- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc

QUÊ MẸ

14 Tháng Tư 202411:02 SA(Xem: 31115)
cua bien TAM QUAN
Cửa biển Tam Quan - ảnh Nguyễn Thi Hồng Vân

 

Nguyễn Thanh Sơn

QUÊ MẸ

 

- “Chiều nay chị nhớ về thăm mẹ, chị vắng năm mười ngày lại nhắc. Hổm rày, cứ mỗi chiều là mẹ ra đứng ngõ sau, dáng như chờ đợi ai!”.

Chị em cô Hai tình cờ gặp nhau trên bến sông, lúc cô đang bưng rổ cá từ thuyền lên bờ. Thoáng nghe em trai nhắc nhở về mẹ, tay cô trĩu nặng và lòng nhói lên nỗi niềm sâu kín, lặng nhìn một hồi lâu về bên kia sông, nơi có tuổi thơ cô và với bao người sướng vui buồn khổ đến rồi lại đi như dòng nước lớn ròng của dòng sông quê mẹ. Càng có tuổi người ta có nhiều hồi ức về thời xa xưa, có khi sống với nó hàng giờ như kẻ mộng du.

Quê chồng cách quê mẹ một con sông, con sông quê đỏng đảnh lớn ròng theo mùa trăng, theo nhịp tuần hoàn của trời đất. Khi triều xuống thì trơ cái cồn thoi loi giữa dòng, dòng nước như dải lụa mềm vắt vẻo đôi bờ có rặng dừa nghiêng soi bóng nước. Lúc triều cường, con sông mênh mông là nước. Nhà cô nằm gọn thỏn trong cái vịnh che chắn bởi dãy núi vươn ra biển, dãy núi này ngày xưa có tên là Kim Bồng, cái tên đẹp đẽ như vậy lại trôi vào quên lãng, ít người nhắc tới nên giới trẻ bây ít biết, âu cũng là lẽ thường tình của đời.

Mới ngày nào mà chừng đã xa xưa lắm rồi. Cô là con gái tuổi cập kê nhưng có biết thế nào là yêu đương hò hẹn, chuyện dựng vợ gã chồng là của người trên, kẻ trước. cha mẹ cứ đặt đâu là con ngồi đó. Đám cưới gặp con nước cạn, con sông quê phơi gò cát vàng hâm hẩm, lớp bùn non sền sệt, hai họ lội bộ một đoạn khá xa mới đến bến đò. Bốn chiếc xuồng diễu qua một đoạn ngắn, đứng trên bờ nhìn tà áo dài bay bay, in xuống dòng sông tạo bức tranh quê nhiều màu sắc trông thật linh động, cô dâu giản dị, đơn sơ với chiếc nón lá Gò Găng thẹn thò nghiêng soi xuống dòng sông quê loang loáng nước.

Lần đầu tiên về ngôi nhà lạ lẫm, cô tựa như con chim non bị nhốt trong lồng, co ro trông tội nghiệp. Nhà chồng đông anh em, cô dâu mới ngồi ké né bên nồi cơm, cả bữa có được món nào đâu, đêm về  úp mặt vào ngực chồng đói lả mà không dám nói.

Những ngày sau đám cưới cô năng về thăm mẹ, nhớ và thèm cảm giác được gục đầu vào lòng mẹ mà kể chuyện riêng tư. Tháng ngày lặng lẽ trôi, lo quán xuyến cơ ngơi nhà chồng, lo cho anh chồng tuy cục mịch nhưng chí thú làm ăn, cho cô con gái Hoài Hương nên cô ít còn tâm trí nhớ nhiều về mái nhà xưa, có khi dăm ba tháng mới về thăm mẹ.

Cô gái Hoài Hương, càng lớn cô giống ngoại như khuôn đúc và được cưng chiều nhất. Nhân ngày thôi nôi, ngoại tặng món quà tinh thần là đặt cho cháu cái tên Hoài Hương. Ngụ ý là sau này cháu có lấy chồng gần hay xa vẫn luôn nhớ về quê mẹ, nhớ một phần máu thịt đã gởi gắm nơi đó.

Lúc còn nhỏ mỗi khi về quê ngoại, cô thường hỏi cắc cớ:”Tại sao con họ Nguyễn ngoại lại họ Đào? ”Ngoại giải thích là cháu theo họ cha và còn nói thêm là cụ tổ nhà ta là người Thanh Hóa theo thuyền đánh cá trôi dạt về xứ này mà tạo lập quê kiểng, gia phả không được ghi chép rõ ràng mà chỉ truyền miệng nhân ngày giỗ chạp, tam sao thất bản, lâu ngày con cháu mờ nhạt gốc gác của mình, cội nguồn xưa chỉ còn trong ý nghĩ.

“Thế còn ngoại, cụ tổ nhà ta là cụ Đào Duy Từ?”

