- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,578,602

Anh Hùng Khất Thực CHUYẾN CẦU VIỆN NĂM 1950 (chương 2)

01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 1050)

 

hochiminh-1946
Chân dung Hồ Chí Minh /1946

 

 Anh Hùng Khất Thực  

CHUYẾN CẦU VIỆN NĂM 1950 

(chương 2)  

 

Vũ Ngự Chiêu, Ph.D., J.D.   

 

 

Tối 16/2/1950, trong dạ tiệc đưa tiễn Mao, khi Côn nửa đùa nửa thực đề nghị Stalin ký Hiệp ước hữu nghị với Việt Nam, Stalin từ chối và phũ phàng hỏi lại: Cách nào để giải thích Côn từ đâu tới Mat-scơ-va? Stalin còn bỡn cợt Côn về việc “Chủ tịch Nhà Nước” xin “chỉ thị.” 

*(Zhai, 2000:16-17. Theo Võ Giáp, Linov Côn còn xin chữ ký Stalin và các cấp lãnh đạo Nga (như từng xin hình có chữ ký Tướng Claire Chennault năm 1945); nhưng tờ báo có chữ ký này sau đó bỗng dưng biến mất ở khách sạn; Giáp, CĐTVV, 2001:331; Trương Quảng Hoa, “Quyết sách,” trong La Quí Ba et al., 2008:21.)

 

    

Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1]

Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]

 

I. NGOẠI GIAO NHÂN DÂN:

 

Từ khi Hồ tuyên bố độc lập với Pháp chiều Chủ Nhật, 2/9/1945, tại công viên Ba Đình—tức rond-point Puginier—không quốc gia nào thừa nhận VNDCCH. Pháp và Bri-tên chỉ coi VNDCCH như một “chính phủ sinh ra trong hỗn loạn,” bất hợp pháp. Dịp cuối tuần 22-23/9/1945, liên quân Bri-tên-Pháp ép buộc tù binh Nhật tham dự cuộc cướp chính quyền ở Sài Gòn—một tội ác chiến tranh [war crimes] theo công pháp quốc tế đương thời—rồi đánh đuổi Lâm Ủy Hành Chánh của Phạm Văn Bạch khỏi các thành thị phía Nam vĩ tuyến 16 như “phiến loạn.”

Mặc dù Trùng Khánh áp lực Paris và Sài Gòn cử đại diện ký với Hồ và Vũ Hồng Khanh Hiệp ước sơ bộ 6/3/1946 tại Hà Nội, thừa nhận chính phủ Liên hiệp Kháng chiến VNDCCH là một “tiểu bang tự do” [Etat libre] trong Liên Bang Đông Dương và Liên Hiệp Pháp; rồi, Marius Moutet và Hồ ký thêm Tạm Ước [Modus vivendi] 14/9/1946 tại Paris; Cao Ủy/Linh Mục Thierry d’Argenlieu cùng Tổng Tư lệnh Đông Dương Jean Valluy quyết dồn Hồ vào tình cảnh “lang thang” trong rừng núi. Cuộc “tổng tấn công” 19/12/1946, là thế chẳng đặng đừng, dù bị diễn dịch như thái độ ưa bạo lực cách mạng của Đảng Cộng Sản Đông Dương [CSĐD], và dùng làm chiêu bài [pretext] hầu cắt đứt thương thuyết, mở đường cho “một chí sĩ quốc gia” chân chính [true nationalist] giúp Pháp tái khôi phục đế quốc tiền chiến.[3]


Từ năm 1946, các giáo sĩ Pháp—như Tổng Giám Mục Antonin Drapier, Giám Mục Quảng Châu Fourquet, Linh mục Vircondolet, Giám đốc Hội truyền giáo Hong Kong, và Yolle, một gián điệp—cùng Đô đốc Thierry d’Argenlieu, Léon Pignon, và viên chức Bộ Pháp Quốc Hải Ngoại tái khám phá ra cựu hoàng Nguyễn Phước Điển (8/1/1926-25/8/1945), thường chỉ chép trong khối sử văn hiện hữu qua niên hiệu  Bảo Đại, đang lưu vong ở Hong Kong với một vũ nữ. Cuối năm đó, Cao Ủy Emille Bollaert ký với Bảo Đại Qui ước Hạ Long (6-7/12/1947)—mà điều khoản giữ kín, nhưng quan trọng nhất là Pháp sẽ tuyên bố cắt đứt thương thuyết với Hồ [ngày 23/12/1947].[4]

 

Sau nhiều tháng tranh luận, ngày 5/6/1948, Cao Ủy Emille Bollaert, Nguyễn Văn Xuân cùng đại diện ba miền (Nghiêm Xuân Thiện, Đặng Hữu Chí [Bắc], Phan Văn Giáo, Nguyễn Khoa Toàn, Đinh Xuân Quảng [Trung], và Trần Văn Hữu, Lê Văn Hoạch [Nam]) gặp nhau trên chiến hạm Duguay-Trouin bỏ neo ở vịnh Hạ Long, “dưới sự chứng kiến của đế Bảo Đại.” Ra Tuyên ngôn chung (Déclaration Commune) ba [3] điểm; theo đó, xác định: 1/ “Nước Pháp long trọng nhìn nhận sự độc lập của nước Việt Nam. Từ rày về sau, việc tự do thực hiện nền thống nhất quốc gia tùy nơi nước Việt Nam. Về phần mình, nước Việt Nam tuyên bố chịu gia nhập vào Liên Hiệp Pháp với danh nghĩa một quốc gia đồng hội với nước Pháp.” [“La France reconnait solennement l’indépendance du Vietnam auquel il appartient de réaliser librement son unité. De son côté, le Vietnam proclame son adhésion à l’Union Francaise en qualité d’Etat associé à la France. L’indépendence du Vietnam n’a d’autres limites que celles que lui impose son appartenance à l’Union Francaise;”] (điều 1). Ngoài ra, 2/ Việt Nam bảo đảm tôn trọng những quyền lợi của công dân Pháp, tôn trọng các nguyên tắc dân chủ, và dành ưu tiên cho các cố vấn và chuyên viên kỹ thuật Pháp trong việc tổ chức nội bộ cùng kinh tế; và, 3/ sau khi thiết lập một chính phủ lâm thời, các đại diện Việt Nam và Pháp sẽ ký kết những thỏa ước về văn hoá, chính trị, quân sự, kinh tế, tài chính và kỹ thuật. Ngoài Tuyên Ngôn Chung nói trên, còn có một phụ bản mật, với nội dung tương tự như mật ước trong buổi họp ngày 7/12/1947.[5]


“Sa Majesté Bảo Đại,” Nguyễn Văn Xuân và Bollaert còn ra ba tuyên cáo riêng lập lại những điều căn bản trên.

Nhưng chính phủ trung ương lâm thời của Xuân ở Hà Nội vô quyền lực. Ba kỳ đều có chính phủ riêng, do ba Thủ hiến cầm đầu. Mỗi Thủ hiến có các đơn vị phụ lực bản xứ, mà cấp chỉ huy biệt phái từ lực lượng Viễn chinh Pháp. Chính phủ trung ương chưa có quân đội riêng, ngoại trừ một tiểu đoàn Ngự Lâm Quân ở Đà Lạt. Từ tháng 3/1949, Quân Đội QGVN mới bắt đầu thành hình. Giữa năm 1950 tổng số có 56,742 người (27,778 chính qui + 28,964 Bảo An và phụ lực). Để đáp ứng nhu cầu, nhiều lớp huấn luyện cấp tốc sĩ quan và hạ sĩ quan cao cấp được tổ chức. Cuối năm 1950, khi Nguyễn Văn Xuân đã mang gia đình về Pháp nghỉ dài hạn, thủ tướng thứ ba Trần Văn Hữu lên nắm quyền, QGVN mới có 300 sĩ quan, với hai Trung Tá. Nhưng chưa có Bộ Tổng Tham Mưu, hay Tổng trưởng Quốc Phòng “toàn thời gian.” Cấp chỉ huy đầu tiên là Pierre Nguyễn Đệ, Đổng lý Văn-Võ Phòng của Vĩnh Thụy/Bảo Đại từ ngày 1/6/1950. Ngày 1/10/1951, Quân đội QGVN chính thức thành lập. Năm 1951 lập được 4 Sư đoàn: SĐ 1 ở miền Nam; SĐ 2 ở Trung Việt; SĐ 3 ở Bắc; và SĐ 4 ở vùng Cao Nguyên. Dự trù lên tới 8 Sư đoàn nhẹ năm 1955. Lực lượng Bảo An gồm 3,200 ở Bắc; 8,526 tại miền Trung, và  8,600 ở Nam Việt. Các tiểu đoàn bảo an (bataillon de garde) quân số thay đổi. Tại miền Nam, Bảo An có một đại đội Nhảy Dù và 1 trung đội sông (groupe d'escadrilles, gồm 24 LCVP). Phụ Lực (supplétif), miền Bắc có 7,700 tay súng; Trung, 3,500; và Nam, 17,764. Các đại đội Phụ lực nhẹ với ít súng nặng và tự động. Những đơn vị khác có: Lính sắc tộc (khoảng 8,000 người); Lính chính trị hay tôn giáo (khoảng 35,000); Lính chuyên môn như bảo vệ đường xe lửa, v.. v.. [6] Từ tháng 10/1950, Pháp cũng tiến hành việc sát nhập 75,000 phụ lực Ki-tô vào QĐQG do Mỹ tài trợ, như lời yêu cầu của Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Thục và Phạm Ngọc Chi.[7]


Điều khiến Pháp khó chịu nhất là phe Việt Nam chống Cộng—mà guồng máy tuyên truyền Cộng Sản nguyền rủa là “ngụy,” “tay sai Pháp”—không ngừng đòi hỏi độc lập và thống nhất lãnh thổ. Trên cơ sở pháp lý, họ được nhân nhượng những gì Hồ và Đảng CSĐD (lúc này đã giải tán, hay “rút vào bí mật” như Hồ tự biện minh ít năm sau) đã thất bại. Ngày 8/3/1949, dưới áp lực Mỹ và nhất là do viễn ảnh đầy dọa nạt từ chiến thắng của Đảng CSTH, “Hiệp ước Elysées” ra đời. Tổng thống Vincent Auriol gửi quốc thư cho Bảo Đại, công nhận sự độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, với điều kiện duy nhất là Việt Nam trở thành một thành viên của Liên Hiệp Pháp. Ba ngày sau, 11/3, Paul Coste-Floret vận động Quốc Hội Pháp chấp nhận cho Nam Kỳ sát nhập vào Việt Nam—dựa trên Điều thứ 75 của Hiến pháp 1946: Một phần lãnh thổ của Cộng Hoà Pháp hoặc Liên Hiệp Pháp có thể biến đổi, do một Luật của Quốc Hội, sau khi đã tham khảo với Hội nghị địa phương và Hội đồng Liên Hiệp Pháp. Như thế, theo Điều 27 của Hiến pháp, không cần phải trưng cầu dân ý (referendum), mà chỉ cần biểu quyết của Hội đồng Lãnh thổ Nam kỳ (Assemblée Territoriale de Cochinchine, HĐLTNK), với sự chấp thuận của Thượng Viện Liên Hiệp Pháp [Haut Conseil de l'Union Francaise]. Viên chức Pháp cũng giữ kín nội dung “Hiệp ước Elysées” cho tới ngày Vĩnh Thụy về nước, dự trù vào 25/4/1949 để có một “kích xúc tâm lý” (choc psychologique).[8]


Ngày 24/4/1949—sau khi Hội Đồng Lãnh Thổ Nam Kỳ đồng ý tái nhập Nam Kỳ vào Việt Nam— Vĩnh Thụy rời Paris hồi hương. Từ Singapore về tới Sài Gòn ngày 26/4, Vĩnh Thụy lên thẳng Đà Lạt, dù trụ sở chính phủ trung ương đặt tại Hà Nội. Hơn một tháng sau, ngày 18/6, Paris công bố Phụ bản các điều thỏa thuận của hiệp ước, và đầu tháng 7/1949, chính phủ Quốc Gia Việt Nam [QGVN] ra đời với Vĩnh Thụy  làm Quốc trưởng, Xuân làm Phó Thủ tướng. Nhưng Vĩnh Thụy thực sự cai trị vỏn vẹn thị xã Đà Lạt. “Hoàng triều cương thổ” bao gồm Cao nguyên Trung Việt, cùng các khu tự trị dành cho sắc tộc Thái, Mường, H’Mong (Mèo), Nùng, và khu Ki-tô giáo Phát Diệm do các sứ quân trực trị. Sài Gòn, Huế, Hà Nội và Hải Phòng vẫn do quân Liên Hiệp Pháp cai trị, qua các viên chức hành chính Việt đang tiến hóa thành QGVN. Trên phương diện ngoại giao, hai cường quốc Mỹ, Bri-tên và các nước Đông Nam Á cảm thấy chưa cần vội vã mở liên hệ. Mặc dù bí mật tài trợ việc khai sinh Quân đội QGVN, Bộ Ngoại Giao Mỹ chưa tin Pháp, vì suốt hơn ba năm, Paris chưa chứng tỏ dấu hiệu muốn trả độc lập thực sự cho những phần tử quốc gia chân chính mà Mỹ hy vọng có thể thay chính phủ Hồ.

