- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc

THẢM HỌA NEPAL: LỜI CẢNH BÁO TRƯỚC THAM VỌNG CHẾ NGỰ HY MÃ LẠP SƠN CỦA TRUNG QUỐC

Thursday, September 17, 202611:54 PM(View: 2723)

Thảm họa Nepal:lời cảnh báo trước tham vọng
chế ngự Hy Mã Lạp Sơn của Trung Quốc

TRÙNG DƯƠNG



 

TD1-2026-09-17_235610


Hình chụp lại một khúc phim của Đài Truyền hình Trung Hoa CCTV ghi lại giây phút thành phố Gyirong ở Tây Tạng tại biên giới với Nepal bị cơn lũ gồm băng tan và đá núi ập xuống từ núi cao, ngày 26 tháng 8, 2026. (Ảnh Wikimedia Commons) Cũng tại địa điểm này, ngày 8 tháng 7, 2025 đã xẩy ra một vụ lũ do một cái hồ tạo bởi sông băng tan bị mưa tràn.

 

Sáng ngày 26 tháng 8 năm 2026, vùng biên giới Nepal–Tây Tạng bỗng biến thành một hành lang chết chóc. Một khối băng khổng lồ sụp đổ trên cao nguyên Himalaya, kéo theo đá núi và nước tan tràn xuống các thung lũng bên dưới. Chỉ trong thời gian rất ngắn, dòng nước bùn ấy phình to thành một trận lũ dữ dội—một thứ “sóng thần trên núi”—cuốn phăng cầu cống, đường sá, nhà cửa, trạm biên phòng và toàn bộ những khu dân cư nằm dọc theo các con sông. Những gì còn lại sau đó là một cảnh tượng không còn có thể nhận ra: làng mạc bị xóa khỏi bản đồ, nhà máy điện bị chôn vùi, xe cộ nằm chỏng chơ giữa bùn đá, còn những gia đình sống sót thì đứng bên bờ sông, ngóng tìm một bóng người quen thuộc.

 

Thảm họa không chỉ xảy ra trong phạm vi Nepal. Dòng lũ từ vùng núi cao trên Himalaya đã quét qua Tây Tạng (bị Trung Quốc chiếm đóng từ năm 1959) trước khi đổ xuống Nepal, đặc biệt tại các huyện Rasuwa và Nuwakot, kéo theo cả đá tảng, cây rừng, bất cứ vật gì nằm trên đường chảy với tốc độ cỡ 100 km/giờ, hay 62 mph. Tại một khu phức hợp nhập cảnh của Trung Quốc gần cửa khẩu Gyirong–Rasuwagadhi, nhiều người đang chờ hoàn tất thủ tục để sang Nepal đã bị nước lũ bất ngờ ập tới. Trong số những người mất tích có một đoàn 49 tín đồ Ấn Độ trở về sau chuyến hành hương núi Kailash. Người thân của họ đã vượt hàng ngàn cây số để tìm kiếm, đi qua các trung tâm cứu trợ, nhà xác và những vùng bị tàn phá, nhưng nhiều người vẫn chưa có tin tức. Tính đến ngày 31 tháng 8, Nepal ghi nhận 903 người thiệt mạng và 4.247 người mất tích, trong đó có 592 người nước ngoài, với tên tuổi gốc gác. Phía Trung Quốc báo cáo 16 người chết và 546 người mất tích, gồm hơn một trăm người Nepal, ngoài ra, không có thông tin chi tiết.

 

Tại Tây Tạng, lũ bùn đá đã cuốn sập nhiều khu dân cư, đường sá, cầu cống và các công trình thủy điện, khiến ít nhất 16 người thiệt mạng và 546 người mất tích, trong đó có hơn 100 công nhân Nepal. Tuy nhiên, thảm họa diễn ra trong một khoảng tối thông tin: chính quyền Trung Quốc hạn chế phóng viên tiếp cận hiện trường, kiểm soát hình ảnh và dữ liệu về thiệt hại, còn các bản tin chính thức xuất hiện thì chậm và rất ít chi tiết. Vì vậy, quy mô thật sự của thảm họa tại Tây Tạng vẫn chưa được xác định rõ. Chỉ mãi gần đây, vào đầu tháng 10, Trung Quốc mới cho phát hình trên CCTV những khúc phim của các đoàn cấp cứu đi tìm nạn nhân và nỗ lực xây lại những khúc đường đã bị lũ hủy hoại.