Ngoại trả lời cụ Đào Duy Từ là danh nhân đất nước, đền thờ cụ ở tại thôn Tài Lương, Hoài Thanh Tây cách huyện lỵ Hoài Nhơn chừng sáu km về hướng đông bắc. Hằng năm, ngày mười sáu ,tháng giêng con cháu gần xa về kính viếng cụ, ngoại hứa đến ngày đó sẽ đưa Hoài Hương về ăn giỗ tổ. Đôi mắt con bé sáng, lúng liếng lung linh như đôi hạt nhãn, cháu vỗ tay reo với vẻ thích thú lắm vì tự hào rằng trong người mình luân lưu dòng máu của một danh nhân.

Lớn lên Hoài Hương có điều kiện hiểu sâu sắc về quê mẹ. Mảnh đất hiền hòa, lòng người hiếu khách, là nơi đất lành để con chim xa về đậu. Hoài Hương về thăm nhà thờ tổ, uy nghi, cổ kính trong không gian sâu lắng của hồn người muôn năm cũ, trong thế giới yên bình, tĩnh lặng của làng quê trù mật. Mỗi khi có lễ hội ở đền chùa miếu mạo, người ta tổ chức những đêm hát bội là cô náo nức đến thăm, nhập hồn vào các vai diễn công hầu khanh tướng mà tưởng chừng như người xưa hiển hiện đâu đây.

Thời bây giờ khác xa cô Hai của thời xưa, cái nếp ăn ở , cái nếp nghĩ cũng khác, xưa nay vật chất thay đổi tinh thần cũng nhiều, áo mặc sao qua khỏi đầu là chuyện của người xưa. Cô Hai lại đăm chiêu về ký ức của mình.

Một hôm, nhân ngày nghỉ hè, Hoài Hương đưa bạn tình, anh chàng “con lai” về thăm quê mẹ, về Trung Lương ăn bòng, thăm đập ngăn sông Lại lấy nước tưới cho cánh đồng Hoài Nhơn, đâu đó còn vương dấu vết của guồng xe nước ở phía bờ đông. Nhớ về cội nguồn gia tộc, cô chợt hỏi.

“Tại sao anh họ Nguyễn?”

“Anh theo họ mẹ.”

“Sau này Hoài Hương theo anh về xứ ấy, hẳn em sẽ kèm thêm một họ của Bill Clinton hoặc Bill Gates thì thật là thú vị!”
 

“Mỗi một con người cần có cội nguồn để tìm về. Trái đất này không rộng như người ta vẫn tưởng, phải vậy không Hoài Hương?”

Hoài Hương theo chồng định cư ở nước ngoài theo diện con lai. Hôm đưa tiễn cháu về thành phố Hồ Chí Minh, cô Hai khóc nức nở lòng bịn rịn không muốn rời xa con. Ngoại cáu gắt, bà bảo:” Vận mệnh mỗi con người mỗi khác, cháu đi rồi sẽ trở về, đừng để nó thêm rối lòng. Con người có tâm địa tốt tất không đánh mất cội rễ của mình.”. Nhưng cô Hai lại nghĩ khác, cô mong muốn dựng vợ gã chồng cho con mình quanh làng xóm là luôn được nhìn chúng nó như ngày xưa cô đã vui buồn cùng mẹ, miếng thơm thảo, bữa đói bữa no luôn có mẹ cùng con. Bây giờ chúng đi xa, xa tít tắp. Sinh con cô biết tính con, Hoài Hương vốn đa cảm đa mang rồi nó biết xoay xở làm sao nơi đất khách quê người, làm mẹ ai không xót lòng!

Thời gian sau Hoài Hương gửi thư về thăm ngoại, thăm mẹ. Ngoại nhìn ảnh chụp về mùa đông, những bông tuyết trắng xốp phủ trên mái nhà, đọng trên tàn cây rợp một màu trắng xóa. Ngoại cứ tặc lưỡi hoài” Nhìn cũng thấy rét run nữa là!”. Trong thư Hoài Hương nhớ ngoại, nhớ mẹ, nhớ những món ăn đặc sản quê mình. Nhớ bánh tráng nước dừa có rắc hạt mè cầm muốn trĩu tay, nướng bằng lửa than phồng rực, thơm điếc mũi. Nhớ đến dĩa xôi nếp nấu bằng nước cốt dừa chưa và vào miệng đã cảm cái béo ngầy ngậy, nhớ bánh ít lá gai lấy chồng Bình Định, về Tam Quan uống nước dừa Xiêm ngày trời nắng… Đọc thư và nhìn ảnh con, cô Hai cứ bần thần trong dạ.

*****

Ngoại đã không chờ được cháu Hoài Hương về thăm , ngoại đã đi xa. Như con hạc trắng về đậu trên mảnh đất này, chỉ một thoáng thôi, bây giờ lại vỗ cánh bay về bến hư vô.

Mấy hôm trước như biết mình sắp đi về cõi khác, ngoại mặc những thứ đẹp đẽ nhất của mình rồi đi thăm từng đứa cháu, từng người thân kẻ sơ, rồi ra ngoài kè chắn sóng cửa biển Tam Quan như nhìn quê hương lần cuối. Một buổi sáng như chọn ngày lành tháng tốt để đi, đó là cái phúc muốn gửi lại điều tốt lành cho con cháu. Cầu cho linh hồn ngoại yên bình ở cõi vĩnh hằng.