Phần Hồ vẫn chủ trương “nước còn tát được vẫn tát.” Tháng 2/1947, Trần Ngọc Ranh gửi cho Bộ Hải Ngoại Pháp thư nghị hòa của Hồ, kèm theo tài liệu qui trách cho viên chức Pháp về chiến cuộc VN. Ngày 20/2/1947—sau khi Trung đoàn Thủ đô được Tổng lãnh sự THDQ giúp rút khỏi Hà Nội ra Phúc Yên, (đổi lấy việc phóng thích khoảng 500 Hoa kiều), và HCM rời Hà Đông qua Sơn Tây dưới sự che chở của dòng người tản cư mà Hồ dấy động qua khẩu hiệu “tản cư cũng là kháng chiến”—Hồ nhờ đại diện Hồng Thập tự quốc tế chuyển cho Lãnh sự Bri-tên một thư nghị hoà. Đài phát thanh VM đọc thư Hồ gửi Thủ tướng Paul Ramadier và BT Hải Ngoại Marius Moutet, kêu gọi thương thuyết. Theo Hồ, mục tiêu của dân Việt Nam là độc lập và thống nhất trong Liên Hiệp Pháp, và hứa tôn trọng quyền lợi kinh tế và văn hoá của Pháp tại Việt Nam.[9] Đồng thời phát thanh thư ngày 19/2/1947 của Thứ trưởng Ngoại Giao Hoàng Minh Giám, mời Lãnh sự Mỹ, Bri-tên, Trung Hoa Dân Quốc và India cùng đại diện Hồng Thập Tự tham dự một buổi gặp mặt ngày 21/2/1947.

(CĐ 1489, Paris gửi BNG, 11/4/1947, 11G00; FRUS, 1947, VI: The Far East (1972), pp.86-87).

(CĐ 67, Sài Gòn gửi BNG, 12/4/1947, 12G00; FRUS, 1947, VI: The Far East (1972), tr


Việc cách chức Linh mục/Cao ủy Thierry d’Argenlieu và cử Dân biểu Emille Bollaert lên thay, tạo cơ hội cho Hồ tiếp tục tát nước. Để trả lời câu tuyên bố của Bollaert là sẵn sàng đón nghe mọi đề nghị thương thuyết, ngày 12/4/1947, Y sĩ Phạm Ngọc Thạch—nhân chuyến đi Hong Kong thuyết phục Vĩnh Thụy nhưng thất bại—gửi thư cho Đại sứ Edwin F. Stanton tại Bangkok. Một lá thư khác, đề ngày 13/4/1947 của Thạch, gửi Tướng Douglas MacArthur, liên quan đến số vàng trị giá 37,498,000 Mỹ kim do Nhật giữ. Thạch được Trung tá William Law của Toà Đại sứ Mỹ tiếp xúc khi ghé qua Bangkok.[10]

 

Ngày 19/4, Hồ còn gửi một công điện mật cho Bollaert, tuyên bố sẵn sàng ngưng bắn và thương thuyết. Đề nghị này đưa đến việc Paul Mus bí mật gặp Hoàng Minh giám ở Cầu Đuống, rồi cuộc gặp mặt với Hồ ở Thái Nguyên tối 9-10/5/1947 để đưa ra điều kiện đầu hàng của tân Cao ủy Bollaert.

Bollaert đưa ra 5 điều kiện:


(1) Giao nộp trong 2 tuần lễ một số lượng võ khí quan trọng

(2) chấm dứt tức khắc mọi hành động chiến tranh và khủng bố;

(3) phóng thích tù nhân chiến tranh;

(4) giao nộp lính Pháp và Nhật đào ngũ;

(5) lính Pháp tự do di chuyển trên toàn lãnh thổ.


Ngày 29/4, Ramadier đồng ý, nhưng thêm 2 điều kiện:

Số vũ khí VM giao nạp phải lớn, và tù binh VM chỉ được phóng thích sau khi ngưng bắn thực hiện một cách thiết thực.

Sau khi tham khảo với Valluy, Bollaert đề nghị 180 đại liên, 675 trung liên, 1000 tiểu liên, 30,000 súng cá nhân, và 4 triệu viên đạn. Khi Mus cho là những điều kiện này không chấp nhận được với HCM, Valluy tuyên bố “Tôi hy vọng như vậy.[11]


Từ ngày 2/5/1947, Tổng Lãnh sự Mỹ Reed báo cáo thương thuyết có tiến bộ. Hai quan điểm chính là nói chuyện với Hồ, nhưng loại trừ những phần tử quá khích; hoặc Vĩnh Thụy/Bảo Đại.[12]


3/5/1947:
Ngoại trưởng Marshall yêu cầu Tổng Lãnh sự Sài Gòn báo cáo rõ về quan điểm của chính phủ Nam Kinh đối với vấn đề Việt Nam. Hôm sau, O’Sullivan báo cáo về sự khác biệt giữa TLS Yuen ở Hà Nội và Ing ở Sài Gòn. Yuen yểm trợ Việt Minh, và muốn VN được độc lập. China is the fourth power, not French.[13]


Ngày
9/5/1947, Paul Mus tới Cầu Đuống, được Giám dẫn đi gặp Hồ tại tỉnh lị Thái Nguyên. Sau khi nghe Mus đọc thuộc lòng những điều kiện của Bollaert, [ngưng ngay xung đột, hạ vũ khí, nộp cho Pháp nửa số vũ khí; phóng thích hết tù binh và con tin; Pháp được tự do di chuyển] HCM nói: “Không có chỗ cho những kẻ hèn nhát trong Liên Hiệp Pháp. Tôi sẽ là kẻ hèn nhát nếu chấp nhận những điều kiện này.” [Xem 28/5 & 29/7/1947] [Xem 19/6/1947]


Ngày 19/6/1947, HCM lại gửi mật điện cho Bollaert, bày tỏ ước muốn được hợp tác với nhân dân Pháp trong khuôn khổ Liên Hiệp Pháp.”


Ngày 19/7, HCM cải tổ chính phủ.


Ngày 22/7, Bollaert tuyên bố với báo chí là ngay sau khi ngưng tiếng súng, sẵn sàng thương thuyết với mọi phe phái, ngoại trừ những kẻ thù của lý lẽ dưới chiêu bài ái quốc. (Le Monde, 24 July 1947)


Tháng 9/1947, HCM lại gửi một điện mật cho Đại sứ Pháp ở Bangkok, đưa ra các điều kiện: Về chính trị, thống nhất ba kỳ và độc lập trong khuôn khổ Liên Hiệp Pháp; về quân sự, duy trì một đạo quân nhỏ VN; Pháp được mở các căn cứ quân sự ở Lào Cai, Lạng Sơn, Hòn Gai, Tourane, Cam Ranh và Vũng Tàu; Về ngoại giao, Việt Nam ngả theo LHP, nhưng có đại diện ngoại giao ở TH, Thái Lan và những nước lân cận. (Irving, 1975:50-51)

Pháp từ chối. Tuy nhiên, đề nghị của HCM bắt đầu tạo sự chia rẽ trong chính giới Pháp. Phe MRP và Dân Chủ Ki-tô thành công trong việc ngăn chặn thương thuyết, và phe Xã Hội, CS muốn đạt một giải pháp hòa bình với Hồ. (Irving, 1975:51-52)


Hồ cũng tạm thời chưa bày tỏ thái độ với Vĩnh Thụy, dù cựu hoàng chuyển dần sang lập trường chống Cộng. Ngày 17/2/1947, những người ủng hộ Vĩnh Thụy đã thành lập tại Nam Kinh Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhứt Toàn Quốc “ngõ hầu đạt tới lý tưởng tối cao . . . tranh thủ Độc lập và Thống nhứt quốc gia, củng cố chánh thể Cộng hòa dân chủ, thực thi chế độ dân chủ chân chánh.” (Bản ký kết thành lập MTQGTNTQ; 10H xxx). Qui tụ Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh Hội (Nguyễn Hải Thần), Việt Nam Quốc Dân Đảng (Nguyễn Tường Tam), Việt Nam Dân Chủ Xã Hội Đảng (Nguyễn Hoàn Bích), Việt Nam Quốc Gia Thanh Niên Đoàn (Trần Côn tức Văn Tuyên), và Đoàn Thể Dân Chúng (Lưu Đức Trung tức Lưu Bá Đạt, nhân viên mật thám người Tàu từng sống ở Đà Nẵng, đang làm việc cho một ngân hàng Bri-tên ở Quảng Châu Loan). Mặt Trận cử Thần, Tam, Bích và Côn xuống Hong Kong [Hương Cảng] gặp Vĩnh Thụy. Hơn một tháng sau, trong cuộc họp báo ở Hong Kong ngày 29/3, Vĩnh Thụy tuyên bố chính phủ HCM không đủ khả năng đại diện Việt Nam; và, Vĩnh Thụy chống lại Việt Minh. Tại buổi họp báo này, phổ biến tài liệu Mặt Trận Thống Nhứt Quốc Gia Việt Nam [Front d'Union Nationale du Viet-Nam], tên mới của MTQGTNTQ mở rộng—vì đã mời thêm được các tổ chức miền nam và trung như Việt Nam Quốc Gia Độc Lập Đảng (Nguyễn Văn Sâm), Cao Đài (Phạm Công Tắc), và Liên Đoàn Công Giáo (Trần Văn Lý-Ngô Đình Diệm). Mục tiêu của Mặt Trận mở rộng hơn, tức “thống nhất mọi tổ chức cách mạng, đảng phái chính trị, đoàn thể tôn giáo và xã hội để đấu tranh giành độc lập và thống nhất lãnh thổ, củng cố chế độ cộng hoà, dân chủ, hợp tác toàn diện với tất cả các quốc gia trên thế giới trên căn bản công bằng và tự do để vãn hồi trật tự thế giới.” Về Việt Nam, Mặt Trận khẳng định cuộc kháng chiến hơn một năm qua không phải là công trình của một đảng nào, mà là của toàn dân. Chính phủ HCM không còn được nhân dân tin tưởng và đã mất vị thế trên thế giới trong cuộc tranh đấu giành độc lập. Bởi vậy, Mặt Trận ủng hộ cựu hoàng Bảo Đại Nguyễn Vĩnh Thụy để thành lập một chính phủ dân chủ thực sự. (sic)[14]


Mãi tới khi nước đã cạn, ngọn lửa “thánh chiến chống Cộng” ngày càng bốc mạnh, Mao chiếm Bắc Kinh, và cơ quan tuyên truyền Liên Sô Nga thêm một lần khẳng định Hồ cầm đầu Đảng Cộng Sản ở Việt Nam, Hồ mới công khai chống “đế quốc đầu xỏ Mỹ.” Ngày 27/4/1949, lên án tử hình Bảo Đại. Đồng thời xiết chặt quan hệ với Đảng CSTH, theo đường lối “ngoại giao nhân dân,” và tiếp tay du kích Điền-Quế và Quảng Tây vây đánh tàn quân Tưởng ở Thập Vạn Đại Sơn.[15]


Một gián điệp Pháp, trong bộ áo trùng thâm Ki-tô, vận động giới quân sự Pháp ủng hộ lực lượng chống Cộng ở Thập Vạn Đại Sơn, nhưng Tướng  Carpentier không đồng ý, sợ Trung Cộng tấn công Bắc Việt.[16]

Tài liệu CSTH và CSVN mới giải mật giúp khẳng định điều mà quân báo Pháp và Tây Phương biết từ lâu: Liên hệ giữa hai đảng CSTH và CSVN đã khởi đầu từ năm 1937-1946 qua mạng tình báo Trung Hoa hải ngoại ở Bangkok và Phnom Penh với các lưới nằm vùng Hoa kiều Chợ Lớn, Hải Phòng và Hà Nội.[17]


Đảng CSTH—bị đặt ra ngoài vòng pháp luật, qua Nghị định ngày 28/9/1939 của Toàn quyền Georges Catroux, thi hành Sắc Luật ngày 26/9/1939 [đặt CS ra ngoài vòng pháp luật] tại mẫu quốc (JOIF, 51:78, [30/9/1939]: 2836-837)—bắt đầu tái hoạt động sau ngày Nhật đầu hàng. Tháng 8/1945, xuất bản tờ Việt Nam Báo ở Chợ Lớn, nhưng bị đóng cửa. Tháng 9/1945, Đảng CSTH thành lập một Ủy ban hải ngoại tại Nam Đông Dương, chi nhánh của Ủy Ban Chấp Hành Hải Ngoại phụ trách Thái Lan, India, Indonesia, Miến Điện [Myanmar], Malaya và Đông Dương, với trụ sở đặt tại Bangkok (Thái Lan). Cơ quan này liên hệ trực tiếp với Diên An [Yenan].


Từ tháng 3/1946—sau khi cả Liên Bang Mỹ và Liên Sô Nga đứng ra hòa giải giữa Tưởng và Mao, đưa đến việc ký ba [3] tạm ước vào tháng 1/1946 (đình chiến, chính trị và hiến pháp, tái tổ chức quân đội)—cán bộ CSTH tái hiện ở miền Nam vĩ tuyến 16. Rải truyền đơn đả kích chính sách của Quốc Dân Đảng TH. Nam Kiều Học Hiệu tại Chợ Lớn có nhiều hoạt động nhất. Việt Nam Nhựt Báo cũng tái bản, nhưng giọng điệu ôn hòa hơn. Ngày lễ lao động 1/5/1946, hoạt động ở Sài Gòn-Chợ Lớn và Pnom Penh gia tăng. Nhiều cán bộ quá khích từ Bangkok, nơi đặt trụ sở Ban Chỉ Huy Các Nước Đông Nam Á, đến Sài Gòn và Pnom Penh. Đảng CSTH cũng lập một trạm liên lạc ở Pnom Penh, vì đây là địa điểm an toàn, ngoài sự kiểm soát của Tòa Lãnh sự THDQD tại Sài Gòn. Nương đà thắng lợi của quân đội Diên An, cán bộ CSTH tăng gia hoạt động trong các nghiệp đoàn tại Nam Kỳ và Kampuchea. Đảng viên CSTH hoạt động mạnh nhất trong giới học sinh. Hiệu trưởng trường Nam Kiều, Vương Quan Nhựt, là một cán bộ cấp lãnh đạo. Chen Lee, quản lý Việt Nam Nhựt Báo, từng huấn luyện ở Diên An, giữ chức Tổng thư ký. Những phóng viên hải ngoại đều là CS, thuộc hãng thông tấn Kuo Tsi ở Hong Kong, Hua Shiang Pao [Hoa Thương Báo] ở Hong Kong, và TASS của Nga.