 TD2-2026-09-17_235647


Cộng đồng Bahrabise Bazar, Nepal, trước và sau trận lũ do băng lở giết chết hàng trăm người với hàng ngàn vẫn còn mất tích, ngày 26 tháng 8, 2926. (Ảnh Wikimedia Commons)

Nhưng phía sau những con số khủng khiếp trên còn có một cuộc tìm kiếm âm thầm và tuyệt vọng hơn: cuộc giải cứu hàng trăm công nhân đang bị mắc kẹt trong các đường hầm thủy điện tại Nepal. Hiệp hội các nhà sản xuất điện độc lập Nepal ước tính khoảng 900 công nhân tại 12 dự án thủy điện đã mất liên lạc; trong số đó, khoảng 500 người được cho là đang ở bên trong những đường hầm bị bùn, đá và nước lũ phong kín. Riêng dự án Upper Trishuli-1 tại Rasuwa có khoảng 576 người mất tích, với gần 300 người được tin là đang bị kẹt dưới lòng núi. Tại Trishuli-3, các đội cấp cứu phải đào sâu khoảng 15 mét để tìm đường tiếp cận những người sống sót.

 

Các đường hầm này vốn được xây để dẫn nước vào hệ thống phát điện, rộng đủ cho xe tải chạy qua. Vì thế, người ta hy vọng một số công nhân có thể đã tìm được chỗ trú trên những khoảng cao hơn và vẫn còn không khí để thở. Đội cứu trợ  Nepal, cùng các chuyên gia và nhân viên hỗ trợ từ Ấn Độ và Trung Quốc và nhiều các quốc gia khác đang dùng máy đào, bơm nước, chất nổ có kiểm soát và chó nghiệp vụ để mở từng mét đường bị vùi lấp. Nhưng mỗi giờ trôi qua đều làm hy vọng mỏng đi. Nhiều gia đình vẫn chờ bên ngoài các công trường, cầm điện thoại không còn đổ chuông, nhìn vào những danh sách người mất tích được cập nhật từng ngày.

 

 TD3-2026-09-17_235726

Lộ trình trận lũ quét ngày 26 tháng 8, 2026 do băng lở trên Himalaya kéo theo đá núi vượt vùng Tibet băng biên giới với Nepal xuống thung lũng, quét theo nhà cửa, làng mạc và sinh mạng của hàng chục ngàn người. (Minh hoạ ChatGPT)

 

 

Trong hàng hà thảm kịch đôi khi có những điểm sáng. Như chuyện một ông hiệu trưởng trong vòng có 15 phút đã huy động khoảng 900 học sính thoát hiểm chạy lên vùng cao trong khi ngôi trường của họ bị lũ quét sạch. Và vào tuần lễ đầu tháng này, 10 ngày sau trận hồng thủy và trong khi các đoàn cấp cứu vẫn nỗ lực đào bới tìm kiếm người sống sót dù rất ít hy vọng, một phép mầu đã xẩy ra khi họ tìm thấy và cứu được hai công nhân Nepal và một Trung Quốc. Trong khi đó, người dân tại một làng bị lũ tàn phá nghe được tiếng người trong một căn nhà ba tầng bị chôn vùi trong bùn chỉ còn tầng trên cùng nhô lên khỏi mặt bùn, họ liền báo cho ban cấp cứu tới giúp đem một phụ nữ còn sống ra.

 

Tính đến ngày 5 tháng 9, tổng cộng 1.259 người chết tìm thấy xác, trên 5.000 người bị mất tích, gồm cả trên 500 người nước ngoài, và 7.500+ căn nhà bị phá hủy. Các nghiên cứu đã cùng đi tới kết luận: Hiển nhiên là thảm họa Nepal-Tibet này là hậu quả của băng lở do nền đất đóng băng vĩnh cửu (permafost) tan vì khí hậu toàn cầu đang nóng dần. Và đây là thảm họa mở đầu cho một tương lai còn nhiều bất ổn.

 

Và thảm kịch này cũng đồng thời mở đầu cho câu hỏi lớn của bài viết: khi Himalaya đang nóng lên, sông băng tan rã và đất núi mất dần sự ổn định, con người còn có thể và có nên tiếp tục đào xuyên, chặn dòng và xây dựng trên những sườn núi ấy đến bao lâu nữa?

