- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc

“THƠ DÂNG”* MỚI: CẢM HỨNG TỰ DO DÂN CHỦ TRONG PHIM ẤN ĐỘ HIỆN ĐẠI

17 Tháng Mười Hai 20252:52 CH(Xem: 9590)

z5555180671113_f10464541e7f9d805d274d569f2280bc

- Các nhà sản xuất phim & nhà làm phim Việt Nam với ông Chủ tịch Quỹ Liên hoan phim Quốc tế Jaipur (JIFF) tại Khách sạn Vàng Hà Nội.

“THƠ DÂNG”* MỚI:
CẢM HỨNG TỰ DO DÂN CHỦ TRONG PHIM ẤN ĐỘ HIỆN ĐẠI

Mai An Nguyễn Anh Tuấn

 


Hội Điện ảnh Việt Nam trong những ngày cuối năm đang tích cực xem và định giá các tác phẩm Điện ảnh - Truyền hình cho Giải Cánh Diều của năm 2025 sẽ được tổ chức tại Nhà hát Đó, TP. Nha Trang theo định kỳ hàng năm.

Vào dịp này năm ngoái, đã diễn ra chiến dịch "Ngọn đuốc quốc tế cho điện ảnh thế giới” (International Torch for World Cinema - ITWC), do Quỹ Liên hoan phim Quốc tế Jaipur (JIFF) của Ấn Độ phát động phối hợp với Hội Điện ảnh Việt Nam, nhằm nâng cao nhận thức và kết nối điện ảnh Việt Nam với thế giới, mong biến Việt Nam thành nước đầu tiên thắp "ngọn đuốc" này, mở ra cơ hội quảng bá và hợp tác quốc tế cho điện ảnh Việt Nam. Dịp này, tôi đã có dịp xem thêm (và xem lại) một vài phim hiện đại Ấn Độ nhằm góp vào sự giao lưu của Chiến dịch “Ngọn đuốc” nói trên.

Nói đến phim Ấn Độ, đông đảo khán giả nước ta lâu nay thường chỉ ấn tượng sâu sắc với những bộ phim tràn đầy ca múa nhạc và thấm đẫm nước mắt hoặc nhiều tập truyền hình dài lê thê không biết tới lúc nào mới chấm dứt… Nhưng đó chỉ là bề nổi của một nền Điện ảnh mang tên Bollywood – ngành công nghiệp sản xuất điện ảnh tiếng Hindi…

Trước đó, dù không có điều kiện được xem nhiều phim Ấn Độ hiện đại, song chỉ với những phim được xem như: “English Vinglish” (sang Việt Nam có tên: “Tiếng Anh là chuyện nhỏ”), “Like Stars on Earth” (Như những ngôi sao trên trái đất), “Mangal Pandey: The Rising” (Cuộc nổi dậy), “Magadheera”, “Teri Meri Kahaani”, “Lagaan: Once Upon a Time in India” (Lagaan: Ngày xưa ở Ấn Độ), “Queen” (Nữ hoàng), “Ghajini”… thì đã thấy bàng hoàng sửng sốt, bởi được tiếp xúc với một nền điện ảnh hiện đại có thể sánh ngang với không ít nền điện ảnh lớn đang làm mưa làm gió trên thị trường phim ảnh thế giới.

Đặc biệt là với bộ phim: “Rang De Basanti” sản xuất năm 2006 (Hãy tô màu nghệ cho tôi - nguyên gốc tiếng Hindi có nghĩa: Hãy vẽ tôi bằng màu sắc mùa xuân) của đạo diễn Rakeysh Omprakash Mehra, bộ phim đã phá vỡ toàn bộ các kỷ lục phòng chiếu trong lịch sử điện ảnh Ấn Độ và sau đó chiến thắng nhiều giải thưởng quốc tế quan trọng; và bộ phim “The Last Film Show” sản xuất năm 2021 (Buổi chiếu phim cuối cùng) của đạo diễn Pan Nalin - người xem phim Việt có thể tìm thấy dân tộc mình trên con đường đẫm máu đến với Tự do & Dân chủ và đồng thời tìm đến với Nghệ thuật thứ Bảy như một phương tiện hữu hiệu bậc nhất để tuyên truyền và giáo dục dân chúng.