Sau loạt bài tấn công Tưởng Giới Thạch trên Việt Nam Nhựt Báo, Tổng Lãnh sự TH can thiệp, khiến Pháp đóng cửa báo ngày 23/11/1946. Chen Lee còn bị trục xuất vì thái độ bài Pháp. Chủ bút Quách Tương Bình, giáo sư trường Nam Kiều, bèn xin ra báo Việt Nam nhưng không được chấp thuận; nên in lại tờ nhật báo CS Yen Sha của Pnom Penh tại Chợ Lớn. Các biên tập khác hình như qui tụ tại tuần báo Toàn Dân ở Cây Mai, Chợ Lớn. Nhóm chỉ huy văn phòng liên lạc Pnom Penh gồm Trương Quan Hao, Lương Kiên, Trác Diệu Sô, Tô Đại Hun, Đặng Tất Toan. Cơ quan ngôn luận là Hiện Thực Nhật Báo. Môi trường hoạt động chính là giới công nhân và học sinh. Theo tài liệu TC, một cán bộ CSTH nằm vùng là Trương Dực, sinh ở Nam Việt, từng hoạt động ở Diên An. Năm 1938, vì bệnh phổi, trở lại Sài Gòn. Chủ nhiệm Tổng hội Liên Hiệp Giải Phóng Hoa Kiều. Giao du thân với Lê Duẩn, Phan Đình Khải [Lê Đức Thọ]. Năm 1951, được Vương Gia Tường gọi về nước, làm việc trong Ban Liên Lạc Trung Ương (Tình báo hải ngoại). Thông dịch chính của HCM từ năm 1951. Sau này tham gia Hội nghị Geneva trong “tổ Việt Nam” của Chu Ân Lai.[18]


Tại miền Bắc, từ mùa Thu 1945, Hồ tiếp kiến cán bộ CSTH ở Hải Phòng và Hà Nội ngay trong Phủ Chủ tịch. Cán bộ CSTH có mặt ở Hải Phòng từ tháng 2/1946. Vì quân THDQ đang chiếm đóng miền Bắc, cán bộ CSTH hoạt động bí mật. Họ đến từ Bangkok qua ngả Lào. Cũng vào thời gian này, các đơn vị du kích Quảng Tây và Quảng Đông, đã xâm nhập Bắc Việt từ Thế chiến thứ hai (1939-1945), công khai chống lại Đệ tứ Phương Diện quân của Trương Phát Khuê. Bị Sư đoàn 156 đánh đuổi khỏi Hoa Nam, các đơn vị trên phân tán vào Đình Lập và Móng Cái. Một số được Việt Minh thu dụng; số khác phân tán vào dân chúng tại Quảng Yên, Hòn Gai và Móng Cái.


Giữa tháng 5/1946, Ủy Ban Bangkok gửi qua Hà Nội một đoàn đại biểu. Cầm đầu là Ken Ky, Ủy viên BCH Bangkok. Hai ngày sau, 17/5, Lou Hing, một cán bộ BCH Trùng Khánh cũng tới Hà Nội, với vị thế phóng viên Tân Hoa xã. Lou Hing giới thiệu nhóm Ken Ky với HCM và BCHTW Đảng CSĐD [hoạt động dưới tên Hội Nghiên Cứu Chủ Nghĩa Mã Khắc Tư] [HNC/CNMKT]. Ngày 25/5/1946, Lou Hing rời Hà Nội qua Bangkok.

Từ tháng 7/1946, có hai nhóm CSTH tại Bắc Việt. Một đặt văn phòng ở Hà Nội và Hải Phòng, trực thuộc Ban Liên lạc thường trực với chính phủ HCM, gồm Yu Te Ming, cố vấn tại Bộ Nội vụ; Tchao Yi Pe và Tchang Siao Po, cố vấn tại Bộ Giáo Dục; Tchang Pan và Lam Lin Ping, cố vấn Bộ giao thông. Tchang Yi Ping và William Lu hợp tác với tuần báo Tân Việt Nam của Đặng Thái Mai. Một HNC/CNMKT Hoa-Việt cũng được tổ chức để chống lại tổ chức hữu nghị Hoa-Việt do phe Tưởng lập nên, với các đảng viên VNQDĐ và Việt Cách.

 

Dẫu vậy, Dalburo ở Thượng Hải—chi nhánh phụ trách Nam Á Châu của Ban Phương Đông QTCS, do cơ quan tình báo Nga [Intercenter hay Mainburo] tài trợ—không hài lòng việc Hồ giải tán Đảng CSĐD năm 1945, và từng lên án Hồ là phản bội.[19]


Tháng 11/1946, sau một buổi họp ở Hải Phòng, cán bộ CSTH và Đảng Dân Chủ Thống Nhất TH (PDU) gửi thư ngỏ cho HCM, tuyên bố theo đuổi những đường lối sau: Phản đối sự tàn ác của Pháp tại Nam Bộ; Phản đối những mưu toan biệt phân; Ủng hộ chính phủ VNDCCH; Không nhìn nhận chính phủ bù nhìn Nguyễn Văn Thinh [Cộng Hòa Nam Kỳ tự trị] do Pháp lập nên (từ ngày 2/6/1946); Phản đối việc không thực thi nghiêm chỉnh Hiệp ước sơ bộ 6/3/1946 và Tạm ước [Modus vivendi] Paris ngày 14/9/1946.


Sau khi Việt Minh tổng tấn công đêm 19/12/1946, tiếp vận từ TH cho VM phần lớn là kinh tế. VM dùng quặng thiếc (étain), thuốc phiện và tiền mặt mua vũ khí từ Hoa Nam khá dễ dàng. Tháng 1/1947, đại diện HCM là Nguyễn Đức Thụy thường qua Hoa Nam mua khí giới, đạn dược. Thụy và thuộc hạ không gặp khó khăn gì từ phía Trương Phát Khuê. Những kho tàng tịch thu được trong chiến dịch Thu Đông 1947 (Léa-Ceinture) khẳng định điều này.[20]

Đảng CSTH cũng tiếp trợ VM về chính trị và quân sự. Diệp Kiếm Anh [Ye Jianying]—cựu khóa sinh KUTV; 1927, ngả theo Mao Trạch Đông; 1939-1940, huấn luyện du kích cho quân Tưởng, giúp “Thiếu tá Hồ Quang” về Hoa Nam tiếp xúc với Đảng CSĐD; 1945, sống ở Bắc Việt dưới tên “đồng chí Lộc” (theo một tài liệu Việt),  cầm đầu một phái đoàn quân sự CSTH có mặt tại Hà Nội vào thượng tuần tháng 12/1946 và sau đó theo Bộ Tổng Tư lệnh Việt Minh lên Tuyên Quang.


Ngày 18/6/1947, cán bộ CSVN và CSTH hội thảo tại Tuyên Quang, cho phép bộ đội Hồng quân TH vào lãnh thổ Bắc Việt qua ngả Cao Bằng, trục xuất phần tử thân THDQ khỏi vùng VM kiểm soát, huấn luyện quân sự cho thanh niên TH chưa đăng ký, v.. v... Tháng 7/1947, các đồn biên giới của Pháp ghi nhận khoảng 270 bộ đội TC vượt biên, lập thành đoàn du kích Trung Hoa tại Tuyên Quang. Tháng 8/1947, Ken Ky cũng chỉ huy khoảng 400 bộ đội Trung Cộng vượt biên vào khu vực Thất Khê (phủ lị Trùng Khánh của tỉnh Lạng Sơn) và Cao Bằng (trị sở Khu Quản Đạo hay Tiểu Khu thứ 2) sát biên giới Quảng Tây. Thất Khê là thị trấn phồn thịnh nhất của tỉnh, có đường thông tới cửa ải Thủy Khẩu (Long Châu, Quảng Tây).

Ngày 12/6/1947, báo Thái Bình Dương bằng Hán ngữ ở Hà Nội trích dẫn báo cáo của Tòa Lãnh sự TH về sự hiện diện trong khu vực VM kiểm soát tổ chức CSTH, tên “Ủy ban Tiếp trợ Hoa kiều trong thời chiến tranh tại Việt Nam.”


Thời gian này, Hồ còn duy trì liên hệ với Tổng lãnh sự Hà Nội. Thực tế, Tổng lãnh sự Yuen Tsi-kai từng giúp Vệ Quốc Quân an toàn rút khỏi Hà Nội, và đề nghị hai chính phủ THDQ cùng Liên Bang Mỹ đứng ra hòa giải.


Ngoài ra có khoảng 4,000-5,000 tự vệ, chia làm 15 đơn vị. CSTH còn mở một trường học. Theo nhân chứng, Lý Ban [Lý Bích Sơn?], một Hoa kiều, cán bộ trung ương Đảng CSTH phụ trách Mặt trận Hoa vận trong An Toàn Khu (Thái Nguyên-Tuyên Quang). Lý Ban còn phụ tá Lê Giản phát động phong trào “diệt đặc vụ” tức tàn quân THDQ hay biệt kích, gián điệp ở biên giới Hoa-Việt.[21] Cuối năm 1947, những đơn vị CSTH lại hoạt động hầu như tự do ở vùng biên giới, và quân Tưởng—với 1,000 binh sĩ trú đóng theo 500 cây số biên giới—khó kiểm soát hay ngăn chặn.

 

Qua năm 1948, nhiều buổi hội thảo quân sự giữa Việt Minh và TC diễn ra ngày 21/1 và 5/2/1948 tại Bi Nhi và Na Noi. Sau đó, bộ đội Việt Minh tham gia các trận đánh ở Lung Ping (26/2/1948), Pho Cap (7/3/1948), Long Ping, gần Long Châu (8/3/1948), Nà Lý (5/4/1958), Hai Yuen (9/4/1948), v.. v... Tình báo Pháp cũng ghi nhận việc tập trung quân VM và TC tại Thập Đại Sơn.


Trong khi đó, từ cuối 1947, đầu 1948, giao tình giữa Việt Minh và viên chức THDQ xấu đi. Tháng 11/1947, Nguyễn Đức Thụy bị bắt và chỉ được phóng thích ít tháng sau với số tiền hối lộ lớn. Viên chức THDQ cũng bắt giữ một phái đoàn thương mại VM và dẫn độ cho Pháp vào cuối tháng 4/1948. Lê Văn Hiến (1904-1997), cựu Bộ trưởng Tài chính và rồi Đại sứ tại Lào, ghi trong Nhật Ký rằng từ năm 1947 vẫn giữ liên hệ với cả hai phe Trung Hoa. Nguyễn Lương Bằng (Cù Vân) qua lại Trung Hoa nhiều lần mua vũ khí, đạn dược, trả bằng tiền Đông Dương, vàng bạc, thuốc phiện, gỗ cùng quặng mỏ wolfram, thiếc, kẽm, galène, antmoine [ở mỏ Bản Thi]. Hiến cũng nhiều hơn một lần gặp gỡ và tiếp vận cho quân CSTH tại vùng Lào Cai-Tuyên Quang.[22]

Tài liệu Việt và Trung Cộng sau này đều xác nhận sự có mặt của lực lượng võ trang Trung Cộng tại vùng Việt Minh kiểm soát. Theo tài liệu Trung Cộng từ năm 1946, Hồ đã giúp các đơn vị TC ở Quảng Đông chạy sang Bắc Việt tị nạn. Tháng 3/1946, khoảng 1,000 quân thuộc Trung đoàn 1 Quảng Đông vượt biên giới. Hồ cung cấp thực phẩm và thuốc men. Hồ cũng yêu cầu CSTH cho đơn vị trên huấn luyện một số cán bộ Việt Minh. Tháng 6/1946, văn phòng CSTH tại Hongkong gửi Zhou Nan [Chu Nam?] qua Hà Nội làm liên lạc viên bên cạnh Đảng CSĐD. Do đề nghị của Hoàng Văn Hoan, Trưởng ban Liên lạc, Zhou Nan cho lệnh cán bộ Trung đoàn 1 huấn luyện cho Việt Minh ở Thái Nguyên, và hoạt động quân báo tại Hà Nội. Tới tháng 7/1947, tổng số trên 830 sĩ quan và binh sĩ VM được huấn luyện. Tháng 8/1949, Trung đoàn 1 mới trở lại Quảng Đông. Điện đài giữa Đảng CSTH và Việt Minh thiết lập từ mùa Xuân 1947. Ngày 13/1/1950, Phó Chủ tịch Đảng CSTH Thiếu Kỳ còn nhắc đến việc này. Nhưng theo Võ Giáp (1911-2013), từ năm 1947, Việt Minh mới bắt đầu liên lạc với Đệ Bát Lộ Quân TC tại Hoa Nam và Bộ Tư lệnh Quân sự Biên Giới Điền Quế (Vân Nam-Quảng Tây). Năm 1948, Ân Lai sai Trang Điền, Phó Bí thư Vân Nam,  và Lục Giả qua gặp Hồ, dàn xếp cho Trung đoàn 1 Quảng Đông di tản qua thượng du Việt Nam để tránh cuộc tảo thanh của Tưởng Giới Thạch. Tháng 3/1948, một số đơn vị của Trung đoàn này vào lãnh thổ Việt.[23]


Dù có sự khác biệt tới hai năm về thời gian quân Trung Cộng hiện diện trong lãnh thổ Việt Nam qua lời chứng các viên chức Hoa-Việt, có thể khẳng định hai bên liên hệ khá chặt chẽ, ít nhất ở mức độ địa phương.