 

Khi Núi Non Lên Tiếng: Tìm Hiểu Tham vọng Himalaya Của Trung Quốc Và Những Lời Cảnh Báo Bị Phớt Lờ

 

Cuối năm ngoái, Trung tâm Stockholm – một tổ chức nghiên cứu có trụ sở tại Thụy Điển – đã cảnh báo tại Hội nghị về khí hậu thay đổi COP30 ở Bélem, Brazil, rằng Cao nguyên Tây Tạng đang trải qua một quá trình biến đổi sinh thái nhanh chóng nhưng phần lớn lại bị bỏ qua. Tờ India Today đã đưa tin về cảnh báo này và lập bản đồ về mạng lưới cơ sở hạ tầng đang được Trung Quốc mở rộng trên khắp cao nguyên; tuy nhiên, thông tin này cũng lại ít thu hút được sự chú ý.

 

Theo lời cảnh báo, việc Trung Quốc xây đập thủy điện, đường hầm và hạ tầng quy mô lớn trên Himalaya có thể khuếch đại các thảm họa do biến đổi khí hậu gây ra. Sông băng (glacier) và đất đóng băng (permafrost) đang tan chảy làm núi non bất ổn, gia tăng nguy cơ sạt lở, lũ do hồ băng vỡ và lũ quét (flashflood). Động đất hoặc sụp núi có thể làm hư hại đập, tạo ra thảm họa dây chuyền xuyên biên giới. Những dòng sông bị điều tiết cũng đe dọa nguồn nước, mùa màng và hàng trăm triệu người ở Ấn Độ, Bangladesh và Nepal.

 

Các sông băng trên dãy Himalaya đang sụp đổ. Như đã tường trình ở trên, vào thứ Tư, ngày 26 tháng 8, một khối băng khổng lồ đã vỡ ra tại vùng biên giới Nepal, tạo nên những trận lũ thảm khốc cuốn phăng nhiều cộng đồng và để lại một câu hỏi nhức nhối giữa bầu không khí mỏng của núi cao: Các công trình xây dựng của con người đóng vai trò gì khi chính thiên nhiên cũng đang trở nên bất ổn?

 

Một Hệ Thống Núi Đang Bị Bao Vây

 

Himalaya vốn luôn mong manh. Sông băng tiến lên rồi rút lui. Sườn núi dịch chuyển. Dòng sông mở những lối đi mới. Đó là nhịp vận động tự nhiên của dãy núi cao nhất thế giới. Nhưng nhịp điệu ấy đang bị phá vỡ.

 

Biến đổi khí hậu đã đẩy nhanh mọi thứ. Các sông băng tan nhanh hơn bất cứ dự đoán nào trước đây. Tầng đất đóng băng vĩnh cửu—là lớp đất bị đông cứng lâu đời vốn giữ cho sườn núi ổn định suốt hàng ngàn năm—đang tan rã. Gần 40% tầng đất đóng băng vĩnh cửu trên Cao nguyên Tây Tạng hiện đã ấm lên và trở nên bất ổn. Khi đất đóng băng mềm đi, những sườn núi phía trên cũng yếu dần. Núi non theo đúng nghĩa đen đang tan rã.

 

Đây là giai đoạn mong manh mà dãy Himalaya đã bước vào. Đây cũng là lúc những ngọn núi dễ bị tổn thương nhất.

 

Và đúng vào thời điểm này, Trung Quốc lại chọn cách xây dựng.

 

Vành Đai Hạ Tầng: Một Hệ Sinh Thái Bị Biến Đổi

 

Chỉ riêng những con số bên dưới cũng đã kể lên câu chuyện về một tham vọng có quy mô hiếm thấy trong lịch sử nhân loại.

 

Kể từ năm 2020, các nhà nghiên cứu đã ghi nhận ít nhất 90 dự án hạ tầng của Trung Quốc rải rác dọc theo vành đai Himalaya tại Tây Tạng. Những con số cụ thể đáng kinh ngạc:

 

-- 27 sân bay và bãi đáp trực thăng, trong đó hơn một nửa nằm ở độ cao trên 4.000 mét, tức 12.000 feet—cao hơn mức mà phần lớn con người có thể hít thở một cách thoải mái;

-- 17 dự án đường sắt và mạng lưới hậu cần, đưa các tuyến tàu tiến sâu hơn vào những vùng địa hình trước đây vốn rất hẻo lánh;

-- 33 đường hầm, gồm 21 đường hầm dành cho đường bộ và 12 dành cho đường sắt, được đào xuyên qua đá nguyên khối, với tổng chiều dài khoảng 370 kilômét, tức 229 miles;

-- 13 đập, hồ chứa và nhà máy thủy điện kiểm soát dòng chảy của những con s

ông rồi cuối cùng trở thành nguồn sống của Ấn Độ.

