- Tạp Chí Hợp Lưu P.O.BOX 8782 Fountain Valley, CA 92728-9809 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,222,680

ĐÀLẠT VÀ CUỘC TẢN CƯ VỀ HUẾ NĂM 1945

04 Tháng Mười Hai 201811:05 CH(Xem: 486)

          Từ một vùng đất hoang vu của dân tộc thiểu số thuộc bộ tộc K'Ho hiện nay, sau khám phá của bác sĩ Yersin (tháng 6 năm 1893), người Pháp đã quy hoạch và xây dựng lên thành phố Đàlạt. Đàlạt trở thành một trung tâm du lịch và giáo dục của Đông Dương trong nửa đầu thế kỷ 20.
          
           Ngày 21 tháng 5 năm 1942,tiếng khóc chào đời của tôi cất lên giữa thành phố cao nguyên lúc ba tôi đang là Chánh văn phòng Tòa Công Sứ Pháp (Tòa Thị Chính). Tản cư ra Huế tháng 8 /1945, lúc đó tôi là đứa bé chỉ biết khóc nhè, làm rộn người khác. Những năm 1962, 63 , vào dịp hè hai anh em tôi từ SaiGon lên Đàlạt ở chơi với mẹ và em gái tại nhà của Bác Phan Tấn Khải , đường Phan Đình Phùng (xem hình 1). Không còn nhớ được gì về Đàlạt thuở thiếu thời, tôi chỉ  viết lại những gì anh tôi đã kể ...


DaLat 1

Đường Phan Đình Phùng Đàlạt những năm 1960,
nơi chúng tôi thường lên vui chơi vào các dịp hè 1962,1963.

                                             

            " Nhà cũ chúng tôi nằm trên khu đất cao phía Đông gần ngôi chợ trung tâm,đến đường phố chính ở phía dưới qua một vườn hoa ngoài sân, và  một lối đi lát gạch dẫn đến những bậc thềm bước xuống đường. Con đường phía sau nhà dành cho sinh hoạt gia đình với xe cộ vô ra thường xuyên. Đứng giữa sân nhà có thể nhìn thấy Hồ Xuân Hương , xa xa là ga xe lửa. Đôi khi từ trại tù nghe tiếng kèn báo hiệu trên một đồi cao.Đến khu chợ Đàlạt bên trái phải bước xuống nhiều dãy bậc cấp. Theo lời mẹ kể, thời gian gia đình chúng tôi sinh sống ở Đàlạt là thời hạnh phúc vàng son nhất trong đời mẹ. Tiền bạc dư dả, tôi tớ đầy đủ, chợ búa đông vui giá rẻ, chuyện ăn uống không làm mẹ bận tâm. Thường mỗi lần đi làm về, chưa kịp cởi áo khoát,ba tôi bế một thằng nhóc lên rồi dúi cái cằm có râu ngắn vào ngực làm cho nó cười hắc lên. Đơn giản hình bóng ba chỉ có thế. Những  ngày cuối tuần, thỉnh thoảng ông tổ chức các buổi hòa nhạc với dàn kèn trống, đàn tranh , đàn nhị, đàn bầu..., vì chính ba tôi cũng chơi các loại đàn nầy khá thuần thục do thuê thầy dạy đàn từ trước. Bên cạnh các cuộc vui đàn hát, còn có những ván bài - gọi là "tài bàn" - giữa những bạn thân của ba , trong đó tôi chỉ nhớ được tên tuổi nhà văn hóa Trần Thanh Mại. Năm 1999, bà Trần Thị Linh Chi, con gái bác Trần Thanh Mại từ Cần Thơ lên SaiGon dự đám giỗ ba tôi tại nhà chị tôi , tôi có dịp nhìn thấy tận mắt hình bóng cũ tình bạn của ba với bác  Mại. Bà Linh Chi cũng là một nhà văn dám thu hẹp một cơ sở làm ăn lớn để dành thì giờ lo chuyện viết lách. Lúc đó tôi có đọc mấy bài của Trần thị Linh Chi trên tập san Nhớ Huế.

            Trở lại sinh hoạt thường ngày của gia đình ba mẹ ở Đalạt. Buổi sáng thường có người đàn ông Ấn độ, mang sữa dê bồi dưỡng cho anh tôi, là đứa trẻ gầy còm vì bệnh . Anh nầy khi lớn lên khỏe mạnh, phải mắc tật nói cà-lăm do hậu quả bệnh từ nhỏ...