Liên hệ hai bên gia tăng theo mức Nam tiến của Hồng quân Trung Cộng. Tháng 4/1949, giữa lúc Bạch Sùng Hy và Lâm Bưu đại chiến ở Hà Khẩu (giáp ranh Lào Cai), Hồ sai Đàm Văn Mông (Lê Quảng Ba, 1915-1988), Tư lệnh Liên khu Việt Bắc, và Chu Văn Điều (Chu Huy Mân, 1913-2006), v.. v.... chỉ huy một đơn vị qua Thập Vạn Đại Sơn phụ giúp Hồng quân. Mông và Điều sau này giữ chức sư trưởng và chính ủy Đại đoàn 316 từ 1951 tới trận Điện Biên Phủ. Sau khi Mao tuyên bố thành lập Trung Hoa NDCH (ngày 1/10/1949), lãnh đạo VNDCCH không ngớt bàn tán về tình thế và thời cơ mới. Cơ quan ngôn luận Việt Minh công khai loan tin về chiến thắng của Đảng CSTH. Ngày 12/12/1949, báo Cứu Quốc đăng cả danh sách Ban chấp hành Trung ương Đảng CSTH, đã được bầu ra ngày 24/9/1949.[24]


Trong khi đó, từ tháng 12/1947, Công An Việt Minh bắt giữ một số người Hoa ở vùng Đầm Hồng, Chiêm Hóa— tả ngạn sông Gầm, chếch phía Bắc sở lị Chiêm Hóa, cách Tuyên Quang 66 cây số; nơi đường gòn chở quặng mỏ Bản Ti [Thi] ra—vì tội đã chỉ điểm cho quân Pháp các kho tàng của Việt Minh. Ngoài ra, đa số sống bằng nghề buôn thuốc phiện lậu—vi phạm độc quyền của chính phủ Hồ. [25] Năm 1947, có thể đổi 4 cân Tây thuốc phiện  lấy 1 khẩu trung liên với 500 viên đạn; 2.5 cân Tây thuốc phiện đổi 1 súng tự động [automatic rifle] với 500 viên đạn. [26]

 

Sau khi thoát nạn chiến dịch mùa Thu 1947 (Lea Ceinture) của Pháp, ngày 6/1/1948, Hồ tổ chức lễ kỷ niệm 18 năm thành lập Đảng CSĐD. Ngày 15/1, Hồ đề cử Stalin, Mao và Maurice Thorez chủ tọa danh dự Hội nghị trung ương mở rộng. Trong báo cáo chính trị, Trường Chinh có vẻ thuần thạo lý luận “hai phe” của Andrei Zhdanov—Nga cầm đầu “Dân chủ chống đế quốc,” chống lại phe “đế quốc phản dân chủ” Mỹ-Pháp phản động. Hội nghị cũng ra nghị quyết sẽ triệu tập Hội nghị Toàn quốc vào khoảng tháng 6/1948 để sửa lại điều lệ Hội NC/CNMKT và bầu Ban Chấp ủy trung ương mới. Tuy nhiên, trong hàng ngũ Bộ trưởng vẫn có người muốn ngả theo Mỹ, người thì sợ Mỹ và thân Mỹ. Riêng Võ Giáp chống Mỹ.[27]

 

Việt Minh còn khoa trương đang chuyển từ “phòng ngự” qua “cầm cự.” tức giai đoạn thứ hai của “chiến tranh nhân dân.” Để chống lại việc Pháp tiếp tục càn quét; lập chính phủ bù nhìn Bảo Đại, dùng người Việt hại người Việt, sử dụng công giáo và thiểu số (Thái tự trị, Nùng tự trị, v .. v...) Nghị quyết phân tán các đơn vị chủ lực, thành lập các đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung, và đẩy mạnh hoạt động võ trang tuyên truyền.[28]


Dịp này, nhiều cán bộ Nam, Trung và ngoại quốc được gọi về Việt Bắc. Tuy nhiên, sau Hội nghị cán bộ lần thứ 5 họp từ 8 đến 16/8/1948, Hội NC/CNMKT vẫn giữ nguyên danh hiệu, vì chưa đúng thời cơ để ra công khai: Theo Phan Đình Khải, bên ngoài phản động quốc tế; bên trong, mặt trận Việt Minh và Liên Việt sẽ bị chia rẽ, một phần tư sản, địa chủ, Ki-tô giáo sẽ hoang mang, bọn phản động sẽ thọc gậy bánh xe. Bởi thế, Khải chỉ thị cán bộ trong khi tuyên truyền, có thể nói đảng CS vẫn hoạt động, nhưng tránh tuyên truyền quá trớn tại vùng Ki-tô giáo và địa chủ.[29]


Từ tháng 6/1948, khi chính phủ lâm thời trung ương của Nguyễn Văn Xuân thành lập ở Hà Nội, Hồ ngày càng ngả về hướng tân Quốc Tế Cộng Sản (Cominform). Nhiều nhân vật quan trọng VM và CSTH đi lại, xuất hiện ở Hoa Nam, Nam Ninh, Quảng Châu và Hong Kong. Cuối tháng 6/1948, công tác đội Hoa Kiều ở Đầm Dương Tuyên Quang, do một nữ cán bộ CS điều khiển. Lý Ban cầm đầu công tác Hoa vận, lên đến Thứ trưởng Kinh tế; góp công vào kế hoạch Cải Cách Ruộng Đất trong thập niên 1950, rồi bị thanh trừng năm 1979.


Năm 1949 đánh dấu một khúc quanh mới trong liên hệ Việt Minh và CSTH. Một mặt, Mao và Hồng quân đang thắng lớn, tiến vào Bắc Kinh tháng 2/1949; Tưởng từ chức, chạy sang Đài Loan. Mặt khác, dưới áp lực Mỹ, Pháp khởi đầu thí nghiệm Bảo Đại.


Trong khi khối Kominform [Ban Thông Tin Quốc Tế, gồm 9 đảng CS Âu châu thành lập tháng 9/1947] nối tiếp nhau nhìn nhận chế độ Mao, chỉ riêng Hồ chưa rõ ràng. Sự chậm trễ này khiến có suy luận rằng Hồ nuôi một tâm ý khác. Thực ra, Hồ tạm thời theo chính sách “ngoại giao nhân dân” hơn ngoại giao chính thức, vì chưa tiện thách thức khối “trắng” (Mỹ và tư bản).


Ngày Thứ Sáu, 1/4/1949, Đài phát thanh Liên sô tại Siberia (Soviet Radio Khabarovsk), trong chương trình phát sang Đại Hàn, lược nhắc những hoạt động của chính phủ HCM, và tuyên bố: Đảng CSVN do Hồ Chí Minh lãnh đạo. [On April 1, 1949, Soviet Radio Khabarovsk (Siberia), in broadcast to Korea re Vietnam, gave [general] review accomplishments and present status Vietnam government and declared: “The Communist Party is headed by Mr. Ho Chi Minh.”


Ngày 2/4/1949, Lãnh sự Hà Nội Gibson báo cáo: Đài phát thanh VM loan tin các đơn vị Trung Cộng đầu tiên đã tới sát biên giới, và quân đội Việt Minh được giúp đỡ quan trọng. Đây là lần đầu tiên VM tiết lộ sự cộng tác với quân TC.[30] Lá bài đã  lật ngửa. Hàng ngũ cai thầu chiến tranh cho hai phe thù nghịch thế giới đã lộ diện.


Trong khi thị dân Hà Nội mít tinh mừng Bảo Đại ngày 28/4/1949, thương gia Pháp bán tài sản để về nước.[31] Côn đã cho tòa án quân sự lên án tử hình Nguyễn Vĩnh Thụy vì tội phản quốc.


Tháng 10/1949, HCM sai Lý Ban và Nguyễn Đức Thụy mang thư sang Bắc Kinh. Được Mao hồi âm vào ngày 26/11/1949, mật tháng sau, ngày 26/12/1949, Côn cử một phái đoàn phụ nữ đi thăm Trung Cộng. Đồng thời, chuẩn bị đích thân bí mật qua Bắc Kinh.[32]


Phần Mao và cộng sự viên có những lý do riêng để tuyển mộ Hồ vào cuộc thánh chiến tạm gọi là “Đông Phương Hồng.” Việt Nam án ngữ tuyến phòng thủ Nam của Trung Hoa—nơi gần 200,000 quân viễn chinh Pháp đang có mặt. Hàng chục ngàn tàn quân Tưởng cũng đã chạy sang Đông Dương tị nạn, và rải rác khắp Hoa Nam. Ngoài ra, dưới mắt Mao—và ngay cả Tôn Dật Tiên hay một số chính khách chỉ quen thuộc với những bài sử lớp đồng ấu hay tiểu học—Việt Nam, và cả Đông Nam Á đều là chư hầu đã bị thực dân cướp đoạt, cần khôi phục vào bản đồ Hoa hạ. Hồ cũng từng hoạt động cho QTCS nhiều năm ở Trung Hoa, gặp gỡ nhiều lãnh đạo CSTH, kể cả Mao, Ân Lai, Kiếm Anh, v.. v.. Giúp đỡ Hồ, như thế, đôi bên đều hưởng lợi. Hồ và Đảng CSVN sẽ lập tiền tuyến bảo vệ Trung Hoa, đồng thời cũng là mũi tiên phong xuất cảng chủ nghĩa Mao—trong cuộc nam tiến bất khả cưỡng chống trước sức ép nhân mãn nội địa và nhu cầu thương mại cùng tài nguyên thô—ngoại trừ trường hợp, như Mao đề xướng ngày 18/11/1957: có một cuộc chiến nguyên tử, tiêu diệt bớt nửa nhân loại, số còn lại sẽ tiêu diệt đế quốc, xây dựng một thế giới XHCN mới. Nhân dân TH chưa hoàn tất cuộc kiến thiết, nhưng nếu thực dân muốn gây chiến, TH sẽ đánh đến cùng, trước khi tái thiết.[33]


Tuy vậy, Mao tạm thời tiếp tục chính sách “ngoại giao nhân dân,” tức bí mật quan hệ giữa hai Đảng CS, hơn thiết lập quan hệ giữa hai chính phủ. Hoàng Văn Hoan, từng sống tại Hoa Nam hơn 10 năm, được cử làm trưởng ban liên lạc với THCSĐ, dàn xếp việc trú đóng của Trung Đoàn Quảng Đông, cùng vận động Hoa Kiều qua Zhunan, Rang Caiyou, Lin Zhong, v.. v... Đại diện Đảng CSĐD được mời tham dự Hội nghị Công đoàn Thương mại [Trade Union Conference of Asian and Australian Countries] ở Bắc Kinh trong tháng 11-12/1949. Tại Hội nghị này, Thiếu Kỳ xưng tụng con đường cách mạng do Mao lãnh đạo sẽ là mẫu mực cho các xứ thuộc địa và nửa thuộc địa trong nỗ lực giải phóng quốc gia. Thiếu Kỳ cũng hứa giúp đỡ các phong trào cách mạng, giải phóng đất nước tại Á Châu. Phát biểu sau Thiếu Kỳ, đại diện Hồ tuyên bố kinh nghiệm và mẫu mực cách mạng giải phóng Trung Cộng là “kim chỉ nam” cho Việt Nam. Ngày 4/1/1950, Pravda in lại diễn văn của Thiếu Kỳ—nên có thể nghĩ rằng Josef Stalin chấp thuận lý luận và tham vọng của đàn em Trung Cộng.[34]


Trong thời gian qua Liên Sô dưỡng bệnh từ ngày 6/12/1949, đồng thời thương thuyết Hiệp ước hữu nghị Nga-Hoa mới (14/2/1950), Mao muốn công nhận chế độ Hồ. Thoạt tiên, Stalin sợ rằng chỉ gây thêm khó khăn, cô lập cho VNDCCH. Cuối cùng, Stalin nhượng bộ, đồng ý cho Mao công nhận trước, Moksva [Mat-scơ-va] và Kominform sẽ theo sau.


Chính sách ngoại giao chung của Mao thời gian này tóm gọn trong cuộc nói chuyện với Ngoại trưởng Molotov và Đại sứ A.Y Vyshinsky ngày 17/1/1950. Mao tiết lộ ba ngày trước Bắc Kinh đã ép đại diện Mỹ dọn khỏi Bắc Kinh bằng cách đòi trả lại những dinh trại dành cho quân đội ngoại quốc trú đóng theo những hòa ước bất bình đẳng cũ. Lãnh sự Mỹ đe dọa sẽ rút hết nhân viên ngoại giao Mỹ ở Bắc Kinh, Thiên Tân, Thượng Hải, Nam Kinh. Mao cười riễu cợt, nói là Mỹ đang dọa làm những gì Mao mong muốn. [In response, the American consul in Beijing started threatening the Chinese government that USA, as a sign of protest, will be forced to recall all of their consular representatives from Beijing, Tientsin, Shanghai, and Nanking. This way, said Mao Zedong in a half-joking manner, the Americans are threatening us with exactly that which we are trying to accomplish]. Mao quyết định đình hoãn bang giao với Mỹ càng lâu càng tốt để ổn định nội bộ. [We need to win time, emphasized Mao Zedong, to put the country in order, which is why we are trying to postpone the hour of recognition by the USA. The later the Americans receive legal rights in China, the better it is for the People's Republic of China]. Mao cũng nói trong ít ngày trước Mỹ nỗ lực thăm dò lập trường của Bắc Kinh về bang giao. Người cầm đầu một hãng thông tấn Mỹ ở Pháp từng đặt câu hỏi Mao nghĩ gì về một cuộc tiếp xúc với đặc sứ Philip C. Jessup, chuyên viên về Viễn Đông.[35]

 

II. BẮC KINH CÔNG NHẬN VNDCCH:

 

Ngày 24/12/1949, Thiếu Kỳ họp Bộ Chính Trị bàn việc thiết lập quan hệ với VNDCCH. Nghị quyết là bang giao với Hồ trước khi Pháp nhìn nhận THCHND lợi hơn hại. Bốn ngày sau, 28/12, Thiếu Kỳ gửi điện văn cho Hồ, ngỏ ý muốn bang giao. Thiếu Kỳ khuyên Hồ chủ động bày tỏ ước muốn thiết lập ngoại giao với các nước ngoài, Bắc Kinh sẽ gửi đại diện qua Việt Nam và đổi lại Hồ gửi một phái đoàn qua thảo luận về cuộc chiến đấu chung chống đế quốc [the common struggle against imperialism].[36]


