- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc

Một Cõi Đi Về Cho Trịnh Công Sơn?

23 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 135015)

trinhcongsonTin từ quê hương cho biết tin vui cuối cùng nguyên văn, “các vị lãnh đạo tỉnh Thừa Thiên Huế và Thành phố Huế đã hứa cấp... khoảng một ngàn mét vuông đất để xây dựng Khu lưu niệm” Trịnh Công Sơn.

Tin cũng cho biết Nhà Nước, cũng như thân nhân Trịnh Công Sơn, không dính líu gì đến việc xây dựng và nội dung trưng bày khu lưu niệm này. Đất chỉ được cấp theo yêu cầu của “những người bạn và những người mến mộ âm nhạc Trịnh Công Sơn” thôi. Không nghe nói cả nước và cả thế giới có được mấy người mến mộ âm nhạc Trịnh Công Sơn?

Ơn trả nghĩa đền cho Trịnh Công Sơn đã có công gây ra số người mến mộ đó, và cũng là mến mộ đất nước Việt Nam, là một ngàn mét vuông đất.

Một ngàn mét vuông? Nếu diện tích đất này mà nằm lọt giữa Hà Nội hay TP HCM nơi mà đất đai được tính bằng số cây vàng cho từng mét vuông thì quả tình một ngàn mét vuông chính quyền ban cho kể cũng nhiều vô kể. Chỉ có một điều là khoảnh đất này nằm lọt thỏm giữa núi rừng trong khu vực Dòng Thiên An cách trung tâm thành phố khá xa. Chọn nơi này làm cõi đi về cho Sơn để Sơn vui với tiếng khỉ ho cò gáy, tiếng chim chóc hay tiếng heo bò gà vịt từ khu chăn nuôi của Dòng Thiên An ngày xưa vọng sang thì cũng được thôi. Có còn hơn không.

Nhưng một ngàn mét vuông để xây “... một khu nhà lưu niệm với phòng trưng bày hình ảnh tư liệu hiện vật, phòng hội họp, nghe nhạc tối thiểu vài trăm người, thư viện, quầy giải khát, điểm tâm, sân vườn có thể chứa được 500 người ...” như ước nguyện của những bạn bè và người ái mộ Sơn thì có được không? Bởi lý, một miếng đất giả dụ một bề 20 mét và một bề 50 mét, thì quả là dư thừa để xây một ngôi mộ, một bảo tháp hay kim tỉnh, hoặc đủ để cất một quán cà phê bún bò bèo ram ít ướt, hoặc một dãy chuồng gà, chuồng thỏ, chuồng heo hay một chuồng bò chuồng trâu chứa mươi mười lăm con như khu nhà bếp và chăn nuôi ngày trước của Dòng Thiên An gần đó là nhiều. 

Nghe kỷ lại những bài như Cát Bụi, Một Cõi Đi Về, hay ngay cả Cho Một Người Vừa Nằm Xuống... hẳn thấy Sơn không ham chuyện trăm năm bia đá. Nhà lưu niệm nào có thể làm nơi an trú cho một một hạt bụi? Nhà lưu niệm nào bằng con tim của những Việt còn biết yêu nước yêu người?

Nguyễn Du từng băn khoăn ba trăm năm sau còn ai nhớ mình chăng? Trịnh Công Sơn không hỏi câu đó, và thực tình Sơn cũng không cần hỏi câu đó, bởi còn Việt Nam, còn lịch sử Việt Nam, còn ngôn từ Việt Nam, còn nhạc Việt Nam thì còn Trịnh Công Sơn.

Sơn sẽ sống mãi qua những người biết nói với người ngay cả khi yêu thương ngất trời, ngay cả khi hy vọng chứa chan, ngay cả khi cuồng nộ đắng cay tuyệt vọng phẫn hận nhưng chẳng thù đời hay xuôi tay bỏ cuộc, mà vẫn còn muốn nói với nhau những lời êm dịu nên thơ.

Sơn sẽ sống mãi như những câu ca dao, những bài đồng dao, những bài quan họ, những câu hò, câu vè vô danh, không cần tao đàn, nhạc viện, không cần quốc tử giám, không cần hàn lâm viện. Trong thế giới nghệ thuật Việt Nam hiện đại, đặc biệt là âm nhạc và thơ văn, không có một người Việt Nam nào được biết đến, được mến mộ, được yêu thương như Trịnh Công sơn.