            Đáng nói hơn,cả một đại gia đình gồm ông bà chú bác anh em con cháu nội ngoại của nhánh họ Phan làng Đốc Sơ thường quây quần bên những bàn ăn rất lớn đặt giữa sân nhà, thoải mái tràn đầy niềm vui tiếng cười, trong đó nổi bật lên vai trò của ba tôi và Bác Khải. Một chi tiết do anh Phan Tấn Trình kể cho đàn em sau nầy thấy được cuộc sống của gia đình bác Cự và gia đình ba mẹ tôi . Anh Trình nhớ lại lúc thiếu thời ở Đàlạt, ham chơi tối về nhà muốn ngủ, anh ngủ luôn bên mẹ tôi như con của mẹ. Sáu chục năm sau, tình cảm nối kết nầy không còn nữa .Lúc đám tang mẹ tôi,cánh Đàlạt chỉ một mình anh Trình về SaiGon tiển biệt…

                  Năm 1962 , 16 năm sau ngày tản cư, anh tôi mới có dịp trở lại Đàlạt , và tìm đến ngôi nhà cũ của ba mẹ. Loáng thoáng nhớ về cảnh cũ so với hiện trạng, thấy Đàlạt đã thay đổi khá nhiều. Những cao ốc mọc lên sau nầy lấn át hẳn ngôi nhà cũ khiến nó trở nên nhỏ bé. Rạp chiếu bóng vẫn còn đó , có thể được tu sửa nhiều lần , hài hòa giữa những cao ốc bên cạnh. Mười sáu năm trước, rạp thường chiếu những phim chiến tranh, cao bồi, có cảnh xe tank , máy bay bốc cháy, và những con ngựa nhảy chồm lên lao vào khán giả. Ngày ấy vẫn có thú vui thả diều trên đồi cỏ, xe hoa diểu hành qua đường phố, và những khúc ca hùng tráng. Thỉnh thoảng còi báo động vang lên inh ỏi vào giữa trưa khi máy bay Đồng Minh thả bom giãi cứu tù binh Anh, Mỹ bị quân Nhật bắt giam tại đây. Đã có lần gia đình chúng tôi phải vào trú ẩn trong hào tránh bom đã được đào sẳn quanh dưới chân một ngọn đồi...

                  Biến cố tháng tám bùng nổ, ba tôi phải bàn giao công việc từ Tòa Công Sứ Pháp cho  chính quyền người Việt... Sau đó không lâu, có tin quân Pháp trở lại Việt Nam. SaiGon đã có súng nổ . Đàlạt cũng sôi sục chuẩn bị chiến đấu, dân chúng trong thành phố phải ra vùng ven lánh nạn.Trên chiếc xe tải mui trần, gia đình chúng tôi ra đi mang theo vật dụng, thực phẩm , bỏ lại căn nhà sau khi khóa hết các cửa. Xe chạy về hướng Đông Nam xuống vùng đồi Trại Hầm. Chỗ ở nằm trong khu đồn điền người Pháp vắng chủ. Ngôi biệt thự màu nâu, rộng rãi, đã có nhiều người lánh nạn vào ở trước khi chúng tôi đến. Sống tạm nơi đây một thời gian ,nhưng bọn nhỏ chúng tôi vẫn còn được vô tư lên đồi thông bẻ chồi non, hái trái cà phê chín màu mận đỏ. Hàng ngày mẹ và người giúp việc vẫn thường trở lại ngôi nhà cũ trên Đàlạt mua thêm thức ăn, lấy lại một vài vật dụng cần thiết. Những chiều mờ tối từng toán trai trẻ mang súng trường, gươm đao, có cả cung tên , chậm rãi đi trên các vùng đồi.Anh tôi kể lại một lần giữa đêm tối cảnh giác, lính Pháp đang lùng sục truy tìm du kích, bỗng tiếng khóc thét vang lên của tôi làm cho người bạn của ba tôi phải ra tay trấn áp. Ông gọi tôi dậy, cầm một thanh gươm cán dài, rút lưỡi gươm sáng lóe dọa cho chú bé câm tiếng...

            Tình hình diển biến nhanh chóng. Một hôm, ba tôi từ đâu về nhà giữa đêm khuya. Buổi sáng trời nắng ấm, ông phát động một cuộc di tản . Ba tôi cõng bé gái út, tôi làm biếng lì lợm không chịu đi,anh trai lớn phải cõng tôi . Mẹ ,chị tôi và anh trai thứ hai còn nhỏ , mang vác đủ thứ vật dụng áo quần, thức ăn, bình đựng nước... Cả đoàn è ạch đi với đôi chân nặng nhọc. Phải đi trong bao lâu mới hết đoạn đường khổ nhọc nầy, không thể nhớ rỏ. Suốt con đường dài vắng hẳn bóng người, xe thì chạy ngược chiều với chúng tôi. Hai bên đường toàn cả bụi rậm, phía xa trước mắt là núi phủ mây mù. Đi mãi...đến lúc mặt trời khuất dần sau những ngọn núi. Đoàn người lầm lủi đi giữa đêm đen. Mệt quá không bước nổi, phải ngồi bệt bên đường nghỉ từng chặn ngắn. Đến hồi phía Đông lóe lên nguồn sáng đèn điện mờ vàng, cả đoàn chỉ tay về phía đó, reo mừng hò hét quên cả mệt nhọc. Thị trấn Tháp Chàm , Phan Rang đây rồi... Phan Rang là nơi Ba Mẹ tôi thường hay về tắm biển ... 