Công điện ngày 28/12/1949 của Thiếu Kỳ đến với Hồ như cơn mưa giữa ngày nắng hạn. Hồ đang lúng túng, tuyệt vọng trước sự tấn công toàn diện của Pháp trên cả ba phương diện quân sự, chính trị và kinh tế, trong khi các cường quốc quay mặt làm ngơ. Thực trạng an toàn khu [ATK] và “châu tự do” (huyện Sơn Dương, Tuyên Quang) ngày một khó khăn. Lãnh thổ kiểm soát ngày một thu nhỏ. Áp lực quân sự Pháp gia tăng. Thu nhập bị giảm sút. Kinh tế suy thoái. Lê Văn Hiến chỉ tiếp tục in tiền không bảo chứng—hay “dùng sức sản xuất nhân dân làm bản vị”—khiến lạm phát gia tăng như hỏa tiễn. Tháng 8/1950, trên đường về căn cứ, Hiến phải trả hai chục [20] đồng để mua một quả chuối ở Văn Lãng, ăn lấy sức lên đèo Khế. Từ năm 1950, thu thuế bằng thóc. Ngày 22/1/1951, Thiếu Kỳ phải cảnh cáo VNDCCH về việc phát hành tiền không bảo chứng. Trong tháng 4 và 5/1951, Thiếu Kỳ cảnh giác Hồ về nạn tham ô lãng phí đồ viện trợ.[37]


Mọi nguồn tài nguyên có thể mang lại vàng và ngoại tệ đều được khai thác tối đa để thu mua khí giới, thuốc men từ Thái Lan, Miến Điện, Hoa Nam và Hong Kong. Cũng may, vùng thượng du Bắc Việt là nơi có nhiều quặng mỏ, và nhất là thuốc phiện. Từ năm 1946-1947, thuốc phiện, gạo, gỗ và những quặng thô khác—vàng cốm, wolfram, thiếc, kẽm, galène, antimoine, và có thể Uranium non tại mỏ Tĩnh Túc (Pia Ouac, Cao Bằng) —bán sang Hoa Nam để mua vũ khí và những vật dụng cần thiết khác.[38]


Nhưng từ mùa Thu 1947, Pháp thu phục được một số lãnh chúa Thái và H’Mong [Mèo] ở Lai Châu, Sơn La, Hà Giang, và Bắc Kạn, nên hạn chế dần mức thu nhập thuốc phiện của Việt Minh. Tại đồng bằng, các khu vực “Tề” ngày một mở rộng. Hòa ước Elysées 8/3/1949 và thí nghiệm Bảo Đại là giọt nước làm tràn ly. Mọi nỗ lực còn nước cứ tát đều tuyệt vọng. Ngay đến cựu cố vấn của Hồ—Giám Mục Lê Hữu Từ ở Bùi Chu/Phát Diệm, theo tin đồn còn là “bạn học” của Côn tại một tiểu chủng viện Nghệ An—cũng từ bỏ dần thế tự trị, trung lập. Từ tháng 10/1949, tiểu đoàn 1 Nhảy Dù đã tới Phát Diệm. Linh mục Hoàng Quỳnh được gắn cấp bậc Đại Tá, chuẩn bị thành lập các đội tự vệ và vệ sĩ, kiêm nhiệm việc hành chính khắp ba tỉnh Ninh Bình, Nam Định và Bùi Chu (tân lập). Tổng bộ chỉ huy đặt tại Phát Diệm. Tỉnh bộ Nam Định đặt tại Phát Diệm Bùi Chu.[39]


Các giáo sĩ Ki-tô từ Bắc chí Nam cũng nhận lệnh chống Cộng. Những đạo “thập tự quân” ở Quảng Bình, hay UMDC [Les Unités mobiles pour la Défense des Chrétiennetés] Bến Tre-Mỹ Tho giơ cao thánh giá và họng súng diệt trừ “quỉ đỏ vô thần.” Cao Đài, Hòa Hảo và lực lượng Bình Xuyên ở miền Nam công khai liên kết với Pháp qua các chính phủ Nam Kỳ tự trị của Lê Văn Hoạch, Nguyễn Văn Xuân, rồi ủng hộ Bảo Đại.[40]


Trong nội bộ đảng CSĐD, những phần tử bảo thủ và hiếu chiến hân hoan reo mừng chiến thắng của Mao Trạch Đông, và đòi tái khai sinh đảng. Hồ đành trở lại với vô sản quốc tế—niềm trông cậy duy nhất: Mao từng đưa ra lí luận một người khó cỡi hai ngựa. Stalin nhắc nhở không thể ngồi một lúc trên hai ghế, hay đứng giữa một đòn gánh. Hồ quyết định thủ vai nhà ngoại giao lần thứ hai—đích thân đi Bắc Kinh và Nga cầu viện. Một số trí thức trẻ không dấu sự thật vọng của họ trước cao trào “hồng hơn chuyên,” xin từ chức vì không muốn làm phỗng đá.[41] Không ít người quyết định về Tề.

Để chuẩn bị cho chuyến cầu viện của Hồ, ngày 15/1/1950 Ban Chấp hành TƯ Hội NC/CNMKT gửi điện chính thức đề nghị thiết lập bang giao với THNDCHQ như Thiếu Kỳ gợi ý. Đồng thời, đài phát thanh Việt Minh tuyên bố nhìn nhận chế độ THNDCHQ, và yêu cầu các nước mở quan hệ ngoại giao với VNDCCH. Theo đúng kịch bản, ngày 17/1, từ Mat-scơ-va, Mao chỉ thị Thiếu Kỳ trả lời ngay là đồng ý bang giao, và Trung Cộng sẽ tiếp xúc các nước CS khác để công nhận VNDCCH. Hôm sau, 18/1, Bắc Kinh sẽ tuyên bố thừa nhận VNDCCH, và yêu cầu HCM gửi Đại sứ tới Bắc Kinh. Ngày 18/1, Tân Hoa Xã đi tin Hồ đã kêu gọi thế giới ủng hộ và nhìn nhận VNDCCH như chính phủ hợp pháp duy nhất của Việt Nam.[42] Ngày 18/1 từ đó được ca ngợi như ngày chiến thắng ngoại giao vĩ đại của Đảng CSĐD.[43]


Trong thời chiến tranh lạnh, nhiều quan sát viên từng đặt ra những câu hỏi, rồi tự trả lời về lý do chậm trễ nhìn nhận Bắc Kinh của Hồ. Có người còn đưa ra cái gọi là tinh thần bài Hoa và thân Tây phương. Tuy nhiên, những thông tin đã giải mật cho thấy từ năm 1947-1948, Côn [Hồ] đã quyết định cho tái sinh Đảng “Cộng Sản,” sau một thời gian “rút vào bóng tối.” Sự kiêu ngạo và tham vọng của phe cực hữu Pháp—nhất là Hội truyền giáo Ki-tô, một trong những cổ phần viên của Ngân Hàng Đông Dương [Banque de l’Indochine] cùng các công ty kiếm lợi nhiều nhất ở Đông Dương—khiến bỏ qua cơ hội giải quyết Việt Nam một cách ôn hòa. Và, kết quả chung cuộc, đẩy Việt Nam vào quĩ đạo Trung Hoa—một đế quốc bạo tàn nhất lịch sử nhân loại, mà những tội ác diệt chủng và vi phạm nhân quyền còn vượt qua những Nazi của Hitler, và ngay cả Stalin—người được Mao ngợi ca như “một thiên tài lớn nhất của thời đại” Mao. Thế giới mới chỉ đưa những tên tội phạm chiến tranh nhỏ Khmer Rouge ra trước tòa án hình sự quốc tế, những con đom đóm so với “mặt trời” Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình, hay Hoa Quốc Phong, Hồ Cẩm Đào, Ôn Gia Bảo, Tập Cận Bình,v.. v.. Để đánh dấu chiến thắng ngoại giao vĩ đại này, nửa đêm 18/1, đặc công Mặt Trận Hà Nội tấn công phi trường Bạch Mai (3 cây số phía nam Hà Nội), phá hủy một số phi cơ và một kho xăng. Ngày 24/1, khi Vĩnh Thụy ra Hà Nội tiếp đặc sứ Mỹ Jessup, đặc công Việt Minh lại phá hoại 15 trong tổng số 41 [42] máy biến điện.

 

III. Linov Côn BÍ MẬT QUA BẮC KINH & MAT-SCƠ-VA:

 

Ngày 26/1, “Đồng chí Đinh” [Linov Côn] vượt biên giới Hoa-Việt ở Thủy Khẩu, Long Châu (Quảng Tây), gần Đông Khê. Tháp tùng Hồ có Trần Đăng Ninh, Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp [Hậu Cần] của Bộ Tổng Chỉ Huy Việt Minh.[44] Thiếu Kỳ chỉ thị cho cán bộ Wuhan [Vũ Hán] tiếp đón Linov Côn thật long trọng và cẩn thận hộ tống lên Bắc Kinh. Tới Nam Ninh [Nanning], Trương Quân [Vân] Dật, Bí thư kiêm Chủ nhiệm Quảng Tây, cựu Chính Ủy Tân Tứ Quân, ra tận bờ sông đón. Tại đây, Côn cũng gặp Chen Geng [Trần Canh], Tư lệnh Quân Khu Vân Nam. Canh gợi ý cho Côn xin mình qua giúp. Từ Nam Ninh Côn đi xe hơi tới Lai Tân (đông bắc Nam Ninh), rồi đáp xe lửa lên Bắc Kinh.


Ngày 30/1, tại thủ đô Trung Hoa, Thiếu Kỳ, cùng Thống chế Chu Đức [Zhou De], Phó Thủ tướng kiêm Tổng Tư lệnh Hồng Quân, và nhiều viên chức cao cấp nghênh đón Côn. Côn trình bày tình hình Việt Nam, và nói rõ mục đích xin viện trợ. Thiếu Kỳ thành lập một Ủy Ban gồm Chu Đức, Nie Rongzhen [Nhiếp Vĩnh Trân], Quyền Tổng Tham Mưu Trưởng, Li Weihan, Chủ nhiệm Ủy Ban Mặt Trận Thống Nhất của Đảng CSTH, và Liao Chengzhi, Phó Chủ tịch Ủy Ban Hoa kiều vụ, để nghiên cứu những yêu cầu của Côn.


Ngày này, Nga Sô chính thức nhìn nhận VNDCCH. Các nước Cộng Sản khác theo gót. Hôm sau, 1/2, Mao và Ân Lai gửi điện chúc mừng Hồ đã tham gia “đại gia đình chống đế quốc” do Nga lãnh đạo, và chúc việc thống nhất đất nước sớm thành công. [We sincerely congratulate Vietnam's joining the anti-imperialist and democratic family headed by the Soviet Union. We wish that the unification of the entire Vietnam would be soon realized. We also wish Comrade Ho Chi Minh and his comrades-in-arms good health.] Đồng thời, thông báo sứ quán TC tại Mat-scơ-va đã chuyển cho các đại sứ khối CS công điện yêu cầu thừa nhận và giúp đỡ VNDCCH.[45]


Do đề nghị của Côn, ngày 3/2, Bắc Kinh dàn xếp với Đại sứ Nga N.V. Roshchin cho Hồ qua Mat-scơ-va. Chuyến “hồi chính” sau hơn 11 năm tích cực biến đổi giòng lịch sử Việt này của Côn đủ mặn ngọt, chua cay.

Thái độ “Người Thép” xa lạ. Stalin không dự dạ tiệc chào đón Côn do Ủy Ban Trung Ương Đảng CS Liên Sô tổ chức tối 6/2. Hiển nhiên, “Bác Joe” hay “Ông Xích” còn nghi Hồ theo chủ nghĩa “dân tộc,” một thứ “[J. Broz] Tito của Viễn Đông.” (Lãnh tụ Yugoslavia bị Stalin “tuyệt thông” và lên án là tay sai đế quốc [imperialist agent])


Mặc dù đã hoạt động cho QTCS từ thập niên 1920, Côn chưa hề gặp Stalin. Hồ (Nguyễn Ái Quấc, rồi Linov) còn bị chỉ trích là không theo đúng lập trường Stalin đã đưa ra năm 1928—tức đặt cách mạng vô sản lên hàng đầu, thực hiện đấu tranh giai cấp, dựa trên liên minh công-nông—nên từ năm 1930 không được giao một nhiệm vụ nào. Việc tự động thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam [CSVN] ngày 6/1/1930 [hiện sửa thành 3/2/1930] cũng vi phạm kỷ luật sắt “phục tùng tuyệt đối” của QTCS khiến Côn bị hạ tầng công tác xuống một hộp thư, trong khi Trần Phú, một học viên Đại Học Phương Đông, được gửi về Sài Gòn làm Tổng Thư Ký. Tháng 10/1930, Phú triệu tập Hội nghị Trung Ương lần thứ nhất ở Hong Kong, đổi tên đảng CSVN thành Đảng CSĐD với những chủ trương mới của QTCS sau Đại Hội VI (1928) nên mới được Ban Phương Đông công nhận và tài trợ. Thêm vào đó, lý lịch Côn cũng có vấn đề, nhất là sau khi bị bắt giữ năm 1931-1933 và ra tòa ở Hong Kong, đưa đến sự suy yếu của Dalburo [Ban Phương Đông] Thượng Hải. Giữa năm 1932, Mat-scơ-va khai tử tên Nguyễn Ái Quấc, trong khi Thống đốc Hong Kong William Peel cũng thông báo với Đông Dương ngày 20/1/1933  là Côn đã “chết vì ho lao và nghiện thuốc phiện trong ngục.” Khi tái hiện ở Vladivostok với tên Tống Văn Sơ, Côn bị ghẻ lạnh, và đưa sang Krưm [Crimea] nghỉ dài hạn khá lâu. Khi trở lại  Mat-scơ-va để học trường Lenin ngày 16/10/1934, Côn phải mang bí danh mới “Linov.” Nhiệm vụ chính chỉ có việc nghiên cứu ở Văn Phòng Đông Dương của Ban Chấp ủy QTCS [Indochina Office at the Eastern Bureau], dưới quyền Vasilyeva (hay Vassilieva), và từ tháng 3/1935, được thêm danh phận hờ ủy viên dự bị của Ban Trung ương Chấp ủy Đảng CSĐD—với nhiệm vụ chính là phiên dịch các báo cáo của Ban Chấp Ủy Đảng CSĐD.