Trong khung cảnh văn hóa Tam giáo, Nguyễn Du đã nâng ngôn từ Việt mà đặc thù là tiếng Nôm, đã nâng thi ca Việt mà đặc thù là Lục Bát, lên hàng phổ biến, đã chứng tỏ không có ý nghĩ nào hay tư tưởng nào dù cao siêu uyên áo thâm diệu đến đâu mà tiếng Việt không diễn đạt được, mà chữ Nôm không viết được. Trịnh Công Sơn là người tiếp nối con đường hoàn thiện ngôn từ Việt đó của Nguyễn Du, không chỉ bằng lời mà còn bằng nhạc. Không những hoàn thiện mà còn, nói theo ngôn từ thời thượng, hiện đại hóa hay đổi mới tiếng Việt nữa.

Cũng buồn cũng vui, cũng thất tình lục dục nhưng tiếng nói của Trịnh Công Sơn là tiếng nói của thế hệ suy tư ở ngoài đường, thế hệ đem tâm tình viết lịch sử, thế hệ xuống đường và đem cả bàn thờ xuống đường để đặt lại vấn đề về ý nghĩa lịch sử, về lý tưởng đời người, lý tưởng quốc gia và tình nhân loại. Đây là thế hệ nhìn thẳng vào mắt những người công an cảnh sát dẹp biểu tình, những người lính ra trận, những thanh niên trốn quân dịch, những con ông cháu cha êm ấm nhờ phúc nhà, những người lính đồng minh đang tưởng mình là kẻ thế thiên hành đạo... để thầm nói với họ rằng: Tôi nổi loạn và chúng ta hiện hữu. Thế hệ của Quảng Đức, Quách Thị Trang, Mai Tuyết An, Nhất Chi Mai... Cái thế hệ chỉ sáu tháng vùng lên là đủ làm nghiên ngửa một chính quyền đã thoát hiểm và đứng vững suốt chín năm sóng gió. Đó là một sự thật, hiển nhiên như quê hương Việt Nam, như cuộc chiến cam go dành tự chủ tự quyết, như ước vọng thanh bình đòi đoạn mong manh dai dẳng trong lòng người Việt suốt bao thế hệ.

Cho nên, có làm gì cho Sơn, có nghĩ đến gì cho Sơn, thì cũng là làm cho và nghĩ đến những người còn sống. Khu nhà lưu niệm Trịnh Công Sơn là một cách làm, cách nghĩ đó. Vì tâm tình những thế hệ quá khứ, vì tâm tư của thế hệ hiện tại và vì tiền đồ của những thế hệ tương lai.

Vấn đề còn lại là quyết tâm và vận dụng phương tiện. Liệu cơm gắp mắm, với một ngàn mét vuông và không được một tài trợ chính thức nào, bạn bè và người mến mộ Sơn có thể làm một kim tỉnh, một bảo tháp theo mô hình Chùa Một Cột, một tượng đồng lớn theo mô hình Le Penseur của Rodin, một tháp bút, một tháp hoa sen như ở quảng trường Duy Tân hay một bức tường hoa cương như bia mộ đen ở Washington...bạn bè và những người mến mộ Sơn không thiếu nhân tài để sáng tạo một mô hình độc sáng, không chỉ để tưởng niệm Sơn mà để cho tất cả những người làm thơ, văn, họa, nhạc hiện đại nổi tiếng của Huế, của miền Trung, của Việt Nam... Cho Sơn khỏi “nằm” trơ trọi trên non một mình giữa nơi sơn lâm. Không sao cả. Bởi thiên tài nào mà chẳng cô đơn. Ngày nào đây, có duyên may được cấp phát thêm mặt bằng thì lúc đó hãy tính mở rộng thành một khu lưu niệm đúng nghĩa. Không ai xây Roma xong một ngày. Chùa Một Cột hay tháp Thiên Mụ tự những ngày đầu có lẽ cũng chơ vơ lạc lõng và cũng chẳng mấy ai nghĩ một ngày nào đây đã trở thành những ngọn hải đăng tâm linh của Việt Nam như hôm nay.

Bạn bè và những người mến mộ Sơn cũng có thể xung phong xin lại khu vườn chơi hoang phế dưới chân núi Ngự Bình và biến nơi đó thành Lâm Viên Trịnh Công Sơn hay Đạo Tràng Trịnh Công Sơn, còn hơn là để làm nơi xả rác cho người và trâu bò.