 TD5-2026-09-17_235807

Nguồn: India Today

 

Đây không phải là những dự án riêng lẻ. Chúng tạo thành một vành cung hạ tầng liên tục, trải dài từ vùng Karakoram gần Ladakh cho đến phía đông Himalaya, đối diện Arunachal Pradesh. Đây là một nỗ lực có thể tái định hình toàn bộ hệ thống núi cao nhất thế giới này, và cũng là nguồn nước cần thiết cho hàng tỉ con người ở hạ nguồn.

 

TD5-2026-09-17_235951
Bản đồ ChatGPT

 

Xây Dựng Trên Bầu Trời: Những Sân Bay Giữa Không Khí Loãng

 

Hãy bắt đầu với các sân bay. Hầu hết mọi người đều hiểu tại sao xây sân bay là việc khó—cần có mặt bằng phẳng, vật liệu ổn định và hệ thống thoát nước đáng tin cậy. Bây giờ hãy hình dung việc xây dựng ở độ cao 4.876 mét, nơi áp suất không khí chỉ bằng một nửa so với ở mực nước biển, nơi nhiệt độ tụt xuống thấp hơn nhiều so với mức đóng băng, và nơi mặt đất dưới chân là đá bất ổn cùng băng đang tan.

 

Đó chính là những gì Trung Quốc đã thực hiện. Bãi đáp trực thăng Aksai Chin nằm ở độ cao 4.876 mét. Jiareke và Rutog đều cao hơn 4.500 mét. Mười ba trong số 27 sân bay nằm ở độ cao trên 4.000 mét.

 

Việc mở rộng đã tăng tốc mạnh sau năm 2020. Mười bốn trong số 27 cơ sở được nâng cấp, mở rộng hoặc đã hoạt động từ năm 2020 đến nay. Vào tháng 7 năm 2021, hình ảnh vệ tinh cho thấy những đường băng mới đang mọc lên tại Burang và Tingri. Đến cuối năm 2022, Longzi đã có một đường băng dài 4.500 mét.

 

Những sân bay này không chỉ phục vụ dân sự. Một số là cơ sở lưỡng dụng—sử dụng cho mục đích dân sự trong thời bình, nhưng có khả năng phục vụ hậu cần quân sự, giám sát và tác chiến.

 

Burang hướng về khu vực ngã ba nhạy cảm nơi Ấn Độ, Nepal và Trung Quốc gặp nhau. Tingri nhìn xuống Nepal và vùng trung tâm Himalaya. Longzi nằm gần biên giới Arunachal Pradesh.

 

Mục đích chiến lược đã quá rõ. Nhưng thực tế địa chất cũng rõ không kém: không thể đào sân bay vào một hệ thống núi đang mất dần sự ổn định mà không gây ra hậu quả.

 

Định Hình Lại Những Dòng Sông: Can Thiệp Vào Chính Nguồn Nước

 

Được biết Mao Trạch Đông từng nói: “Miền nam có nhiều nước hơn, miền bắc có ít nước hơn. Nếu có thể thì cứ mượn một ít.”

 

Triết lý ấy đã định hình chính sách về nước của Trung Quốc trong nhiều thập niên. Trung Quốc đã xây dựng hơn 80.000 con đập và hơn 98.000 hồ chứa. Mong muốn kiểm soát nguồn nước ăn sâu trong tư duy chiến lược của Trung Quốc—và không nơi nào thể hiện rõ điều đó hơn vùng Himalaya.

 

Chín trong số 13 con đập được lập bản đồ nằm trong hệ thống sông mà cuối cùng sẽ chảy vào Ấn Độ dưới tên sông Brahmaputra. Chỉ riêng thực tế này cũng đủ khiến tình hình trở nên hệ trọng đối với toàn khu vực. Ấn Độ phụ thuộc vào nguồn nước này. Hàng triệu người ở Bangladesh cũng vậy.

 

Những gì Trung Quốc thực hiện ở thượng nguồn sẽ ảnh hưởng đến tất cả những người sống ở hạ nguồn. Như Việt Nam đang có kinh nghiệm của một quốc gia nằm ở tận cùng hạ nguồn sông Mekong, cùng lúc phải đương đầu với nạn nước biển ngày một dâng cao gây ngập mặn ruộng đồng.

