- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc

Viễn Kiến Môi Sinh Của Đức Đạt Lai Lạt Ma Từ “Nóc Nhà Thế Giới” tới thảm họa Nepal–Tây Tạng 2026

10 Tháng Chín 202612:22 SA(Xem: 3215)

Viễn Kiến Môi Sinh Của Đức Đạt Lai Lạt Ma

Từ “Nóc Nhà Thế Giới” 

tới thảm họa Nepal–Tây Tạng 2026

 

NGÔ THẾ VINH 

 

Nepal–Tây Tạng 2026 -H1

 

MÙA XUÂN TÂY TẠNG VÀ CÂU CHUYỆN NHỮNG DÒNG SÔNG


Cách đây chín năm, một bài viết của Ngô Thế Vinh đã nhìn Cao nguyên Tây Tạng như “Cực Thứ Ba của Trái Đất”, kho dự trữ băng tuyết khổng lồ và là nơi phát nguyên của những dòng sông lớn nuôi sống hàng tỉ cư dân châu Á, trong đó có Sông Mekong. Đức Dalai Lama từ rất sớm đã cảnh báo rằng vấn đề môi sinh Tây Tạng còn cấp thiết hơn cả những vấn đề chính trị: băng tuyết tan nhanh, phá rừng, khai thác khoáng sản, ô nhiễm nguồn nước và những con đập đang làm biến dạng các dòng sông. Từ đầu nguồn Tây Tạng tới các đồng bằng hạ lưu, tất cả nằm trong cùng một hệ sinh thái liên lập. Thông điệp bài viết năm 2017 vẫn nguyên tính thời sự: “Nếu Tây Tạng khô hạn, Châu Á chết.” https://vietecologypress.blogspot.com/2017/01/mua-xuan-tay-tang-va-cau-chuyen-nhung.html

 

*

Từ ngót bốn thập niên trước, khi biến đổi khí hậu chưa trở thành một ám ảnh của nhân loại như ngày nay, Đức Đạt Lai Lạt Ma , đã nói tới Tây Tạng không chỉ như quê hương của một dân tộc mất quyền tự quyết, đang bị Hán Hoá mà còn như một hệ sinh thái có tầm quan trọng đối với cả châu Á. Trong nhãn quan của ông, hòa bình, quyền con người và bảo vệ thiên nhiên không phải ba vấn đề riêng biệt, chúng liên hệ với nhau và cuối cùng quy tụ vào một câu hỏi căn bản: con người có thể tồn tại lâu dài hay không nếu chính môi trường nuôi sống mình đang bị hủy hoại?

Nhìn lại những lời cảnh báo ấy, sau thảm họa kinh hoàng xảy ra tại vùng biên giới Nepal–Tây Tạng mới đây (ngày 26 tháng 8 năm 2026), người ta khó tránh khỏi cảm giác rằng đó không chỉ là một triết lý Phật giáo về sự tương tác giữa con người và thiên nhiên. Nó còn mang dáng dấp của một viễn kiến môi sinh.

 

Từ một chương trình chính trị tới một tầm nhìn sinh thái


Ngày 21 tháng 9 năm 1987, tại Washington D.C., Đức Đạt Lai Lạt Ma đưa ra Kế hoạch Hòa bình Năm Điểm cho Tây Tạng (Five-Point Peace Plan for Tibet). Điều đáng chú ý là trong năm đề nghị ấy, ông dành hẳn một điểm cho việc, phục hồi và bảo vệ môi trường thiên nhiên Tây Tạng.

Hai năm sau, trong Diễn từ nhận giải Nobel Hòa Bình ngày 11 tháng 12 năm 1989, tư tưởng ấy được ông trình bày rõ ràng và rộng hơn. Ông đề nghị toàn cao nguyên Tây Tạng có thể trở thành một khu bảo tồn thiên nhiên hay sinh quyển khổng lồ, nơi việc khai thác tài nguyên phải được kiểm soát chặt chẽ, các hệ sinh thái phải được bảo vệ và phát triển phải theo hướng bền vững.