Tôi kể lại câu chuyện này mang tâm sự của người trong truyện, hồn quê cứ mãi đầy ắp trong tâm tư, cất cao tiếng hát gửi bạn cùng gió núi mây ngàn chút vui buồn tình yêu xứ sở.

 

Nguyễn Thanh Sơn



Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
05 Tháng Bảy 200912:00 SA(Xem: 39068)
Mươi năm trước khi chưa có công trình thuỷ điện Hoà Bình, ở Mường Lưm có một trạm thủy văn nhỏ nằm bên sông Đà, cách bến phà phía tả ngạn sang huyện lỵ Phổ Yên độ vài trăm mét. Trạm thủy văn này chuyên ghi mực nước lên xuống của con sông Đà. Giữ trạm thủy văn này là ông Trụ vốn là một nhân viên kế toán của Ty thuỷ lợi đang chờ thủ tục nghỉ hưu.
05 Tháng Bảy 200912:00 SA(Xem: 44911)
Người đàn bà ngồi bên tôi, tóc xoã dài chạm đất khi đôi ba giọt nắng tách khỏi đám lá xiên xuống cái ao khô khốc hơi cạn nước, làm loé lên vài tia nhìn khác lạ trong đáy mắt. Đột nhiên tôi liên tưởng chị tới một quả khế chua vàng ươm, ngồn ngộn cái hương thơm ngậy của loài hoa cánh tím be bé.
05 Tháng Bảy 200912:00 SA(Xem: 43403)
Nàng vừa giặt áo vừa đuổi muỗi. Ngọn đèn dầu hắt chiếc bóng lẻ loi lên vách lá hông nhà. Trong bóng tối, chiếc áo đen thẫm trên tay nàng
05 Tháng Bảy 200912:00 SA(Xem: 41584)
Đêm vắng, tiếng mèo kêu não nề, chết chóc ma quái. Tôi sợ tiếng kêu trong những mùa động đực. Không dám nhìn ra ngoài, tôi đắp chăn kín mít không dám thở. Những con mèo đực cấu xé nhau để giành lấy con cái có tiếng kêu ngoa ngoắt át đi tất cả. Chúng gầm ghì ngoeo ngoeo, những tiếng kêu khi thất thanh khi rú lên như ăn thịt nhau.
11 Tháng Sáu 200912:00 SA(Xem: 41079)
LTS: Lần đầu cộng tác cùng Hợp Lưu, Vương Kh. sống và làm việc tại Sài Gòn. Tác phẩm "Tắm" viết theo thể đối thoại đã tạo không khí lạ và sắc như một đoạn phim ngắn. Hợp Lưu trân trọng gới thiệu đến quí độc giả
11 Tháng Sáu 200912:00 SA(Xem: 38902)
LTS: Thu Hương sống và viết tại Hà nội, lần đầu cộng tác cùng Hợp Lưu. Tạp Chí Hợp Luu Tòa nhà có thiết kế rất giống một chiếc hộp khổng lồ, bốn bề nhôm kính, tường đã được quét sơn lại hai, ba lần vẫn không giấu nổi nhôm nhoam...Ngày ngày, mấy chục con người bước vào đây để tỏa đi các tầng, cặm cụi và tận tụy, một vòng quay đã được lập trình sẵn, cực kỳ đơn điệu và tẻ nhạt.
11 Tháng Sáu 200912:00 SA(Xem: 45307)
LTS: Lần đầu cộng tác cùng Hợp Lưu, "Buổi sáng không có mùi ngỗng" ẩn hiện kỳ bí bởi sự nhập nhòa giữa quá khứ và hiện thực, giữa mất và còn của tình yêu... Hợp Lưu hân hạnh giới thiệu đến quí bạn đọc. Tạp Chí Hợp Lưu
30 Tháng Ba 200912:00 SA(Xem: 38501)
Có vẻ ông trời chỉ chiêu đãi quê tôi một món duy nhất: con gái đẹp. Nghĩ đến đó, tôi sợ. Có khi nào sau này tôi cũng như bao người con gái ấy. Vì nghèo, vì vô học, vì dốt nát, vì có sẵn dòng máu làm đĩ.
20 Tháng Ba 200912:00 SA(Xem: 36132)
Căn phòng tĩnh lặng, cửa sổ khép kín buông ri đô trắng, cửa chính đã được khoá chặt, điện thoại di động tắt máy, điện thoại bàn đã bị rút dây, thế là nội bất xuất, ngoại bất nhập. Điện tuýp sáng trưng.
20 Tháng Ba 200912:00 SA(Xem: 47522)
LTS: Tăng Văn Chung sống và làm việc tại Quảng Nam- Đà Nẵng, lần đầu cộng tác cùng Tạp Chí Hợp Lưu, anh có lối viết lạ và đẹp như thơ. Mời qúi độc giả ghé thăm thị trấn có dòng sông trôi ngang và cuộc tình trong "Tan vỡ" của anh. Tạp Chí Hợp Lưu