 

Trong số các dự án xây dựng của Trung Quốc, có một dự án nổi bật vì tham vọng gần như liều lĩnh của nó.

 

Vào tháng 7 năm 2025, Trung Quốc bắt đầu xây dựng Tổ hợp Thủy điện Medog—gồm năm nhà máy thủy điện nối tiếp nhau, với chi phí ước tính 1,2 nghìn tỷ nhân dân tệ, tức khoảng 178 tỉ Mỹ kim. Địa điểm này được chọn vì sông Yarlung Tsangpo, tại khúc Đại Uốn gần Medog, đổ xuống gần 2.000 mét chỉ trong 50 kilômét (có nghĩa là độ chênh cao rất cao trên một khoảng cách ngắn, tạo ra gradient, tức độ dốc, gần như thẳng đứng). Tiềm năng thủy điện ở đây là vô cùng lớn.

 

Vấn đề nằm ở chỗ: đây là một trong những hẻm núi sâu nhất và bất ổn nhất về mặt địa chất của dãy Himalaya. Các nghiên cứu kỹ thuật mô tả địa hình bằng những thuật ngữ gần như ác mộng—áp lực nền đất cực lớn, địa chất không ổn định, nhiệt địa nhiệt và nhiều mối nguy khác mà trước đây chưa từng được xử lý thành công ở quy mô như vậy.

 

Trung Quốc đang cố thực hiện một việc chưa từng được thực hiện. Và họ đang làm điều đó tại một trong những nơi mong manh nhất trên Trái Đất.

 

Xuyên Qua Đá: Đào Hầm Vào Vùng Bất Ổn

 

Nếu sân bay và đập nước thể hiện tham vọng, thì những đường hầm lại cho thấy sự ám ảnh.

 

Tuyến đường sắt Xuyên Tứ Tạng—dài 1.500 kilômét, tức 932 miles—sẽ băng qua hơn 40 đường đứt gãy (fault line) lớn. Chưa có dự án đường sắt nào trước đây từng cố vượt qua địa hình tương tự. Riêng đoạn Nhã An–Nyingchi đã được các nghiên cứu kỹ thuật mô tả là một vùng đất có áp lực nền đất cực lớn, địa chất bất ổn, nhiệt địa nhiệt và nhiều mối nguy khác.

 

Để vượt qua địa hình này, Trung Quốc đang khoan xuyên qua núi. Đoạn Bomi–Nyingchi, bắt đầu thi công vào năm 2021, đòi hỏi hơn bốn phần năm toàn tuyến phải chạy trên cầu hoặc qua đường hầm. Riêng phần đường hầm đã dài gần 95 kilômét, tức 59 miles.

 

Rồi còn tuyến đường sắt Bomi–Ranwu—chỉ dài 134 kilômét, nhưng khó đến mức một đường hầm, Yigong, tự nó đã dài 42,4 kilômét. Bốn đường hầm khác mỗi đường dài khoảng 30 kilômét.

 

Tổng cộng, trong 30 đường hầm có thể xác định, chiều dài gộp lại vào khoảng 370,5 kilômét, tức 320 miles, gồm các hoạt động nổ mìn, đào xới và lấy đá ra khỏi một hệ thống núi đang chủ động mất ổn định.

 

Mỗi vụ nổ gửi những rung động xuyên qua lớp đá vốn đã suy yếu. Mỗi đường hầm lấy đi một phần vật chất từng giúp giữ cho sườn núi đứng vững. Mỗi hoạt động đào xới lại tạo thêm áp lực lên địa hình vốn đã đang chuyển động.

 

Hiệu Ứng Dây Chuyền: Khi Bất Ổn Gặp Công Trình Xây Dựng

 

Đây mới là nơi nguy hiểm thật sự xuất hiện—không phải từ một dự án riêng lẻ nào, mà từ tác động cộng dồn của tất cả các dự án.

 

Trong nhiều năm, các nhà nghiên cứu đã cảnh báo rằng nổ mìn, đào hầm, đào xới và cắt xẻ sườn núi sẽ cộng dồn sự bất ổn tại những vùng núi vốn đã bị nhiệt độ gia tăng, sông băng thu hẹp và tầng đất đóng băng vĩnh cửu tan chảy tái định hình. Đây không phải là một lời cảnh báo mang tính giả thuyết. Nó dựa trên những nguyên lý căn bản của vật lý và địa chất.