Ông hình dung Tây Tạng như một vùng mà con người và thiên nhiên có thể cùng tồn tại trong hòa bình và quân bình.

Đặt trong bối cảnh cuối thập niên 1980, phải nói đây là một ý tưởng đáng chú ý. Khi ấy khái niệm biến đổi khí hậu / climate change chưa chiếm vị trí trung tâm trong chính sách quốc tế như ngày nay; những thuật ngữ như sông băng đang thu hẹp / glacier retreat, sự tan băng vĩnh cửu / permafrost thaw, lũ vỡ hồ băng / glacial lake outburst flood hay Cực Thứ Ba / Third Pole...  chưa xuất hiện hàng ngày trên báo chí thế giới.

Nhưng Đức Đạt Lai Lạt Ma đã nhìn thấy một nguyên lý quan trọng hơn những thuật ngữ khoa học ấy: thiên nhiên không tuân theo biên giới chính trị.

Trong diễn văn Nobel năm 1989, ông nói đại ý rằng những gì xảy ra tại một nơi trên thế giới có thể ảnh hưởng tới tất cả chúng ta. Chiến tranh hay hòa bình, phá hủy hay bảo vệ thiên nhiên, nghèo đói hay thịnh vượng không phải những hiện tượng biệt lập mà liên hệ với nhau ở nhiều tầng mức.

Gần bốn mươi năm sau, Himalaya đang chứng minh nguyên lý ấy bằng một ngôn ngữ khốc liệt hơn: băng, đá, nước và những dòng lũ. 

 

Tây Tạng: “Tháp Nước Châu Á”


Cao nguyên Tây Tạng cùng hệ thống Hindu Kush–Himalaya thường được nhìn như một “Tháp Nước Châu Á / Water Tower of Asia.” Đây là vùng băng tuyết lớn nhất bên ngoài hai địa cực, nên cũng thường được gọi là “Cực Thứ Ba / Third Pole.”

Từ vùng núi cao này phát nguyên hoặc được nuôi dưỡng bởi băng tuyết nhiều hệ thống sông ngòi.

 

 Nepal–Tây Tạng 2026 -H2

Hình 2: Những con sông lớn Châu Á bắt nguồn từ Cao nguyên Tây Tạng

 

Bởi vậy, một biến đổi xảy ra ở độ cao 5.000 hay 6.000 mét không nhất thiết kết thúc ở đó.

Một phân tử nước tan ra từ băng tuyết Himalaya có thể bắt đầu một hành trình rất dài, qua núi cao, thung lũng, biên giới quốc gia, những hồ chứa và đập thủy điện, rồi cuối cùng trở thành một phần của dòng sông nuôi sống những đồng bằng đông dân cách nơi nó khởi nguồn hàng ngàn cây số.

Đó chính là ý nghĩa sinh thái sâu xa của khái niệm phụ thuộc lẫn nhau / interdependence.

 

Ngày 26 tháng 8 năm 2026: khi cả một sườn núi chuyển động


Thảm họa Nepal–Tây Tạng ngày 26/8/2026 đem lại một minh họa kinh hoàng cho tính mong manh của hệ sinh thái ấy.

Những phân tích ban đầu từ ảnh vệ tinh cho thấy một khối khổng lồ gồm đá, băng và trầm tích từ vùng núi cao đã sụp xuống thung lũng. Theo các nhà khoa học được Reuters tham khảo, phần dưới của một glacier ở độ cao khoảng 5.200 mét đã rơi xuống đáy thung lũng thấp hơn khoảng 1.200 mét, kéo theo một khối lượng rất lớn đá, băng, bùn và nước.

Điều đặc biệt đáng chú ý là tín hiệu địa chấn ban đầu từng khiến người ta nghĩ tới một trận động đất. Nhưng Cơ quan Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ cho rằng tín hiệu ấy có thể chính là năng lượng do khối đá và băng khổng lồ sụp xuống tạo ra, chứ không phải một trận động đất thông thường gây nên vụ sạt lở.