Gia đình thân nhân Trịnh Công Sơn hình như không đến nỗi nào, bạn bè và những người mến mộ Sơn cũng có thể gây quỹ bằng cách thương thuyết với họ để khai thác bản quyền của tất cả tác phẩm của Sơn còn giữ được. Hoàn thành trung tâm còn dư thì dùng tiền đó tổ chức những giải thưởng, những học bổng Trịnh Công Sơn. Phạm Duy, Hữu Loan làm được, Trịnh Công Sơn tại sao không?

Có thể ngoại giao với chính quyền cho phép đấu thầu một hai kỳ xổ số để gây quỹ không? Rồi các chùa, nhất là chùa Huế. Các chùa làm sao quên được một người mà lời nhạc nhiều khi đã trở thành pháp khí, trở thành những tiếng chuông tiếng mõ có tác dụng khai ngộ an tâm không kém gì kinh kệ đúng nghĩa. Có thể vận động các chùa tiếp tay xây dựng trung tâm Trịnh Công Sơn không? Tạo điều kiện cho sinh viên học sinh và các nhóm ái mộ Trịnh Công Sơn tham gia việc gây quỹ xây dựng trung tâm tưởng niệm này. Mỗi người một viên gạch, người yêu thương Sơn, nhớ Sơn trong nước ngoài nước, không ít đâu. 

Trịnh Công Sơn chết đã năm năm rồi, ngoài cái vườn chơi Bình Qưới ở ngoại ô TP HCM, hình như chưa có một tượng đá, một công viên, một tên đường, một khu bảo tàng... nào chính thức dành cho Sơn. Đặc biệt là nơi chính quê hương chôn nhau cắt rốn của Sơn. Trong khi đó, tên tuổi của những người như Trương vĩnh Ký, Alexandre de Rhodes, Nguyễn trường Tộ, Paulus Của... xuất hiện khắp nơi, được tưởng niệm thường xuyên. Biết đâu mai đây lại sẽ có cả Trần Lục, Nguyễn Thân tham dự nữa. Điều đó có công bằng hợp lý cho một người như Sơn không?

Tưởng niệm Sơn không phải vì Sơn là người Huế, mà vì Sơn là người Việt Nam. Không phải Sơn là người Việt Nam mà vì Sơn là người Á châu. Không phải Sơn là người Á châu mà vì Sơn là người. Không “Ngụy”, không “cách mạng”, mà cũng chẳng “cách mạng 30”, dù Bùi Giáng đã dạy cho Sơn một bài học thực tế, thực tế như con cá sống vì nước. Bài học còn hai con mắt khóc người một con. Khóc một con mắt thôi vì dù thương yêu mấy đi nữa, khổ đau vì chia lìa mất mát mấy đi nữa thì cũng chỉ thương bằng một mắt, cũng chỉ khóc bằng một mắt thôi, phải để dành con mắt kia mà sống, ngay cả sống còn, sống sót. Con mắt còn lại đó lỡ kẹt phải bỏ nước ra đi thì để nhìn ghe vượt biên, không ra đi mà ở lại thì để nhìn công an khu vực, để đọc hộ khẩu và bảng hiệu cửa hàng nhu yếu phẩm. Trước, trong và sau cuộc đổi đời, Sơn đã khóc, đã cười và đã sống, sống như một người, sống ra người. Hay nói như Nietzsche, ecce homo! Chừng đó cũng đủ để nhớ Sơn rồi, không phải nhớ cho Sơn mà nhớ cho chính mình, những người còn đang trả nợ đời.

Và đã nhớ thì gắng cho ra nhớ, đã tưởng niệm thì gắng cho ra tưởng niệm, bất cứ nơi đâu, trong tâm, nơi tượng đài, công viên, đường phố, trường ốc, quảng trường, nhịp cầu... đâu đâu cũng có thể mang tên Sơn, nhắc nhớ Sơn, như Sơn đã và đang ở trong lòng nhân thế từ gần nửa thế kỷ qua...

Đời mắc nợ hạt bụi Trịnh Công Sơn nhiều hơn là Sơn mắc nợ cuộc đời.