 

Khi tầng đất đóng băng vĩnh cửu tan, sườn núi yếu đi. Nếu sau đó người ta tiếp tục đào, nổ mìn và đổ đất đá thải vào địa hình đã suy yếu ấy, những áp lực riêng rẽ này sẽ được cộng thêm vào vùng đất vốn đã đang chuyển động. Nếu lại đặt vào đó một con đập khổng lồ để dồn nước—làm tăng trọng lượng và áp suất—thì chẳng khác nào liên tục đấm vào một bức tường vốn đã nứt.

 

Không điều gì trong số này nhằm khẳng định rằng hoạt động xây dựng của Trung Quốc trực tiếp gây ra vụ sụp đổ sông băng ngày 26 tháng 8. Một dự án cách xa hàng trăm kilômét không thể tự nó giải thích cho một vụ sụp đổ sông băng đơn lẻ. Các nghiên cứu cũng đã nói rất rõ về điểm này.

 

Lời Cảnh Báo Mà Nepal Đã Gửi Đến Thế Giới

 

Thảm họa Nepal-Tibet không xảy ra do tại dự án xây dựng Tổ hợp Thủy điện Medog. Nhưng nó là một lời cảnh báo.

 

Khi một sông băng sụp đổ ở một nơi trên Himalaya, nó phơi bày điều gì đó về toàn bộ hệ thống. Nó cho thấy núi non bất ổn và dễ biến động hơn chúng ta từng nghĩ. Nó cho thấy những lực đang tái định hình Himalaya—biến đổi khí hậu, tầng đất đóng băng vĩnh cửu tan chảy và sông băng rút lui nhanh chóng—mạnh mẽ và khó đoán hơn những gì các mô hình dự báo.

 

Và nó cho thấy điều gì có thể xảy ra khi tham vọng xây dựng hạ tầng mạnh mẽ nhất thế giới gặp phải hệ thống núi đang biến đổi nhanh nhất thế giới.

 

Hậu quả không dừng lại ở biên giới. Sông Yarlung Tsangpo trở thành sông Siang tại Arunachal Pradesh, rồi trở thành sông Brahmaputra ở Ấn Độ. Băng tan, nước xả từ các con đập và những dòng chảy bị thay đổi—tất cả đều chảy xuống hạ nguồn, hướng về Ấn Độ, Bangladesh và Nepal. Hàng triệu người phụ thuộc vào những con sông này để có nước uống, tưới tiêu và sinh tồn.

 

Tham vọng của Trung Quốc tại Himalaya không phải là điều mới mẻ. Mong muốn tái định hình các dòng sông, kiểm soát nguồn nước và xây dựng hạ tầng tại những địa hình khắc nghiệt đã ăn sâu trong chiến lược và văn hóa kỹ thuật của Trung Quốc.

 

Nhưng chính thời điểm hiện tại mới khiến tình hình trở nên đặc biệt nguy hiểm. Núi non đang biến đổi nhanh hơn bao giờ hết. Sông băng đang rút lui. Tầng đất đóng băng vĩnh cửu đang tan chảy. Sườn núi đang trở nên bất ổn. Và Trung Quốc lại đang đẩy nhanh tốc độ xây dựng đúng vào lúc chính mặt đất đang trở nên không đáng tin cậy.

 

Dự án Medog, bắt đầu vào tháng 7 năm 2025, là đỉnh điểm của tiến trình này. Đây là nỗ lực tham vọng nhất từ trước đến nay nhằm can thiệp và điều khiển một hệ thống sông Himalaya tại một trong những khu vực bất ổn nhất về mặt địa chất trên Trái Đất.

 

Dự án sẽ thành công hay trở thành một lời cảnh báo khác—giống như vụ sụp đổ sông băng ngày 26 tháng 8—vẫn còn phải chờ thời gian trả lời. Nhưng có một điều chắc chắn: Himalaya không còn là phông nền ổn định cho các hoạt động của con người nữa. Đó là một hệ thống sống động và bất ổn.

 

Và những công trình đang được xây dựng ở đó sẽ tạo ra những hậu quả lan rộng qua các biên giới, xuôi dòng về phía hạ nguồn, hướng đến hàng triệu người vốn không có tiếng nói nào trong quyết định biến đổi những ngọn núi này.

 

Các sông băng đang lên tiếng. Câu hỏi là: có ai đang lắng nghe hay không? [TD2026-09]

 

Bài này được thực hiện với sự trợ giúp của một số AI chatbots, gồm nghiên cứu và minh họa.