Một khi khối vật chất ấy lao xuống, thảm họa không còn giới hạn tại nơi sông băng / glacier bị phá vỡ.

Nước, đá, bùn và băng tràn vào hệ thống Bhote Koshi–Trishuli. Có nơi mực nước phía hạ lưu được báo cáo tăng tới khoảng 9 mét chỉ trong vòng 30 phút.

Đó là tốc độ của một tai biến gần như không cho cộng đồng phía dưới thời gian phản ứng.

Đến ngày 7/9/2026, Reuters ghi nhận ít nhất 1.380 người thiệt mạng và hơn 5.500 người còn mất tích tại Nepal và Tây Tạng; hàng trăm công nhân tại các dự án thủy điện nằm trong số những người chưa tìm thấy.

Nhưng phía sau những con số tử vong ấy còn có một câu hỏi lớn hơn:

Điều gì đang xảy ra với Himalaya?

 

Không thể quy mọi thảm họa đơn giản cho biến đổi khí hậu


Ở đây cần một thái độ khoa học thận trọng.

Không thể chỉ vì một thảm họa xảy ra giữa thời đại hâm nóng toàn cầu / global warming mà lập tức kết luận rằng climate change là nguyên nhân duy nhất.

Các nhà địa chất đang tiếp tục nghiên cứu chuỗi diễn biến của tai biến ngày 26/8. Một phân tích cho rằng một vụ sạt lở đá khổng lồ có thể đã cuốn theo sông băng / glacier; nguồn gốc của lượng nước cực lớn trong dòng bùn đá / debris flow vẫn còn những điểm chưa được giải thích hoàn toàn. Các nhà khoa học cũng lưu ý rằng ở độ cao này, sự tan vỡ của tầng đất đá vốn bị đóng băng lâu dài / permafrost, có thể làm giảm độ ổn định của sườn núi, nhưng việc quy kết một biến cố cụ thể cho khí hậu cần thêm nghiên cứu.

Sự thận trọng ấy rất cần thiết.  Nhưng cũng không thể bỏ qua một bức tranh lớn hơn đã ngày càng rõ.

Các sông băng / glacier Himalaya đang mất băng nhanh chóng. Reuters dẫn dữ liệu Liên Hiệp Quốc cho biết các núi phủ tuyết Nepal đã mất gần một phần ba lượng băng trong hơn ba thập niên, và tốc độ tan sông băng / glacier trong thập niên gần đây nhanh hơn đáng kể so với thập niên trước đó.

Khi nhiệt độ tăng, không chỉ sông băng / glacier thu nhỏ. Tầng đất đá vốn bị đóng băng lâu dài / Permafrost tan vỡ. Sườn núi mất ổn định. Hồ băng hình thành và lớn dần. Những con đập thiên nhiên bằng băng và trầm tích băng hà / moraine trở nên mong manh. Các trận Mưa lớn có thể tác động lên một địa hình vốn đã bất ổn.

Những nguy cơ trước kia nằm riêng rẽ bắt đầu chồng lên nhau. Và khi chúng hội tụ, một tai biến địa phương có thể trở thành một thảm họa dây chuyền / cascade disaster.

 

Một nghịch lý của phát triển: thủy điện cũng chắn trên đường đi của lũ


Thảm họa Nepal còn phơi bày một nghịch lý khác. Các con sông Himalaya có tiềm năng thủy điện khổng lồ. Những quốc gia nghèo miền núi cần điện năng, đường sá và phát triển kinh tế. Nhưng chính các công trình ấy lại thường được xây trong những thung lũng hẹp, nơi dòng nước bị tập trung và cũng chính là hành lang của lũ quét, dòng bùn đá / debris flow và lũ vỡ hồ băng / glacial lake outburst flood.