            Đêm trung tâm thị xã Phan Rang sáng dưới ánh đèn và ánh trăng. Chúng tôi bước vào một ngôi đền , không rỏ là đình hay chùa, vì nhận ra các tượng thần uy nghi bên trong. Ngoài sân bắt gặp những người đàn ông quần cụt ở trần không mảnh áo che thân, nằm ngủ say trên những chiếc chiếu trải xiêng theo từng hàng đều nhau. Bầu không khí ngột ngạt , chúng tôi tìm được chỗ nghỉ tạm bên ngoài ngôi đền là mái hiên nhà ga xe lửa. Sáng hôm sau,chúng tôi dậy sớm, quang cảnh nhà ga hiện ra rất lạ mắt,nhiều đường ray song song trãi dài ra tận chân núi. Một chiếc xe gòn nhỏ,trên xe hai người đàn ông ngồi sụp xuống với một lá cờ đỏ....Chúng tôi ở đây chờ tàu ra Huế...

            Chuyến tàu xuất phát vào buổi sáng sớm. Nhìn ra thấy một vùng nước xanh mênh mông với nhiều tàu buồm. Qua khỏi một khúc quanh, xuất hiện chiếc xà-lup , như lời ba nói, là chiếc tàu lớn với ống khói cao to ,vươn lên giữa biển trời.. Hành trình ra Huế phải luân chuyển qua vài con tàu khác nhau và trải qua nhiều ngày, vì có nhiều cây cầu trên lộ trình bị bom máy bay đánh sập. Một buổi chiều, con tàu chui vào đường hầm , những đốm lửa than sáng đỏ bay vượt qua cửa . Khỏi đường hầm nầy, một lúc sau không nhớ rỏ bao lâu, tàu lại chun vào một đường hầm khác dài hơn phủ đầy bóng tối,sau nầy mới biết đó là hầm đèo Hải Vân. Ra khỏi đường hầm nầy, hành trình đến Huế sắp kết thúc. Đến ga Huế, anh em chúng tôi thay quần áo mới trước khi về nhà nội. Hai đứa bé, mặc đồng phục trắng của hướng đạo sinh, đội mũ nồi đỏ , về đến làng quê nổi lên như một hiện tượng mới lạ trước mắt mọi người. Ghé nhà nội thăm viếng, gặp gỡ bà con đâu một hai ngày, gia đình chúng tôi chuyển ra sinh sống ở làng ngoại trong căn nhà của ba mẹ ngày cũ..."

            Vài bức ảnh xưa gợi nhớ hình bóng Đalạt ngày ấu thơ...