Send comment
Your Name
Your email address
Tuesday, September 12, 202312:43 AM(View: 37467)
Hai câu trên nằm trong bài thơ mang tên “Lễ Phục Sinh 1916” của William Butler Yeats. Bài thơ nhằm tưởng nhớ tới những người đã ngã xuống cho tự do và độc lập của Ireland. Cuộc hành quyết đẫm máu các thủ lĩnh cách mạng sau cuộc trỗi dậy vào ngày lễ phục sinh đã đánh thức cả một thế hệ Ireland. Cuối cùng, nhân dân Ireland cũng dành được độc lập vào năm 1949 và bài thơ của Yeats được cho là một trong những bài thơ chính trị hay nhất của thế kỷ 20 trong lịch sử văn học nước Anh.
Monday, September 4, 20238:30 PM(View: 34601)
Trong ngót hai chục phim truyện điện ảnh tham dự tranh Giải Cánh Diều năm nay của Hội Điện ảnh VN, có thể nói “Em & Trịnh” là một tác phẩm hoành tráng bậc nhất. Và cũng cần phải thẳng thắn điều này: những người làm “Em & Trịnh” đã rơi vào cả hai tình huống đặc biệt của Điện ảnh: a. thực hiện một bộ phim chân dung vốn đầy thử thách, b. đặc biệt là phim ca nhạc sẽ cực kỳ khó khăn về các yếu tố kỹ thuật!
Monday, July 10, 20231:55 PM(View: 35315)
PHỤ NỮ GIỮA CHIẾN TRANH VIỆT NAM: THỜI ĐIỂM 1969 Tầm nhìn Chiến tranh, Giấc mơ Hòa bình [Visions of War, Dreams of Peace] [1] là nhan đề một tuyển tập thơ của các nhà thơ nữ; nếu là Mỹ trong chiến tranh Việt Nam, họ đã là những nữ quân nhân như y tá, bác sĩ đã từng chăm sóc các thương bệnh binh; nếu ở những ngành nghề khác, họ đảm trách các dịch vụ không tác chiến như chuyên viên truyền tin, tiếp vận, kiểm soát không lưu, nhân viên Hồng Thập Tự... Nếu là người Việt, họ là những phụ nữ thuộc hai miền Nam hay Bắc, với những trải nghiệm khác nhau, qua những năm tháng chiến tranh. Và như từ bao giờ, cho dù ở đâu, phụ nữ và trẻ em vẫn là thành phần dễ bị tổn thương nhất trong chiến tranh. Trong tập thơ này, có 34 nhà thơ nữ Hoa Kỳ, và sáu nhà thơ nữ Việt Nam: Xuân Quỳnh (My Son’s Childhood), Hương Tràm (The Vietnamese Mother), Hà Phương (To An Phu, From This Distance I Talk To You), Trần Mộng Tú (The Gift In Wartime, Dream of Peace), Minh Đức Hoài Trinh..., Nguyễn Ngọc Xuân...
Friday, June 9, 20234:36 PM(View: 31518)
T. cận tôi trai Hà Nội, song có dịp được đi & sống ở nhiều vùng đất trở thành thân quen, rồi yêu quý - và một trong những vùng đất đó là Bình Định. Một sinh viên của tôi làm phim tốt nghiệp về “Võ Bình Định”, tôi rất vui, bảo: “Thầy mới chỉ biết đôi chút về Trời văn Bình Định thôi, phim của em giúp thầy và nhiều người hiểu thêm về Đất Võ Bình Định đáng tự hào”… Mấy Hội thảo Khoa học về cụ Quỳnh Phủ Nguyễn Diêu - người thầy của Đào Tấn vĩ đại, về Tổng đốc Lê Đại Cang, may được ông Tổng BT tạp chí Văn Hiến Nguyễn Thế Khoa chiếu cố mời về cùng với tham luận và làm phim nên càng có dịp thâm nhập sâu hơn vào kho tàng văn hóa Bình Định. Một dạo, có lớp tập huấn về Biến đổi khí hậu do Thái Lan và Diễn đàn “Nhà báo Môi trường” tổ chức tại Quy Nhơn, được mời tham dự và làm phim cho họ, tôi có điều kiện hiểu thêm về giá trị của Môi trường “xứ Nẫu” nói riêng và Biển miền trung Trung bộ nói chung…
Wednesday, May 24, 20234:02 PM(View: 34197)