Trong thảm họa 2026 vừa qua, nhiều dự án thủy điện bị ảnh hưởng nặng; hàng trăm công nhân mất tích hoặc bị kẹt trong các đường hầm.

Bởi vậy, câu hỏi không thể giản lược thành “phát triển hay không phát triển.” Câu hỏi đúng hơn phải là: Phát triển ở đâu, phát triển tới mức nào, và cái giá sinh thái mà các thế hệ sau phải trả là bao nhiêu?

Đó cũng chính là điều Đạt Lai Lạt Ma đã đặt ra từ cuối thập niên 1980 khi ông không phủ nhận nhu cầu phát triển kinh tế, nhưng nhấn mạnh rằng việc thác tài nguyên phải được điều tiết để không phá hủy hệ sinh thái, và phát triển phải mang tính khai thác bền vững.

 

Nepal–Tây Tạng 2026 -H3

Hình 3: Bahrabise Bazar, Nepal trước và sau trận lũ ngày 26 tháng 8, 2026 do sông băng lở giết chết hàng ngàn người, với hàng ngàn người khác còn mất tích. (Ảnh Wikimedia Commons) 

 

 

Những dòng sông không mang sổ thông hành


Đây có lẽ là phần hiện đại nhất trong viễn kiến môi sinh của Đức Đạt Lai Lạt Ma. Biên giới quốc gia được con người vẽ trên bản đồ. Đường phân thủy thì do địa hình vẽ.

Một sông băng / glacier không biết mình thuộc Trung Quốc hay Nepal. Một hồ băng không biết phía dưới nó là Tibet, Nepal, India hay Bhutan. Và khi một con đập thiên nhiên vỡ, dòng lũ không dừng lại ở trạm biên phòng để xuất trình sổ thông hành.

Thảm họa Nepal–Tây Tạng năm 2026 vì vậy không chỉ là một thảm họa của Nepal hay Tây Tạng. Nó là một cảnh báo / wake-up call cho toàn vùng Hindu Kush–Himalaya và những quốc gia hạ nguồn.

Ngày nay hàng tỷ con người phụ thuộc trực tiếp hoặc gián tiếp vào các hệ thống sông bắt nguồn hay được nuôi dưỡng từ vùng cao nguyên này. Trong một thế giới khí hậu đang thay đổi, an ninh nguồn nước cũng trở thành an ninh xuyên biên giới.

 

Và từ Himalaya nhìn xuống Mekong và ĐBSCL 


Đối với Việt Nam, bài học ấy không hề xa vời. Mekong cũng bắt nguồn từ vùng cao nguyên Tây Tạng, chảy qua Trung Quốc rồi Myanmar, Lào, Thái Lan, Cam Bốt trước khi tới Đồng bằng Sông Cửu Long và chảy ra Biển Đông.

Dĩ nhiên, không thể vạch một đường nhân quả trực tiếp từ thảm họa Nepal tới Đồng Bằng Sông Cửu Long. Hai hệ thống địa lý khác nhau, với cơ chế thủy văn khác nhau. Nhưng chúng thuộc cùng một bức tranh sinh thái lớn của châu Á.

Ở thượng nguồn là băng tuyết, khí hậu và những biến động của “Cực Thứ Ba / Third Pole”. Ở trung lưu là những hồ chứa khổng lồ của chuỗi đập thủy điện dòng chính ở Vân Nam Trung Quốc và Lào và sự điều tiết nguồn nước ngày càng lớn do tham vọng của con người. Xa hơn về phía nam là Biển Hồ Tonlé Sap với nhịp đập lũ / flood pulse theo mùa vốn quyết định sức sống của Biển Hồ. Và cuối dòng là Đồng bằng Sông Cửu Long, một đồng bằng thấp đang đồng thời chịu áp lực của thiếu phù sa, sụt lún, xâm nhập mặn và nước biển dâng.

Tất cả không phải một chuỗi nhân quả đơn giản. Nhưng. tất cả nhắc chúng ta về cùng một nguyên tắc:  Không một đoạn sông nào thực sự đứng riêng lẻ một mình.