“The Last Film Show” là bộ phim bán tiểu sử giúp chúng ta nhớ đến bộ phim kinh điển Ý “Cinema Paradiso” (Rạp chiếu bóng Thiên đường): Phim kể về một cậu bé nông thôn Ấn Độ lần đầu tiên đến rạp chiếu phim và yêu thích nó, cậu đã chống lại mong muốn của cha mình, quyết định trốn học và quay lại rạp chiếu phim nhiều lần, nơi cậu kết bạn với người vận hành máy chiếu để theo đuổi ước mơ trở thành nhà làm phim…

Rang_De_Basanti_poster
Poster của phim “Rang De Basanti"
tại một Festival Film

Còn trong phim “Rang De Basanti”, chúng ta đã thấy hình ảnh của những “nhà làm phim thực thụ” đó dưới hình ảnh của những nhà đấu tranh cho một nước Ấn Độ mới đang chật vật vươn tới những giá trị nhân bản toàn cầu, nhưng báo chí nước ta chỉ dám giới thiệu về các Giải thưởng cho phim này mà lờ đi “vấn đề nhạy cảm”: Câu chuyện phim kể về nữ đạo diễn Sue - một nhà làm phim trẻ người Anh mong muốn làm bộ phim về những chiến binh tự do trong phong trào độc lập Ấn Độ, dựa trên quyển nhật ký của ông nội cô - một cựu sĩ quan của quân đội Anh tại Ấn Độ. Khi dự án phim bị từ chối ở trong nước, Sue đến Ấn Độ, tìm được năm thanh niên phù hợp tham gia diễn xuất trong phim của mình. Trong quá trình quay phim, các thanh niên Ấn dần dần nhận ra rằng cuộc sống của họ khá giống với các nhân vật thế hệ cha ông trong bộ phim của Sue. Làm phim cùng Sue, họ có dịp nhận ra rằng: họ đã thấy phẫn nộ tận đáy lòng trước sự thối nát của chính quyền, rồi họ tình nguyện hy sinh bản thân mình để đông đảo dân chúng hiểu được sự thật bẩn thỉu trong hệ thống quản lý Nhà nước. Chàng thanh niên Karen, con của một quan chức lớn, khi biết cha mình đã dính máu trong vụ giết chết bạn mình là phi công Ajay nhưng lại nhẫn tâm bảo vệ danh dự tên Bộ trưởng quốc phòng tham nhũng bằng cách bôi nhọ bạn mình, anh đã bắn chết người cha tội lỗi, sau đó cùng cả nhóm chiếm đoạt Đài phát thanh để tố cáo với đông đảo dân chúng về những sự thật khủng khiếp trong Chính quyền, mong vài tia lửa nhỏ sẽ bùng lên thành bão táp… Kết phim thực bi thảm: cả 5 anh thanh niên nằm trong vũng máu bị vây bắt tận diệt, song nụ cười của họ trước khi chết đã tạo nên một bức thông điệp đầy rung cảm, mạnh mẽ không kém “Thơ Dâng” của thi hào R. Tagore trước kia, đó là: Khát vọng cho một đất nước Ấn Độ thực sự Tự do – Dân chủ không bao giờ bị giết chết…

Bộ phim “Rang De Basanti” quả là một phim chính trị được thực hiện một cách đầy nghệ thuật, giàu cảm hứng lãng mạn, với những số phận sinh động cho thấy hình ảnh chân thực của tầng lớp trí thức mới Ấn Độ đã là ngọn cờ đầu của sự nghiệp giành Tự do - Dân chủ, một sự nghiệp không kém gian nan thậm chí vất vả hơn ông cha họ thời giành Độc lập dân tộc… Nhà làm phim người Anh trẻ tuổi và các cộng sự Ấn Độ đã thực hiện được cái điều mà nữ đạo diễn Yamina Bachir người Algéri đã tâm niệm, khiến một tác phẩm điện ảnh có thể đi vào Con đường lớn của Nghệ thuật nhân loại: “Cái quan trọng nhất trong sáng tác là làm sao, ở mức độ có thể, biểu hiện được sự lương thiện, sự không nhân nhượng trước cái ác!” (Theo: Tủ sách Điện ảnh “Ý tưởng nghề nghiệp”, Việt Linh sưu tầm, , Nxb Văn hóa Sài Gòn 2005).

Hy vọng phim “Rang De Basanti” sẽ đến rộng rãi với dân Việt ta, trước hết là một bài học nghề nghiệp lý thú và cần thiết với các nhà làm phim Việt!

______

* “Thơ Dâng” (Gitanjali) là tập thơ nổi tiếng của thi hào Ấn Độ Rabindranath Tagore được xuất bản lần đầu bằng tiếng Begal vào năm 1910 và được xuất bản bằng tiếng Anh năm 1912. “Thơ Dâng” đã được trao giải Nobel Văn học đầu tiên của châu Á vào năm 1913, bởi theo Ủy ban Nobel: "Không có nhà thơ ở châu Âu nào kể từ cái chết của Goethe vào năm 1832 có thể sánh được với Tagore về nhân cách cao cả, về sự vĩ đại tự nhiên, về sự thanh thoát hài hòa".