Trong số những nhà thơ lớn Việt Nam các thời Cổ - Trung - Cận đại, tình cảm đặc biệt nhất của tôi với tư cách một người làm phim truyện, là dành cho Thi sĩ-Nhà giáo-Thầy thuốc Nguyễn Đình Chiểu. Bởi theo tôi, giá trị lớn nhất, sức hấp dẫn kỳ lạ nhất trong văn chương Nguyễn Đình Chiểu, chính là trái tim thương cảm của ông đối với Dân, đối với những nghĩa sĩ đã xả thân cho Tổ quốc, và đặc biệt với phụ nữ, trẻ em - những nhóm người yếu thế nhất trong xã hội, nạn nhân đầu tiên của chiến tranh, loạn lạc…
Tuesday, March 21, 20235:16 PM(View: 30977)
Chẳng thể cứ tự hào Việt Nam nay là đất nước phát triển nếu như dân cư của cả nước vẫn phải sống với nguồn nước bẩn và một môi trường đầy ô nhiễm. “Không có kỹ nghệ không gian các quốc gia vẫn sống được, nhưng không thể sống nếu không có nước.” Oded Distel [chuyên gia về nước của Do Thái] Đề nghị chọn Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương mùng 10 tháng 3 là Ngày Nước Việt Nam / Vietnam Water Day. [Nhóm Bạn Cửu Long]
Sunday, February 26, 20238:39 PM(View: 36556)
Mai An Nguyễn Anh Tuấn Ủng hộ lời kêu cứu cho Đồng Bằng Sông Cửu Long của nhà khoa học Ngô Thế Vinh trên vanviet.info và bauxitevn.net
Monday, February 13, 202312:43 AM(View: 34971)
順天者存,逆天者亡 Thuận thiên giả tồn, nghịch thiên giả vong Thuận với thiên nhiên thì còn. Nghịch với thiên nhiên thì mất. [Mạnh Tử] “Kế hoạch phát triển nào cũng phải tính tới cái giá môi sinh phải trả – environmental costs – đối với sức khoẻ của người dân và cả trên nguồn tài nguyên lâu dài của đất nước.” Ngô Thế Vinh
Friday, January 6, 202312:11 AM(View: 33404)
Nguyễn Du chỉ thốt lên một lần duy nhất: Ta vốn có tính yêu núi khi ông Bắc hành, ở đoạn cuối sứ trình; nhưng cái tính đó, ông đã bộc lộ biết bao lần trong 254 bài qua cả ba tập thơ chữ Hán của mình! Ai ham đọc sách mà không biết câu nói có tự cổ xưa: Trí giả lạc thủy, nhân giả lạc sơn (Kẻ trí thì vui với sông nước, người nhân thì vui với núi non); song cái ý tưởng sách vở thể hiện khát vọng thoát tục thanh cao, mơ ước được tựa vào non xanh để tìm sự yên tĩnh vĩnh hằng của nội tâm đó đã được Nguyễn Du trải nghiệm bằng toàn bộ cảm giác buồn, vui, qua các đoạn đời phong trần của mình, và ông miêu tả chúng qua bao vần thơ chữ Hán thực thấm thía, rung động.
Friday, October 14, 202211:28 PM(View: 34236)
Năm 2020, đã có một lúc bao nhiêu triệu cư dân vùng hạ lưu sông Mekong thở phào nhẹ nhõm khi nghe tin Bộ Điện Lực Cam Bốt tuyên bố hoãn mọi dự án thuỷ điện trên sông Mekong trong 10 năm tới [1], như vậy là ít nhất có một thời kỳ dưỡng thương cho dòng sông bị đầy những vết cắt do chuỗi đập thuỷ điện của Trung Quốc và Lào phía thượng nguồn. Nhưng rồi mới đây, chỉ hai năm sau, 2022, là một tin chấn động khác: Phnom Penh tuyên bố cho tái phục hoạt / resurrection dự án thủy điện Stung Treng 1.400 MW trên dòng chính sông Mekong phía đông bắc Cam Bốt sát ranh giới với Lào. Dự án này không chỉ sẽ tàn phá sinh cảnh các khu đất ngập được bảo vệ bởi Công ước Ramsar ký kết từ năm 1971, mà còn gây tác hại vô lường trên hai vùng châu thổ phì nhiêu Tonlé Sap và ĐBSCL. Đây là bài đầu tiên trong loạt 3 bài viết nhìn lại toàn cảnh cuộc hành trình gian truân của một dòng sông – Sông Mekong hơn nửa thế kỷ qua.