Tài liệu văn khố QTCS ghi vào tháng 6/1938 Côn làm đơn tình nguyện xin đi công tác, kể cả Espania, và QTCS đang chuẩn bị đóng cửa các trung tâm huấn luyện, nên Manuilsky và Vasilyeva dàn xếp cho “sinh viên số 19” trở lại Trung Hoa để tăng cường lãnh đạo Đảng CSĐD. Ngày 19/8/1938, Mainburo chấp thuận. Ngày 29/9, Linov Côn được tốt nghiệp, và ngay hôm sau bí mật cấp tốc rời Mat-scơ-va về Diên An [Yenan].


Theo lối giải thích trong thập niên 1950, Hồ được giao nhiệm vụ tổng quát là chấn chỉnh Đảng CSĐD, đồng thời mở những lớp huấn luyện cán bộ tương tự như kinh nghiệm tại Quảng Châu trong giai đoạn 1925-1927.[46] Nhưng có dư luận (như Thủ tướng Hungary Ferenc Munnich) cho rằng Linov Côn là một trong rất hiếm người may mắn thoát khỏi cuộc thanh trừng của Stalin trong thập niên 1930, nhờ sớm rời Mat-scơ-va, trong khi những cấp chỉ huy cũ như

Mikhail Borodin, v.. v... theo nhau bị thanh trừng.[47]


Tới Diên An vào tháng 11/1938, “Linov” (ông Hoàng hay Vương) tháp tùng phái đoàn huấn luyện du kích chiến của Ye Jianying [Diệp Kiếm Anh] xuống Hoa Nam. Từ tháng 12/1938, “D.C. Lin” gửi về nội địa bài viết về sự tàn ác của Nhật tại Hoa Nam, đăng trên Dân Chúng, tờ báo chữ Việt bán công khai của Đảng CSĐD ở Sài Gòn (21,24 & 28/1/1939). Các báo bí mật của xứ ủy Bắc Kỳ tại Hà Nội cũng trích đăng bài Lin, dưới bút hiệu “P.C. Line.” Tháng 2/1939, “Thiếu tá Hồ Quang” của Đệ Bát Lộ Quân tới Quảng Tây. Từ đây, “P.C. Line” tiếp tục gửi cho Notre Voix [Tiếng Nói Của Chúng Ta] nhiều bài viết đả kích nặng các trí thức tự nhận là Đệ Tứ Cộng Sản [Trốt Kít] theo đúng chí thị nói của Ban Phương Đông trước ngày rời Nga.[48]

Những nghị viên trí thức từng du học Pháp này cũng đang bị viên chức Pháp thẳng tay dạy cho bài học luật pháp cướp nước. Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, và Trần Văn Thạch bị bắt giam, hủy bỏ kết quả bầu cử Hội đồng Sài Gòn-Chợ Lớn. Ngày 31/8/1939, trên đường từ Bangkok xuống Singapore để qua Âu Châu chữa bệnh, Tạ Thu Thâu bị Mật Thám Pháp bắt cóc, mang về Sài Gòn.[49] Rồi mùa Thu 1945, chính phủ cách mạng giúp họ trải qua những cái chết tức tưởi, u uất vì những tội danh phản động, phản cách mạng.


Có dấu hiệu cho thấy Linov đã cố mở liên lạc với Ban chấp ủy Trung ương Đảng CSĐD từ cuối năm 1938, đầu 1939, qua hệ thống liên lạc người Hoa, lúc đó khá phát triển tại miền Nam trong các tổ chức kháng Nhật. Nhưng cuối tháng 7/1939, Côn báo cáo với QTCS là chưa bắt tay được nội địa, dù đã nhờ chuyển khẩu lệnh của QTCS qua những người bạn.


Thế chiến thứ hai bùng nổ khiến nỗ lực liên lạc với BCUTW càng khó khăn hơn, vì Toàn quyền Georges Catroux đặt CS ra ngoài vòng pháp luật từ hạ tuần tháng 9/1939.


Trong khi Kan Nguyễn Ngọc Vy [Phùng Chí Kiên] cùng cán bộ CS nằm vùng trong quân đội Tưởng truy tìm tông tích Côn từ Quế Lâm [Guilin] tới Vân Nam [Yunan], một liên lạc viên người Minh Hương gây ra sự thiệt hại lớn cho Đảng CSĐD. Liên lạc viên này tìm đến một cơ sở đã bị lộ từ nhiều tháng ở số 19 hẻm Nguyễn Tấn Nghiệm, khiến Tổng thư ký Đảng CSĐD cùng hai cán bộ TƯ bị gài bắt ở cơ sở trên. Nhiều cán bộ cao cấp khác, kể cả Lê Hồng Phong, cũng bị bắt giữ trong hai ngày 17-18/1/1940. Mẻ lưới cá này khiến chuyên viên Mật Thám Pháp hớn hở nghĩ đến một cuộc thanh trừng lớn trong hàng ngũ lãnh đạo CSĐD.[50]

 

Trong Thế Chiến thứ II (1939-1945), Côn giữ liên lạc thường xuyên với Đảng CSTH, nhưng chưa có tài liệu nào xác nhận sự liên lạc giữa Côn và Đảng CSLS hay QTCS sau ngày 31/7/1939. Từ năm 1943, Hồ công khai hợp tác với tình báo Trung Hoa, Bri-tên và Liên Bang Mỹ. Lập trường chống Nhật của Côn—kể cả việc tham gia vào việc tố cáo sự tàn ác của Nhật sau “vụ Thảm sát Nam Kinh” [The Nanking Massacre] vào tháng 7- 8/1937—giúp Côn có cơ hội củng cố tổ chức ngoại vi Việt Nam Độc Lập Đồng Minh, tức Việt Minh, nguyên gốc do nhóm Việt kiều liên hệ với Hoàng thân Cường Để thành lập ở Nam Kinh năm 1936. Sau khi Đảng CSĐD bị hầu như tận diệt sau cuộc nổi dạy tại 11 tỉnh miền Nam từ 22 tới 30/11/1940, Côn về nước, triệu tập Hội nghị “8” ở Pắc Bó, Cao Bằng—vùng núi đá vôi ráp eanh Quảng Tây—phong Đặng Xuân Khu làm Tổng thư ký, và chọn Việt Minh làm cơ quan ngoại vi. Cuối cùng, chiến dịch Meigo (9-14/3/1945) của Nhật mở ra cơ hội bằng vàng cho Hồ va thuộc hạ được làm việc cho Sở Tình Báo Chiến Lược Mỹ [OSS], được Toán Con Nai [Deer Team] của Thiếu Tá Allison Thomas huấn luyện du kích và trang bị vũ khí.[51] Tháng 8/1945, đội quân Việt-Mỹ của Võ Giáp tiến vào Hà Nội cùng các cố vấn Mỹ, kể cả Thiếu tá Archimedes Patti. Ngày 2/9/1945, Côn xuất hiện tại Cột Cờ Hà Nội, đọc Tuyên Ngôn Độc Lập lịch sử—trong đó Côn trích dẫn Tuyên Ngôn Độc Lập 1776 của Liên Bang Mỹ để mở đầu Tuyên Ngôn của mình.[52]

Thời gian này, Josef Stalin còn hợp tác toàn diện với Mỹ và Bri-tên để đánh Germany. Năm 1943, “Bác Joe” hay “Ông Xích” giải tán QTCS để mua chuộc lòng tin của Franklin D. Roosevelt và Winston S. Churchill. Bài học này có lẽ được Hồ bắt chước qua việc giải tán Đảng CSĐD từ ngày 11/11/1945 để có thể lập một chính phủ đoàn kết, liên hiệp với các phe phái chống Cộng—một hòn đá ném hai, ba chim: Mỹ, Pháp và Trung Hoa Dân Quốc—chủ nhân thực sự phía Bắc vĩ tuyến 16.


Khi chiến tranh thứ II đi vào đoạn kết, mối quan tâm lớn nhất của Stalin là nhu cầu tái thiết nội địa, do sự tàn phá khủng khiếp trong Thế chiến. Stalin cũng dồn chú tâm vào việc tạo một vùng trái độn biên giới phía Tây, tức Đông Âu (Kominform), và yểm trợ các phong trào tả phái ở Tây Âu, đặc biệt là Pháp. Charles de Gaulle đã khôn khéo khai thác mâu thuẫn giữa Bạch Cung và Krem-li—cho phép Maurice Thorez về nước, nhận lời viếng thăm Mat-scơ-va từ 2 tới 10/2/1944, ký hiệp ước đầu tiên của chính phủ lâm thời Pháp với một cường quốc, trước khi qua Mỹ năm 1945—để bảo vệ “chủ quyền” Pháp ở Đông Dương. Chính Stalin giúp Churchill áp lực Roosevelt thừa nhận De Gaulle ngày 23/10/1944; và rồi, từ Hội nghị Yalta (Crimea, 4-14/2/1945), đặt Đông Dương vào “thiện chí” của Pháp.


Riêng với Côn, vì một lý do nào đó, Stalin giữ một khoảng cách, có thể mệnh danh là “hands-off” hay “không chính sách.” Giống như Mỹ, Nga chỉ “yểm trợ tinh thần” cho khuynh hướng “giải thực” [decolonization]. Dễ hiểu là những công điện Côn—dưới bí danh Hồ Chí Minh—gửi cho Stalin giữa tháng 9 và 10/1945, giống như những văn kiện ca ngợi hệ thống dân chủ Mỹ, kể cả diễn văn của Harry S Truman và các viên chức ngoại giao Mỹ từ tháng 9/1945 tới tháng 2/1946, đều không có hồi âm.[53]


Bán nguyệt san New Times [Tân Thời Báo]—tờ báo Anh ngữ chuyên về ngoại giao của Nga—không đi một tin nào về việc Hồ Chí Minh tuyên bố độc lập hay liên quân Bri-tên/Pháp xâm chiếm miền Nam vĩ tuyến 16. Mãi tới số báo ngày 15/10/1945, New Times mới nhắc đến “Đông Dương thuộc Pháp” [French Indochina] khi bàn về thực dân Nhật. Trong số kế tiếp, tác giả A. Guber viết về tình hình Đông Dương và Indonesia, nhưng chỉ nhận xét chung chung: “Mối đe dọa tái lập chế độ thuộc địa dưới dạng thức cũ mà nhân dân Đông Dương và Indonesia không chấp nhận được, đang gặp sự chống đối ngày một mạnh. Thiện cảm của những lực lượng tiến bộ nghiêng về phía quần chúng đang khao khát tự do và được quyền tự do.” Tháng 12/1945—khi liên quân Pháp/Bri-tên tái xâm lăng Nam bộ và Nam Trung bộ—tác giả E. Zhukov viết bài “Vấn đề Quốc tế Quản trị” [The Trusteeship Question]. Trong khuôn khổ nguyên tắc yêu chuộng hòa bình, tác giả kêu gọi thực thi ngay điều khoản quốc tế quản trị của Liên Hiệp Quốc đối với dân chúng thuộc địa. Lập luận này đã được đại diện Nga Sô nêu lên ít tháng trước ở Hà Nội.


Chuyến qua Pháp của Hồ năm 1946 không mở được quan hệ trực tiếp với Nga. Kremli vẫn dành ưu tiên hàng đầu cho Âu Châu—nơi Churchill đang tìm cách trở lại chính quyền bằng kế hoạch rao giảng về mối đe dọa của “bức tường thép.” Stalin không muốn đẩy Pháp về phía khối Anglo-Saxon, đồng thời dành sân chơi cho Thorez và Đảng Cộng Sản Pháp. Thorez sau này tự nhận trở thành gạch nối giữa Hồ và Stalin, nhưng không thuyết phục được Bác Joe về việc Hồ giải tán Đảng CSĐD vào tháng 11/1945. Dĩ nhiên, lập trường chống giao trả Nam Kỳ cho chính phủ VNDCCH mới thành lập ngày 1/1/1946 của Thorez cũng ít nhiều ảnh hưởng quyết định của Stalin về Việt Nam. Dù Đảng CS Pháp dành cho Hồ những tiếp đón thiện cảm, nếu tin được d’Argenlieu, phía sau hậu trường, chiều ngày 22/2/1946 Thorez từng cố vấn Linh mục/Cao ủy:

Màu cờ của chúng ta trên hết! Vậy nếu cần đánh, cứ đánh, nện cho nặng vào.” [Nos couleurs avant tous! Et donc s’il faut cogner, cognez et cognez dur.”][54]

 

Trọn năm 1946, New Times chỉ đăng hai bài của A. Guber và Vasilyeva, cựu chủ nhiệm Văn Phòng Đông Dương của Ban Phương Đông QTCS về “French-Indochina.” Guber yểm trợ mô hình Khối Liên Hiệp Pháp [L’Union francaise] trong Dự thảo Hiến Pháp, và nhấn mạnh vào sự thắt chặt liên hệ giữa “nhân dân Đông Dương” với “lực lượng tiến bộ” Pháp, vì đây là chỗ nương dựa cho những đòi hỏi chính đáng. Vasilyeva cũng tin rằng tiến triển ở “Viet Nham” sẽ tùy thuộc vào quan hệ với những lực lượng “dân chủ Pháp” vì các lực lượng tiến bộ này luôn luôn yểm trợ sự giải phóng thuộc địa [The further development of Vietnam depends to a significant degree on its ties with democratic France, whose progressive forces have always spoken forth in support of colonial liberation].[55]


Không rõ những lập luận trên dựa theo đường lối chính thức của Stalin hay chịu ảnh hưởng báo chí “tả phái Pháp” trong thời gian này. Nhưng luận điệu New Times phản ánh rõ ràng lập trường:

(1) Việt Nam thuần túy là vấn đề nội bộ Pháp, và

(2) Mat-scơ-va không chống đối nguyên tắc một Khối Liên Hiệp Pháp—một bước thụt lùi khỏi kế hoạch “Quốc tế quản trị.”