DaLat 2

Một góc phía sau nhà Ga Đà Lạt vào những năm 1940



DaLat 3

Một góc Đàlạt năm 1936


Phan Tấn Uẩn


Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
30 Tháng Giêng 20172:36 SA(Xem: 5191)
Người ta bảo rằng Mahatma Gandhi có một khả năng thuyết phục tuyệt vời khi giúp cho người dân Ấn Độ nhận ra rằng vận mệnh của kẻ cầm quyền đang nằm trong chính bàn tay của họ, chỉ cần quăng đi nỗi sợ hãi họ có thể đối diện để nói chuyện sòng phẳng với chính quyền. So với VN ngày nay, số phận dân tộc VN cũng thế. Có thực sự đáng tiếc là chúng ta không có một Gandhi không?
09 Tháng Giêng 201712:12 SA(Xem: 6005)
Mỗi buổi sáng khi sương mù còn là một biển hơi trắng xoá chưa tan biến trên khắp vùng Missouri City, khi sân chơi mênh mông của ngôi trường tiểu học địa phương đối diện với cái địa chỉ văn chương Blue Ridge 1802 còn hoàn toàn vắng lặng, khi cách đó 5 dặm đường đồng, nhà thơ trẻ Hoàng Ngọc Ẩn, người hàng xóm Việt Nam còn ngủ vùi sau một ngày làm việc ở các tiệm sách nhạc mới mở dưới phố, nhà văn Mặc Đỗ đã một mình thức dậy.
18 Tháng Chín 20167:54 CH(Xem: 9382)
Bài viết "Con Đường Mặc Đỗ Từ Hà Nội - Sài Gòn Tới Trưa Trên Đảo San Hô" hoàn tất ngày 20.06.2015, biết nhà văn Mặc Đỗ không dùng internet, qua Priority Mail tôi đã gửi ngay tới Anh một bản in, tôi nghĩ Anh cũng đã nhận được và đọc bài viết ấy. Thỉnh thoảng tôi vẫn có dịp nói chuyện điện thoại với anh, vẫn một Mặc Đỗ giọng nói còn sang sảng và tinh thần thì rất ư là minh mẫn.
19 Tháng Bảy 20162:38 SA(Xem: 10498)
Trên đám mây có khuôn mặt của người mình thương / Ký ức tuổi nhỏ của em gắn liền với cái hàng ba. / Bây giờ chắc không ai biết “cái hàng ba” là gì? Đi đâu rồi em cũng trở về với cái hàng ba.
30 Tháng Tư 20161:32 SA(Xem: 13213)
"Thảm kịch của dân tộc Việt suốt hơn 70 năm qua phần nào khởi nguồn từ sự thiếu hiểu biết chính xác về Côn [Hồ], cũng như Đảng Cộng Sản Việt Nam, và ngay cả cái học thuyết dịch sai thành “Cộng Sản,” của “Mã Khắc Tư.” Nói rộng hơn, sự hận thù, phân hóa giữa các giai tầng, phe nhóm Việt phần lớn do sự cận thị lịch sử mà ra: chúng ta đã phải chia phe phái bắn giết, hận thù, chửi rủa nhau suốt bao thập niên, đúng hơn hàng chục thế kỷ qua, cũng chỉ do bị nhiễm độc bởi những ngụy sử, do tài liệu tuyên truyền tinh vi của nhiều phe nhóm, chính quyền và cường quốc tạo nên; hoặc do những người thiếu kiến thức, lại tham vọng bắt lịch sử phải uốn quanh “chiếc giường tên tướng cướp trên lưng” mình." (NGUYÊN VŨ)
27 Tháng Tư 201611:25 CH(Xem: 11817)
Nổi buồn ngay cả không thể neo đậu vào những chiếc áo chemise trắng của ba tôi, vào hàng nút áo đã bị cắt rời khỏi khuy áo, mà mới đó chỉ hơn 60 ngày trước, và suốt trong 60 năm chính tay mẹ tôi đã cẩn thận và âu yếm cài từng chiếc nút áo vào khuy áo?
04 Tháng Tư 20161:35 CH(Xem: 7637)
Từ nhiều năm nay trước khi lên giường ngủ, tôi phải uống ba loại thuốc an thần một lúc. Ngày Đinh Cường còn, chúng tôi thường trao đổi nhau về tên vài loại thuốc trị chứng mất ngủ này. Anh có uống thử, nhưng rồi vẫn trở về với Ambien 5mg, dù thuốc chỉ giúp anh chợp mắt vài ba tiếng, không ngủ lại được.
04 Tháng Tư 20161:28 CH(Xem: 7316)
Năm 1964, lần đầu tiên tôi gặp anh Tạ Chí Đại Trường, sau khi chúng tôi rời trường Bộ binh Thủ Đức để về trường Quân Y học giai đoạn 2, ngành Hành chánh Quân y. Cùng thời gian này anh học cao học, chuẩn bị lấy bằng Thạc sĩ và đang sưu tập, nghiên cứu về tiền cổ. Anh từng cho tôi xem những đồng xu mà anh sưu tập được.
04 Tháng Tư 201612:59 SA(Xem: 6929)
Khi nghe tin nhà sử học Tạ Chí Đại Trường tạ thế ngày 24.3.2016 sau thời gian ngắn khoảng 5 tháng khi từ Mỹ quay về sống những ngày cuối đời tại Việt Nam với di nguyện được gởi nắm tro tàn bên cạnh mẹ ở quê hương. Ở tuổi đời 81, độc thân và với những công trình nghiên cứu không những về mảng lịch sử gần như bị lãng quên mà còn là người giải mã những giá trị văn hóa tâm linh trong dòng chảy văn hóa dân tộc.
08 Tháng Hai 20162:49 CH(Xem: 10052)
Nhiều hơn một người bạn ngoại quốc từng hỏi tôi: “Tại sao đã gần 30 năm qua, người Việt vẫn chưa thề hòa giải, đoàn kết dân tộc, hầu hiện đại hóa xứ xở, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thịnh vượng, đủ sức chung vai thích cánh với thế giới?” Gần ba mươi năm nghiên cứu sử học, chín năm vào ngành luật học, tôi vẫn chưa tìm được câu trả lời. Chuyến du khảo tại Việt Nam từ tháng 11/2004 giúp tôi thêm can đảm để mạo muội đưa ra những suy nghĩ đã âm thầm triển khai trong tâm tư nhiều thập niên.