 

Một lời cảnh báo từ gần bốn thập niên trước


Trong Diễn từ Nobel Hòa Bình năm 1989, Đức Đạt Lai Lạt Ma nói rằng vì tất cả chúng ta cùng chia sẻ một hành tinh nhỏ bé, nhân loại phải học cách sống hòa bình với nhau và với thiên nhiên. Theo ông, đó “không chỉ là một giấc mơ mà là một điều cần thiết.”

Ngày ấy, lời nói ấy có thể được nghe như tiếng nói của một nhà lãnh đạo tinh thần. Sau những gì đang xảy ra với các sông băng / glacier Himalaya, người ta có thể đọc lại nó như một lời cảnh báo sinh thái.

Và sau ngày 26 tháng 8 năm 2026, câu nói ấy có thêm một hình ảnh cụ thể: một khối núi và sông băng / glacier từ độ cao hơn 5.000 mét sụp xuống, biến thành một dòng thác băng, đá, bùn và nước lao xuyên qua những thung lũng, xóa đi những công trình con người tưởng là kiên cố, để lại phía sau hàng ngàn sinh mạng mất tích.

Đó chính là ý nghĩa sâu xa của cụm từ tương thuộc / interdependence, có nghĩa là phụ thuộc lẫn nhau. Con người và thiên nhiên; Thượng nguồn và hạ nguồn; Một quốc gia và những quốc gia láng giềng; và thế hệ hôm nay và những thế hệ chưa ra đời: tất cả đều tương thuộc.

Viễn kiến môi sinh của Đức Đạt Lai Lạt Ma vì thế không phải là lời tiên tri rằng một ngày nào đó Nepal sẽ có một trận đại hồng thủy. Giá trị của nó sâu xa hơn thế: ông đã sớm nhìn thấy rằng sự an toàn của con người trên “Nóc Nhà Thế Giới” và sự toàn vẹn của môi trường thiên nhiên là hai mặt của cùng một vấn đề sống còn.

Thảm họa Nepal–Tây Tạng 2026 mới đây đã biến nguyên lý ấy từ một suy tưởng đạo lý thành một thực tại địa-vật lý đầy tang tóc.

Và đối với Việt Nam, chúng ta ở cuối nguồn sông Mekong, khoảng cách hơn 4500 km theo dòng chảy, Cao nguyên Tây Tạng tưởng như một thế giới xa xôi; nhưng băng tuyết tan trên “Nóc Nhà Thế Giới” ấy và số phận của ĐBSCL lại nằm trong cùng một hệ thống thủy văn Mekong. Những gì xảy ra trên “Nóc Nhà Châu Á” không bao giờ chỉ ở lại trên "ngọn đỉnh trời Himalaya” ấy. 

 