Mãi tới mùa Xuân 1947—sau một chuỗi những biến cố mở đầu cuộc chiến tranh lạnh Mỹ-Nga (1947-1991), đưa Pháp đi dần về phía hữu, các bộ trưởng CS bị loại khỏi chính quyền Paul Ramadier—Nga mới quan tâm hơn đến Á Châu. New Times qui trách bọn phản động Pháp, và cảnh giác về âm mưu đế quốc Bri-tên nhằm đuổi Pháp và Dutch khỏi Đông Nam Á. New Times cũng bắt đầu nhắc đến “Ho She-ming”“Viet Nham,” nhưng có vẻ chỉ tóm lược những nét chính của L’Humanité, cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng Sản Pháp, và ràng buộc số phận dân Đông Dương vào Đảng CS Pháp cùng tổ chức Công đoàn Thương mại [C.G.T.] của Louis Saillant.


Tháng 4/1947, New Times bắt đầu đả kích chính phủ Ramadier về những hành động quân sự và chính trị ở Đông Dương—từ chính phủ tự trị nồng mùi nhựa cao su tới việc thành lập một chính phủ lưu vong không Cộng Sản dưới danh nghĩa Bảo Đại để làm giảm giá trị Hồ. Tháng 4/1947 này, Zhukov ca ngợi nhân dân Việt Nam và Indonesia đã mang biểu ngữ tự do và độc lập vào tận trái tim Á Châu [“carrying the banner of freedom and independence into the heart of Asia.”]


Dẫu vậy, cả hai siêu cường Nga và Mỹ đều nhân nhượng, quay lưng trước chính sách thực dân của Pháp. Thái độ của Stalin “đúng đắn” đến độ ngày 14/4/1947, khi phe cực hữu như Maurice Violette nhắc đến liên hệ giữa Hồ với QTCS—kiểu “Tinh thần quốc gia ở Việt Nam là phương tiện; cứu cánh là thực dân Liên Sô”—các dân biểu CS Pháp (Michel Cachin), Đảng Xã Hội, hay MRP (Ki-tô giáo trung dung), và ngay Thủ tướng Ramadier đều bênh vực Nga “hoàn toàn trung lập.”[56]


Stalin cũng chẳng trọng vọng gì Côn. Theo những lãnh tụ CS Âu Châu từng làm việc dưới quyền Stalin, điều khiến “Bác Joe” khó chịu là từ năm 1943, Linov Côn đã hợp tác công khai với tình báo Bri-tên, Mỹ, và Trung Hoa. [Stalin was distrusful of Ho and his group. He felt that Ho had gone too far in his wartime collaboration with the British intelligence and the OSS]. Côn lại thường không chứng tỏ ước muốn tham khảo và xin lệnh Stalin trước khi hành động. [Also, Ho had consistently displayed his unwillingness to seek Stalin’s advice and consent prior to taking action]. Việc giải tán Đảng CSĐD là một thí dụ. Thorez tiết lộ rằng khó thể thuyết phục được Stalin về tính chất chuyển tiếp, một thủ thuật để lôi kéo những thành phần quốc gia không Cộng Sản. [As an example, the dissolution of the ICP: Thorez had a hard time convincing Stalin that the liquidation was transitory, a mere tactic to gain political support from the Vietnamese nationalists]. Không kém quan trọng, vị thế địa lý-chính trị Việt Nam và sự yếu ớt của du kích VM khiến Stalin ngần ngại, không muốn tham dự vào một cuộc phiêu lưu không bảo đảm thành công.[57]


Sau ngày Mao chiếm Bắc Kinh (2/2/1949), cơ quan tuyên truyền Nga mới bắt đầu bênh vực chính nghĩa của VNDCCH dưới sự lãnh đạo của HCM. Ngày 1/4/1949, Đài phát thanh Liên sô tại Siberia (Soviet Radio Khabarovsk), trong chương trình phát về Đại Hàn, lược nhắc những hoạt động của chính phủ HCM, và Đảng CSVN do Hồ lãnh đạo. Ngày 13/4/1949, New Times lên án Liên bang Mỹ đứng sau thí nghiệm Bảo Đại, và tóm lược thành tích của VNDCCH như “kiểm soát 90% lãnh thổ và dân chúng;” thực hiện những cải cách xã hội, chính trị, văn hóa, kinh tế-tài chính. Được sự ủng hộ của những lực lượng dân chủ trên toàn thế giới, lên án hòa ước Elysées (8/3/1949) như sự thỏa thuận giữa đế quốc Pháp với bù nhìn phong kiến để chống lại dân tộc Việt Nam, với Oat-shinh-tân sau lưng.[58]


Lý do nào đi nữa, Nikita S. Khrushchev—Bí thư thứ nhất Đảng CS Nga từ 14/3/1953 tới 15/10/1964, người hạ bệ Stalin ngày 20/2/1956, và chẳng trọng vọng gì Hồ—xác nhận trước 1950 Stalin rất lạnh nhạt với Côn.[59]


Sự lạnh nhạt của Stalin có thể còn do vị thế địa lý-chính trị của Việt Nam trên bản đồ thế giới. Việt Nam ở quá xa tầm tay Stalin. Hơn nữa, thật khó để quyết định đặt Việt Nam vào vùng ảnh hưởng Đảng CSTH hay Đảng CS Pháp. Từ năm 1935, QTCS đặt Đảng CSĐD dưới sự kiểm soát của Pháp. Tình thế đã đổi thay, vì Mao mới dời địa chỉ từ Diên An về Bắc Kinh. Giống như Karl Marx hồi trẻ, Stalin không trọng vọng những “bị khoai của cách mạng vô sản” ở Á Đông.


Chiến thắng mau chóng của Mao tại Hoa lục trong hai năm 1947-1948 khiến Stalin chú ý hơn đến Á Châu, nhưng ủy thác cho Mao phụ trách phong trào cách mạng ở Viễn Đông—cơn nhức đầu của Stalin từ năm 1929.


Do Mao đề nghị, vài ngày sau khi HCM tới Mat-scơ-va, Stalin tiếp Hồ tại văn phòng với sự hiện diện của Geogii M. Malenkov, Vyacheslav M. Molotov, Nikolai A. Bulgarin, Wang Jiaxiang (Vương Gia Tường), Đại sứ Trung Cộng tại Nga, và Trần Đăng Ninh. Stalin gạn hỏi về lý do giải tán Đảng Cộng Sản, và chính sách trong tương lai. Stalin cũng muốn Hồ đứng về phía nhân dân, thực hiện ngay “cách mạng thổ địa.”[60]


Trong một buổi họp có cả Mao, Côn xin Stalin giúp trang bị 10 sư đoàn bộ binh và 1 trung đoàn pháo cao xạ. Stalin nói Trung Cộng có nhiệm vụ giúp VNDCCH vì Nga đang lo mặt Đông Âu. Stalin hứa sẽ bồi hoàn cho Bắc Kinh số vũ khí viện trợ cho Việt Minh. Mao đồng ý trang bị sáu [6] đại đoàn Việt Nam, Linov Côn có thể cho người sang nhận vũ khí. Tỉnh Quảng Tây sẽ là hậu phương trực tiếp của Việt Nam.


Tối 16/2, trong dạ tiệc đưa tiễn Mao, khi Côn nửa đùa nửa thực đề nghị Stalin ký Hiệp ước hữu nghị với Việt Nam, Stalin từ chối và phũ phàng hỏi lại: Cách nào để giải thích Côn từ đâu tới Mat-scơ-va? Stalin còn bỡn cợt Côn về việc “Chủ tịch Nhà Nước” xin “chỉ thị.”[61]


Một tác giả TC ghi trong khi HCM tháp tùng Mao và Chu Ân Lai đáp xe lửa từ Mat-scơ-va về Bắc Kinh đúng ngày Nguyên đán Canh Dần [17/2/1950], Mao mới hứa trang bị cho Việt Nam sáu [6] đại đoàn. Trở lại Bắc Kinh ngày 2/3, Côn thảo luận thêm chi tiết vấn đề viện trợ. Ngày 4/3, Mao họp với Thiếu Kỳ, Chu Đức, Ân Lai và ủy thác Phó Chủ tịch Trung Cộng điều động công tác “nghĩa vụ quốc tế” này. Từ tháng 4 tới tháng 9/1950, Bắc Kinh viện trợ cho VM 14,000 súng, 17,000 súng tự động, 150 cỗ pháo đủ loại, 2,800 tấn thóc, cùng nhiều đạn dược, thuốc men, quân phục và máy truyền tin. Một tài liệu khác ghi từ 1950 tới 1954, TH viện trợ hơn 155,000 súng, hơn 3000 pháo, cùng đạn dược, xe cộ, quần áo, lương thực, thực phẩm phụ, đồ dùng.[62]

Linov Côn cũng đề nghị trao đổi Đại sứ, và thiết lập cơ sở ngoại giao. Ngày 7/7/1950, Chu Ân Lai cho biết hiện tình chiến tranh khiến bất tiện cho ngoại giao đoàn, TC giữ Luo Guibo [La Quí Ba], đã lên đường qua Việt Bắc từ tháng 1/1950 như đại diện Đảng CSTH, tiếp tục nhiệm vụ này hơn là Đại sứ. Từ tháng 8/1950, Quí Ba gặp gỡ các cán bộ cao cấp CSVN tại Tuyên Quang, qua sự thông dịch của Lý Ban. Bùi Công Trừng, Hồ Viết Thắng trình bày với Ba về vấn đề kinh tế và dân cày từ 21 tới 23/8/1950. Sáng 23/8, Thắng còn trả lời Quí Ba về CCRĐ. Lê Văn Hiến trình bày vấn đề tài chính, thu thuế nông nghiệp, v.. v.. Ngày 24/9, Quí Ba về lại Bắc Kinh, được Thiếu Kỳ dẫn vào gặp Mao. Mao đồng ý cho làm Tổng Cố Vấn, với nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu là cải cách kinh tế, tài chính, và được phép mang vợ là Lý Hàm Trân [Li Hanzhen] tháp tùng qua Việt Bắc, phụ giúp trông coi văn hóa và phụ nữ vận.

Trong khi đó, Hoàng Văn Hoan, từng ở Hoa Nam từ 1934 tới 1945, rồi hoạt động ở Thái Lan trong hai năm 1948-1949, đại diện Đảng CSĐD tại Bắc Kinh (sau trở thành Đại sứ). Thiếu Kỳ còn cho lập hai Tòa lãnh sự ở Nam Ninh (Quảng Tây) và Côn Minh (Vân Nam). Biện sự sứ tại Côn Minh là Bùi Đức Minh (1900-1963), tức Bùi Đức Hách, một cựu đảng viên nhóm Thiết Huyết Việt Nam Quốc Dân Đảng tại Vân Nam, nhưng phản Đảng, theo Cộng Sản cùng với Trần Quốc Kính, Lê Tùng Sơn, v.. v.... từ năm 1935-1936. Luật sư [Nguyễn Văn Lưu], quen biết Vũ Đình Hoè, làm Biện sự sứ Quảng Châu.[63]

 

Côn cũng xin trao đổi Đại sứ với Liên Sô; nhưng Mat-scơ-va chỉ đồng ý nhận Đại sứ VNDCCH mà không gửi Đại sứ tới Việt Nam vì chưa có thủ đô cố định.[64] Mãi tới ngày 4/11/1954, Đại sứ Liên Sô đầu tiên [Lavritsev?] mới tới Hà Nội.

 

Kết Từ:


Chuyến đi cầu viện của Hồ Chí Minh năm 1950—từ thời điểm này nhìn lại—cực kỳ quan trọng cho cá nhân Côn và Đảng CSVN. Nó đánh dấu sự trở lại của Côn với Khối Quốc Tế Cộng Sản, dưới sự bao bọc, che chở, nuôi ăn, cung cấp vũ khí và những chiếc loa tuyên truyền âm vang khắp thế giới cho chính nghĩa cách mạng “giải phóng quốc gia.”[65]


Tháng 2/1951, tại Hội trường Đại Hội II Đảng CSĐD—cũng Đại hội đổi tên thành Đảng Lao Động Việt Nam—dưới chân dung Mác, Ăng-ghen [Frederich Engels], Lênin, là hình Stalin và Mao Trạch Đông. Trong công điện gửi Đảng CSTH, có đoạn:

“Đảng Lao động Việt Nam nguyện soi gương anh dũng Đảng Cộng Sản Trung Quốc, học tập tư tưởng Mao Trạch Đông, tư tưởng lãnh đạo nhân dân Trung Quốc và các dân tộc Á Đông trên con đường độc lập và tự chủ.”[66]

 

Trong báo cáo chính trị, Côn tuyên bố:

Ta có những người anh, người bạn sáng suốt nhất, xứng đáng nhất của loài người—là đồng chí Sta-lin và Mao Trạch Đông.[67]

 

Bài diễn văn bế mạc, kết thúc bằng những lời hô: “Đồng chí Xit-ta-lin muôn năm,” “Mao Chủ tịch muôn năm,” “Hồ Chủ tịch muôn năm.”[68]


Ngày 1/9/1954, trong đáp từ đón chào Quí Ba làm Đại sứ đầu tiên của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa [Zhonghua Renmin Gongheguo, THNDCHQ] bên cạnh chính phủ VNDCCH, Hồ nhắc đến một thuật ngữ trở thành quen thuộc từ năm 1950: Đó là mối quan hệ anh em, như môi với răng [teeth and lips]. Năm năm sau, ngày 28/9/1959, nhân lễ kỷ niệm mười [10] năm thành lập THNDCHQ, Côn lại viết cho Mao: “Việt Nam và Trung Quốc là hai nước anh em, quan hệ với nhau như môi với răng, ... Cách mạng Trung Quốc thắng lợi và việc thành lập nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa là sự kiện vĩ đại nhất trong lịch sử của loài người tiếp theo cách mạng tháng Mười Nga.”[69]