Đạo diễn MA NAT

 

Ảnh:

- Poster của phim “Rang De Basanti" tại một Festival Film.

- Các nhà sản xuất phim & nhà làm phim Việt Nam với ông Chủ tịch Quỹ Liên hoan phim Quốc tế Jaipur (JIFF) tại Khách sạn Vàng Hà Nội.

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
22 Tháng Bảy 202610:50 CH(Xem: 3740)
MẢNH ĐẤT ÍT NGƯỜI NHIỀU MA… NGƯỜI, viết hoa, theo tính chất triết học cả Đông lẫn Tây, và theo cách hiểu của tâm lý đời thường nhiều biến động này là “Tử tế”, đang ít dần đi cùng với sự teo tóp của Lương tri, sự lẩn trốn của cái Thiện, sự đánh mất Tình thương và Lòng trắc ẩn… Ma, theo nghĩa khái quát về bản chất Ma Quỷ trong con người đang trỗi dậy, không chỉ là hình tượng dọa nạt con trẻ nữa mà đang trở thành thế lực khủng khiếp đe dọa thống trị toàn bộ cơ chế hoạt động lẫn tinh thần – đạo lý xã hội…
11 Tháng Bảy 20262:04 CH(Xem: 4714)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
23 Tháng Tư 202611:15 CH(Xem: 6614)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 202610:39 CH(Xem: 6348)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 20262:45 CH(Xem: 6749)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 20268:53 CH(Xem: 6723)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
15 Tháng Ba 20261:13 SA(Xem: 9196)
Gần đây, trong giới văn chương xuất hiện một nỗi lo mới: trí tuệ nhân tạo đang “xâm lăng” lãnh địa thi ca. Bài viết “Phẩm giá thơ trong thời đại AI” của Đinh Thanh Huyền là một trong những tiếng nói tiêu biểu cho nỗi lo ấy. Bài viết được viết với nhiều cảm xúc chân thành, nhiều suy tư đạo đức và một niềm tin rất đẹp: thơ phải là sản phẩm của con người, của trải nghiệm sống, của những tế bào sinh học đang rung động trong thân thể người. Tất nhiên, không ai phản đối niềm tin đó. Nhưng đọc xong bài viết, người ta bỗng có một cảm giác hơi… lạ: các nhà thơ dường như đang sợ AI giống hệt như họ từng sợ rất nhiều thứ trong lịch sử. Và lịch sử thường cho thấy: những nỗi sợ đó hiếm khi đúng.
28 Tháng Hai 20262:58 SA(Xem: 9328)
Trong đời sống văn chương Việt Nam hải ngoại, có những người viết để nổi danh. Có những người viết để lưu dấu một thời. Có những người viết để giữ lại một phần linh hồn dân tộc mình giữa những bể dâu của lịch sử. Nhà văn, dịch giả Từ Vũ thuộc vế thứ ba, bền bỉ gìn giữ tiếng Việt như giữ một ngọn lửa nhỏ trong gió.
10 Tháng Hai 20263:12 SA(Xem: 9417)
Bài viết này đặt ra một nghịch lý của Việt Nam đương đại: khi lý tưởng cộng sản vẫn được nhắc tới như nền tảng chính danh, nhưng vai trò thực tế của nó trong đời sống xã hội đã thay đổi sâu sắc. Thay vì tranh luận đúng–sai hay kết tội, tác giả chọn cách phân tích sự dịch chuyển của lý tưởng từ mục tiêu giải phóng sang ngôn ngữ quyền lực. Cách tiếp cận này giúp nhìn lại mối quan hệ giữa ổn định, phát triển và bất bình đẳng dưới một góc nhìn tỉnh táo hơn. Tòa soạn giới thiệu bài viết như một đóng góp cho đối thoại xã hội, với tinh thần viết để hiểu và cùng suy ngẫm
07 Tháng Hai 202610:40 CH(Xem: 9254)
Sắp đến Tết truyền thống, như một “tập quán” bất đắc dĩ mới, nhiều người đang lo lắng chuẩn bị đón đợi nhằm chống đỡ các chiêu trò hài nhạt chọc cười nhảm trên các phương tiện truyền thông, thì đã bị đầu độc đến nôn mửa bởi hàng loạt thứ văn hóa rác được gọi là “Thơ Văn”, mà lại là “Thơ Văn” đoạt các giải cao ngất ngưởng, được ngợi ca ngút trời theo kiểu “quá lời nguyện hết thành hoàng thổ công”…