NGÔ THẾ VINH 

California 09.2026

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
12 Tháng Chín 202312:43 SA(Xem: 37431)
Hai câu trên nằm trong bài thơ mang tên “Lễ Phục Sinh 1916” của William Butler Yeats. Bài thơ nhằm tưởng nhớ tới những người đã ngã xuống cho tự do và độc lập của Ireland. Cuộc hành quyết đẫm máu các thủ lĩnh cách mạng sau cuộc trỗi dậy vào ngày lễ phục sinh đã đánh thức cả một thế hệ Ireland. Cuối cùng, nhân dân Ireland cũng dành được độc lập vào năm 1949 và bài thơ của Yeats được cho là một trong những bài thơ chính trị hay nhất của thế kỷ 20 trong lịch sử văn học nước Anh.
04 Tháng Chín 20238:30 CH(Xem: 34561)
Trong ngót hai chục phim truyện điện ảnh tham dự tranh Giải Cánh Diều năm nay của Hội Điện ảnh VN, có thể nói “Em & Trịnh” là một tác phẩm hoành tráng bậc nhất. Và cũng cần phải thẳng thắn điều này: những người làm “Em & Trịnh” đã rơi vào cả hai tình huống đặc biệt của Điện ảnh: a. thực hiện một bộ phim chân dung vốn đầy thử thách, b. đặc biệt là phim ca nhạc sẽ cực kỳ khó khăn về các yếu tố kỹ thuật!
10 Tháng Bảy 20231:55 CH(Xem: 35258)
PHỤ NỮ GIỮA CHIẾN TRANH VIỆT NAM: THỜI ĐIỂM 1969 Tầm nhìn Chiến tranh, Giấc mơ Hòa bình [Visions of War, Dreams of Peace] [1] là nhan đề một tuyển tập thơ của các nhà thơ nữ; nếu là Mỹ trong chiến tranh Việt Nam, họ đã là những nữ quân nhân như y tá, bác sĩ đã từng chăm sóc các thương bệnh binh; nếu ở những ngành nghề khác, họ đảm trách các dịch vụ không tác chiến như chuyên viên truyền tin, tiếp vận, kiểm soát không lưu, nhân viên Hồng Thập Tự... Nếu là người Việt, họ là những phụ nữ thuộc hai miền Nam hay Bắc, với những trải nghiệm khác nhau, qua những năm tháng chiến tranh. Và như từ bao giờ, cho dù ở đâu, phụ nữ và trẻ em vẫn là thành phần dễ bị tổn thương nhất trong chiến tranh. Trong tập thơ này, có 34 nhà thơ nữ Hoa Kỳ, và sáu nhà thơ nữ Việt Nam: Xuân Quỳnh (My Son’s Childhood), Hương Tràm (The Vietnamese Mother), Hà Phương (To An Phu, From This Distance I Talk To You), Trần Mộng Tú (The Gift In Wartime, Dream of Peace), Minh Đức Hoài Trinh..., Nguyễn Ngọc Xuân...
09 Tháng Sáu 20234:36 CH(Xem: 31490)
T. cận tôi trai Hà Nội, song có dịp được đi & sống ở nhiều vùng đất trở thành thân quen, rồi yêu quý - và một trong những vùng đất đó là Bình Định. Một sinh viên của tôi làm phim tốt nghiệp về “Võ Bình Định”, tôi rất vui, bảo: “Thầy mới chỉ biết đôi chút về Trời văn Bình Định thôi, phim của em giúp thầy và nhiều người hiểu thêm về Đất Võ Bình Định đáng tự hào”… Mấy Hội thảo Khoa học về cụ Quỳnh Phủ Nguyễn Diêu - người thầy của Đào Tấn vĩ đại, về Tổng đốc Lê Đại Cang, may được ông Tổng BT tạp chí Văn Hiến Nguyễn Thế Khoa chiếu cố mời về cùng với tham luận và làm phim nên càng có dịp thâm nhập sâu hơn vào kho tàng văn hóa Bình Định. Một dạo, có lớp tập huấn về Biến đổi khí hậu do Thái Lan và Diễn đàn “Nhà báo Môi trường” tổ chức tại Quy Nhơn, được mời tham dự và làm phim cho họ, tôi có điều kiện hiểu thêm về giá trị của Môi trường “xứ Nẫu” nói riêng và Biển miền trung Trung bộ nói chung…
24 Tháng Năm 20234:02 CH(Xem: 34148)
