền sao dám rủ rê ai, không rủ không đến với ai thì có ai chơi với mình.
12 Tháng Tám 20153:27 SA(Xem: 59333)
Thời đó, và có thể còn đậm nét ở thế hệ của tôi (1940), văn nghệ, văn chương theo định nghĩa của Xuân Diệu là “run với gió, mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây”. Mây gió trăng, sao, bầu trời xanh biền biệt vẫn là những đề tài muôn thưở của văn hoá, văn học. Thiên nhiên vẫn mãi là cái nền để thị hiện sự hiện hữu và tâm cảm của con người. Cái vở tuồng đời sống cần có mộït sân khấu để người ta yêu nhau, ghét nhau, ham muốn, thù hận, chiến tranh. Mặt trời lên, mang hơi ấm và sự bao bọc yên bình, đêm về với niềm đe doạ nhưng cũng đầy quyến rũ của một vũ trụ thăm thẳm “thiên la địa võng” vây bủa chung quanh.
04 Tháng Tám 20151:25 SA(Xem: 60692)
“ Tôi nhìn người đàn bà qua lớp gương mờ - tái nhợt như một cái xác chết di động. Gương mặt người đàn bà còn tinh tươm những trăn trở, héo úa. Cơn hoảng loạn còn in sâu vào đồng tử, nó trao tráo như mắt của một con cá đang mắc vào chiếc lao móc.”
01 Tháng Tám 20153:20 CH(Xem: 62355)
LTS: Lần đầu cộng tác cùng Tạp Chí Hợp Lưu. Đoàn Khuê định cư ở Canada, anh có một lối viết thật đặc biệt... Nói một cách khác là Đoàn Khuê viết "trúng tim đen" và thật hay. Chúng tôi hân hạnh mời quí bạn đọc và văn hữu cùng đi vào thế giới tạp bút của tác giả "Tạp bút, tìm tôi".
21 Tháng Bảy 20154:54 CH(Xem: 55663)
Căn phòng im như một góc quá khứ, dù Má chỉ mới rời nhà chưa quá một tuần. Mây ngồi lên chiếc giường đôi, chỗ Má vẫn nằm. Tấm chăn phủ giường xô lệch, chiếc xe đẩy tay của Má đứng xéo góc với tủ đựng quần áo, soi bóng cô đơn trong tấm gương.