HOÀNG NGUYÊN NHUẬN

(Trại Đỗ Quyên 14/6/2006)

*

Một vài bài liên hệ xin hoan hỉ đọc thêm:

- 40 Năm Hành Trình Âm Nhạc -Trịnh Công Sơn, Thái Hòa và Tôi của Trần Tuyết Hoa [chuyenluan online số tháng 04/06]

- Trịnh Công Sơn và Tôi của Nguyễn Tú A [chuyenluan online số tháng 04/06]

- Giã Từ Nguyễn Du Thế Kỷ 20 của Hoàng Nguyên Nhuận [ Hoàng Nguyên Nhuận - Phồn Hoa Kinh, Văn Mới, Ca. 2003]

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
11 Tháng Bảy 20262:04 CH(Xem: 224)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
23 Tháng Tư 202611:15 CH(Xem: 3045)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 202610:39 CH(Xem: 2944)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 20262:45 CH(Xem: 3413)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 20268:53 CH(Xem: 3301)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
15 Tháng Ba 20261:13 SA(Xem: 5844)
Gần đây, trong giới văn chương xuất hiện một nỗi lo mới: trí tuệ nhân tạo đang “xâm lăng” lãnh địa thi ca. Bài viết “Phẩm giá thơ trong thời đại AI” của Đinh Thanh Huyền là một trong những tiếng nói tiêu biểu cho nỗi lo ấy. Bài viết được viết với nhiều cảm xúc chân thành, nhiều suy tư đạo đức và một niềm tin rất đẹp: thơ phải là sản phẩm của con người, của trải nghiệm sống, của những tế bào sinh học đang rung động trong thân thể người. Tất nhiên, không ai phản đối niềm tin đó. Nhưng đọc xong bài viết, người ta bỗng có một cảm giác hơi… lạ: các nhà thơ dường như đang sợ AI giống hệt như họ từng sợ rất nhiều thứ trong lịch sử. Và lịch sử thường cho thấy: những nỗi sợ đó hiếm khi đúng.
28 Tháng Hai 20262:58 SA(Xem: 6328)
Trong đời sống văn chương Việt Nam hải ngoại, có những người viết để nổi danh. Có những người viết để lưu dấu một thời. Có những người viết để giữ lại một phần linh hồn dân tộc mình giữa những bể dâu của lịch sử. Nhà văn, dịch giả Từ Vũ thuộc vế thứ ba, bền bỉ gìn giữ tiếng Việt như giữ một ngọn lửa nhỏ trong gió.
10 Tháng Hai 20263:12 SA(Xem: 6933)
Bài viết này đặt ra một nghịch lý của Việt Nam đương đại: khi lý tưởng cộng sản vẫn được nhắc tới như nền tảng chính danh, nhưng vai trò thực tế của nó trong đời sống xã hội đã thay đổi sâu sắc. Thay vì tranh luận đúng–sai hay kết tội, tác giả chọn cách phân tích sự dịch chuyển của lý tưởng từ mục tiêu giải phóng sang ngôn ngữ quyền lực. Cách tiếp cận này giúp nhìn lại mối quan hệ giữa ổn định, phát triển và bất bình đẳng dưới một góc nhìn tỉnh táo hơn. Tòa soạn giới thiệu bài viết như một đóng góp cho đối thoại xã hội, với tinh thần viết để hiểu và cùng suy ngẫm
07 Tháng Hai 202610:40 CH(Xem: 6497)
Sắp đến Tết truyền thống, như một “tập quán” bất đắc dĩ mới, nhiều người đang lo lắng chuẩn bị đón đợi nhằm chống đỡ các chiêu trò hài nhạt chọc cười nhảm trên các phương tiện truyền thông, thì đã bị đầu độc đến nôn mửa bởi hàng loạt thứ văn hóa rác được gọi là “Thơ Văn”, mà lại là “Thơ Văn” đoạt các giải cao ngất ngưởng, được ngợi ca ngút trời theo kiểu “quá lời nguyện hết thành hoàng thổ công”…
07 Tháng Hai 202610:12 CH(Xem: 8090)
Bụt trong văn hóa Việt Nam là một hiện thân vừa nhân hậu vì hay cứu khổ giúp đời mang hình ảnh đức Phật, vừa là vị thần linh có quyền phép trấn tà, trừ vọng mang hình ảnh thần thánh. Đó là biểu tượng hiền thần, hỷ thánh trong nếp sống tinh thần dân gian Việt Nam. Hễ nơi nào có đau khổ, bất công, nguy khốn là có Bụt hiện lên cứu cấp. Người Việt đi vào đời bằng Bụt, rồi đi sâu vào đạo bằng Phật.