Trong số những nhà thơ lớn Việt Nam các thời Cổ - Trung - Cận đại, tình cảm đặc biệt nhất của tôi với tư cách một người làm phim truyện, là dành cho Thi sĩ-Nhà giáo-Thầy thuốc Nguyễn Đình Chiểu. Bởi theo tôi, giá trị lớn nhất, sức hấp dẫn kỳ lạ nhất trong văn chương Nguyễn Đình Chiểu, chính là trái tim thương cảm của ông đối với Dân, đối với những nghĩa sĩ đã xả thân cho Tổ quốc, và đặc biệt với phụ nữ, trẻ em - những nhóm người yếu thế nhất trong xã hội, nạn nhân đầu tiên của chiến tranh, loạn lạc…
21 Tháng Ba 20235:16 CH(Xem: 30904)
Chẳng thể cứ tự hào Việt Nam nay là đất nước phát triển nếu như dân cư của cả nước vẫn phải sống với nguồn nước bẩn và một môi trường đầy ô nhiễm. “Không có kỹ nghệ không gian các quốc gia vẫn sống được, nhưng không thể sống nếu không có nước.” Oded Distel [chuyên gia về nước của Do Thái] Đề nghị chọn Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương mùng 10 tháng 3 là Ngày Nước Việt Nam / Vietnam Water Day. [Nhóm Bạn Cửu Long]
26 Tháng Hai 20238:39 CH(Xem: 36486)
Mai An Nguyễn Anh Tuấn Ủng hộ lời kêu cứu cho Đồng Bằng Sông Cửu Long của nhà khoa học Ngô Thế Vinh trên vanviet.info và bauxitevn.net
13 Tháng Hai 202312:43 SA(Xem: 34928)
順天者存,逆天者亡 Thuận thiên giả tồn, nghịch thiên giả vong Thuận với thiên nhiên thì còn. Nghịch với thiên nhiên thì mất. [Mạnh Tử] “Kế hoạch phát triển nào cũng phải tính tới cái giá môi sinh phải trả – environmental costs – đối với sức khoẻ của người dân và cả trên nguồn tài nguyên lâu dài của đất nước.” Ngô Thế Vinh
06 Tháng Giêng 202312:11 SA(Xem: 33351)
Nguyễn Du chỉ thốt lên một lần duy nhất: Ta vốn có tính yêu núi khi ông Bắc hành, ở đoạn cuối sứ trình; nhưng cái tính đó, ông đã bộc lộ biết bao lần trong 254 bài qua cả ba tập thơ chữ Hán của mình! Ai ham đọc sách mà không biết câu nói có tự cổ xưa: Trí giả lạc thủy, nhân giả lạc sơn (Kẻ trí thì vui với sông nước, người nhân thì vui với núi non); song cái ý tưởng sách vở thể hiện khát vọng thoát tục thanh cao, mơ ước được tựa vào non xanh để tìm sự yên tĩnh vĩnh hằng của nội tâm đó đã được Nguyễn Du trải nghiệm bằng toàn bộ cảm giác buồn, vui, qua các đoạn đời phong trần của mình, và ông miêu tả chúng qua bao vần thơ chữ Hán thực thấm thía, rung động.
14 Tháng Mười 202211:28 CH(Xem: 34148)
Năm 2020, đã có một lúc bao nhiêu triệu cư dân vùng hạ lưu sông Mekong thở phào nhẹ nhõm khi nghe tin Bộ Điện Lực Cam Bốt tuyên bố hoãn mọi dự án thuỷ điện trên sông Mekong trong 10 năm tới [1], như vậy là ít nhất có một thời kỳ dưỡng thương cho dòng sông bị đầy những vết cắt do chuỗi đập thuỷ điện của Trung Quốc và Lào phía thượng nguồn. Nhưng rồi mới đây, chỉ hai năm sau, 2022, là một tin chấn động khác: Phnom Penh tuyên bố cho tái phục hoạt / resurrection dự án thủy điện Stung Treng 1.400 MW trên dòng chính sông Mekong phía đông bắc Cam Bốt sát ranh giới với Lào. Dự án này không chỉ sẽ tàn phá sinh cảnh các khu đất ngập được bảo vệ bởi Công ước Ramsar ký kết từ năm 1971, mà còn gây tác hại vô lường trên hai vùng châu thổ phì nhiêu Tonlé Sap và ĐBSCL. Đây là bài đầu tiên trong loạt 3 bài viết nhìn lại toàn cảnh cuộc hành trình gian truân của một dòng sông – Sông Mekong hơn nửa thế kỷ qua.