Dĩ nhiên, Côn hay Diệp Kiếm Anh, Lưu Thiếu Kỳ, không phải là tác giả của thuật ngữ “môi hở răng lạnh” này. Khoảng bảy thế kỷ trước, trong thư gửi Trần Nhân Tông mùa Thu 1291, Thượng thư bộ Lễ Trương Lập Đạo của Qblai Khan nhà Nguyên (Yuan, 1270-1368) từng nói đến tình tương thân, tương trợ “thần xỉ chi bang”—nhưng theo thứ bậc “cha-con” [“do tử dữ phụ mẫu chi tương thân,” “phụ tử chi quốc, thần xỉ chi bang”], “thuận trời thì sống, nghịch trời thì diệt” [thuận thiên giả xương, nghịch thiên giả vong] giống như thời nhà Tống. Trích dẫn 5 điều “không tốt” [ngũ bất vi] trong Xuân Thu, trích ba điều đáng sợ [Tam khả úy] trong Luận Ngữ [Lỗ luận]; cùng một túi khôn cổ nhân TH: “Đánh vừa thì chịu, đánh mạnh thì chạy” [“vị tiểu trượng tắc thụ, đại trượng tắc tẩu, tư ngôn an tại tai?].[70]


Biết rõ hay chưa hề nghe về thứ quan hệ “cha-con, giữ gìn nhau như môi với răng”, “thuận trời thì sống, nghịch trời thì diệt” phong kiến này, ít nhất trên phương diện ngoại giao, Côn đã thiết lập tiền lệ “hai nước anh em” hay “bạn” thay cho thứ trật tự “thông hiếu cha-con” xa xưa. Hoàng Văn Hoan (1905-1991), đại sứ VNDCCH đầu tiên tại THNDCHQ—trong nỗ lực đả kích Lê Duẩn (1908-1986)—cũng kính cẩn dẫn lại những lời tri ân nồng nhiệt của Hồ và hơn một lần cung văn sự viện trợ “quốc tế vô tư” từ 1950 tới 1977. Năm 1984, khi được đãi tiệc nhân dịp năm năm đào tẩu qua Bắc Kinh, Hoan còn nhấn mạnh “Công ơn của TQ . . . sẽ mãi mãi in sâu trong lòng nhân dân Việt Nam, không bao giờ phai nhạt.”[71]

Sự cung văn ngọt ngào, rộng rãi này là đặc tính của “tư tưởng Hồ Chí Minh,” nói riêng, và người “Cộng Sản” nói chung. Từ 1977 tới 1986, Hà Nội tung ra loại văn chương “đào mộ” từ Mao tới Đặng với giọng điệu thường chỉ dành cho tử thù đế quốc tư bản. Người quan sát ghi nhận những lời chửi rủa nặng nề như “ba lần phản bội, lần sau bẩn thỉu tồi tệ hơn lần trước,” hay “những con thuyền hải tặc mới ló dạng ở chân trời,” [đúng ra, phải là hàng không mẫu hạm, hay tàu sân bay nhái theo kiểu Nga] v.. v.. Chỉ thiếu những tiếng như chó, lợn, độc vật mà cơ quan tuyên truyền Bắc Kinh hay chính Mao dành cho bọn phản động, phản cách mạng, khó thể cải tạo.


Một cái nhìn khách quan, khoa học, xuyên suốt qua những lưới nhện cung văn-đào mộ, những buổi liên hoan “uyên ca,” hay luận điệu tuyên truyền một chiều hung hãn của chủ thuyết Marxist-Leninism, cho thấy những hố ngăn cách đầy hoài nghi, khó san bằng giữa hai nước vừa là đồng chí, vừa là anh em.


Theo tình báo Pháp và THDQ, một hiệp định Hoa-Việt được ký kết trong thời gian Côn ở Bắc Kinh. Tài liệu Trung Cộng hay Việt Cộng không nhắc đến hiệp ước, nhưng xác nhận Mao hứa thoả mãn nhu cầu của Côn, “trong khả năng.” Mao tỏ ra rất thực tế trong lời hứa viện trợ. THNDCHQ vừa thoát khỏi cuộc chiến gần 20 năm, kinh tế suy sụp, lệnh phong tỏa của Liên Bang Mỹ và Đồng Minh bắt đầu gây ảnh hưởng. So với các cường quốc Tây phương, dân Trung Hoa—nói theo một chuyên viên—còn như người đứng giữa dòng sông, nước ngập đến cổ, chỉ cần một gợn sóng nhỏ đủ ngạt thở. Phân tích sâu sắc hơn, viện trợ của Bắc Kinh có giới hạn của nó, tùy theo những bài tính quyền lợi hay an ninh cường quốc giai đoạn, và hảo ý của Mao. Tháng 11/1950, Mao giải thích với La Quí Ba: “Việt Nam đánh bại bọn xâm lược Pháp, đuổi chúng khỏi Việt Nam, biên cương phía nam của Trung Quốc cũng giải tỏa khỏi mối đe dọa của bọn xâm lược thực dân Pháp.”


Trong bốn năm 1950-1953, Bắc Kinh giúp Côn xây dựng được sáu [6] đại đoàn chủ lực, đủ sức đương đầu với 200,000 quân viễn chinh Pháp. Mao còn sai Chen Geng [Trần Canh] và 281 cố vấn quân sự gồm người chỉ huy trận “tổng phản công” đầu tiên của QĐNDVN tại Đông Khê-Thất Khê trong tháng 9-10/1950, giúp mở ngỏ thêm biên giới Hoa-Việt, biến Quảng Tây và Vân Nam thành hậu phương lớn của Việt Minh.


Dù có những dị biệt về ngày tháng trong tư liệu CSVN và CSTH, vai trò thống trị của cố vấn Trung Hoa cùng các cơ quan trung ương ở Bắc Kinh trong giai đoạn 1950-1954 quá rõ ràng. Viện trợ của Bắc Kinh rất khiêm nhượng, chỉ đáp ứng được khoảng 20% nhu cầu của QĐNDVN năm 1950, nhưng là nguồn ngoại viện quan trọng và duy nhất. Cố vấn Trung Cộng bày vẽ cho Quân Ủy Trung Ương Đảng Lao Động Việt Nam chiến thuật biển người, lấy năm, mười đánh một để đánh nhanh, thắng nhanh—hơn 500 “bộ đội cụ Hồ” chết trong vòng 72 tiếng tấn công Đông Khê, trước lực lượng đồn trú khoảng 200 người. Gần trọn Trung đoàn 102/308—hậu thân Trung đoàn Thủ Đô, mới trải qua cuộc chỉnh huấn “tốt” —bị tiêu diệt ngày 9-10/4/1954 ở Điện Biên. Võ Giáp phải xin Bắc Kinh gửi chí nguyện quân, nhưng Bành Đức Hoài không chấp thuận. Giáp đành đôn quân, tăng viện cho mặt trận 25,000 bộ đội cùng hàng chục ngàn dân công (nạn nhân của chiến dịch đấu tố). Nhưng tối 6/5, trung đoàn 102 tái bổ sung [của Vũ Yên?] để lại khoảng 200 tử thi tại vòng rào cứ điểm E2 và E4 của Pháp (Fall, Hell, 1968:378)—niềm hãnh diện nhỏ nhoi cuối cùng của Lê dương và Nhảy Dù, trước khi tả tơi, thất thểu trên đoạn đường địa ngục dẫn đến trại tập trung tù binh, để vinh danh Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai đưa Trung Cộng lên ngai vị ngũ cường.


Quan trọng hơn nữa, viện trợ Trung Cộng giúp Linov Côn tạo thế chủ động trên chiến trường. Năm 1952-1953, Bắc Kinh chỉ thị cho Linov Côn mở rộng chiến trường lên hướng tây bắc để tránh tàn phá các trung tâm sản xuất lương thực, đồng thời chuẩn bị đánh thông xuống Hạ Lào và Kampuchea—nhưng  thực tâm có lẽ còn muốn khóa kín tuyến tây nam, từ Thái Lan và Lào tiến lên Vân Nam-Tứ Xuyên. Stalin chấp thuận, và có tin từ cuối năm 1952, đã đồng ý cho Mao và Linov Côn đi tìm một giải pháp thương thuyết.


Trước viễn ảnh sa lầy, Pháp nhờ Nga và Trung Cộng giúp tìm một giải pháp chính trị. Dưới áp lực Kremli và Zhongnanhai [Trung Nam Hải], Côn chấp nhận ký Hiệp ước đình chiến Geneva 20-21/7/1954, tạm thời chia Việt Nam làm hai vùng tập trung, chờ tổng tuyển cử để quyết định thể chế chính trị tương lai.


Về ý thức hệ, cán bộ chính trị, kinh tế và quân sự Trung Hoa cũng được gửi tới Việt Bắc, chỉ huy và huấn luyện Quân Đội Nhân Dân [QĐND] Việt Nam “tư tưởng vĩ đại” của Mao—mà Côn và Giáp đều ca ngợi là bậc thày—thực hiện những kế hoạch Mao hóa như chỉnh phong, chỉnh quân, chỉnh huấn, tái tổ chức bộ máy quốc phòng và chính phủ. Rồi, cải cách ruộng đất, kiện toàn tổ chức “bảo vệ an ninh,” nhằm tiêu diệt xã hội phong kiến,” tiến lên xã hội chủ nghĩa—qua những thí nghiệm tập trung tổ tiên, tập trung thần thánh, hợp tác xã, nông trường, công trường, tiêu diệt tư hữu—phiêu lưu vào cuộc “cách mạng” mà trên bản chất chỉ là một cuộc thay đổi chế độ cai trị độc tài quân chủ sang “chuyên chính vô sản.” Khẩu hiệu và guồng máy tuyên truyền khổng lồ không đủ che dấu mô thức chuyên chính đã có hàng ngàn năm lịch sử ở Trung Hoa và Việt Nam. Khoảng cách biệt giữa giai cấp cai trị quan lại cách mạng và bị trị bần cố nông chỉ thay đổi phiến diện trên hình thức. Sự nghèo đói cùng cách biệt giữa giai cấp cai trị và đám đông không thể cách mạng hay thay đổi. Tham ô, nhũng lạm, bè đảng, hủ hóa lan tràn, khiến những kiểu mẫu sửa sai, tứ thanh, ngũ phản đều bất lực. Như loài đỉa trâu hai vòi, đảng một mặt bòn hút máu dân, một vòi khác bám chặt bất cứ nguồn ngoại viện nào có thể cầu xin.


Phần Bắc Kinh, chính sách ngoại viện và xuất cảng “cách mạng” được tính toán nhiều mặt, bao gồm truyền thống lịch sử, hệ tư tưởng cách mạng và quyền lợi hay an ninh quốc gia. Vượt trên những yếu tố này, còn mặc cảm tự tôn về vị trí tối cao của CSTH trong quan hệ với Việt Nam. Bắc Kinh thích khoa trương họ chỉ cống hiến vô tư, không áp đặt điều kiện chính trị và kinh tế kèm theo viện trợ. Nhưng họ lại muốn Hà Nội công nhận vai trò lãnh đạo của Bắc Kinh trong phong trào “giải phóng dân tộc” [people’s war of liberation]—tức thiết lập bằng họng súng những thể chế độc tài, tàn bạo, khinh thường mạng sống con người cũng như những quyền tự do cơ bản. Thái độ này khiến nhóm Lê Duẩn, dù rất ưa thích chế độ độc tài “dân chủ nhân dân,” hay “công xã nhân dân” [Renmin Gongshe], thấy khó chịu, nhạy cảm về quá khứ giữa hai nước. Lãnh đạo CSTH liên tục nhắc đi nhắc lại rằng Việt Nam phải được đối xử “bình đẳng,” nhưng chính những lời lẽ đó phản ánh ảo tưởng rằng Bắc Kinh có một vị thế áp đặt những giá trị và nguyên tắc hành động lên những láng giềng. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy bất cứ thời điểm nào hùng mạnh của Bắc Kinh, Việt Nam và lân bang đều gánh chịu hoạ bành trướng Hán tộc. Bất chấp việc hai Đảng và chính phủ “vừa là đồng chí vừa là anh em,” thân thiết “như môi với răng,” ác cảm và sự nghi ngờ ngày càng tồn đọng, kết tủa.


Cho đến nay, vẫn còn những tài liệu tuyên truyền ca ngợi cái gọi là “sự cống hiến vô tư” của Mao cùng Đảng CSTH cho “Việt Nam”—chính xác hơn, chỉ là sự trợ giúp cho Đảng CSVN, tức Đảng cầm quyền hiện nay tại Việt Nam. Động lực của Mao Nhuận Chi—người được mô tả một cách phiến diện như chỉ thấy chủ thuyết Cộng Sản [đúng hơn, “công hữu,” Communism] là chân lí [the truth] —đa tạp hơn nhiều người suy đoán.[72]

Ngoài những tham vọng quyền lực cá nhân, với những đặc tính phụ thuộc như tự tôn, tự cao, tự đại, đa nghi và háo sát, còn tiềm tàng di sản tham vọng bành trướng có hàng ngàn năm lịch sử của Hán tộc, theo “luật kẻ mạnh” hay “luật rừng” [jungle law]nói theo xã luận của Wall Street Journal ngày 5/4/1949, “nó đặt sức mạnh quân sự làm yếu tố quyết định trong bang giao quốc tế” [It makes military might the determining factor in international relations]. Những tài liệu tuyên truyền Đại Hán nhồi nhét vào đầu những người như Mao Nhuận Chi, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai, hay Đặng Tiểu Bình—qua những bài học sử địa lớp đồng ấu hay tiểu học, hay “lịch sử nhiều người viết” như “Tây dương di” đã chiếm đoạt của Trung Hoa nhiều chư hầu hay đất đai như Miến Điện [Myanmar], Thái Lan, An Nam, Đài Loan, Triều Tiên, Manchuria, Mongol, Tibet, v.. v . . —bất chấp sự thực là các triều đại phong kiến Trung Hoa đã đi cướp bóc những xứ sở trên, và nhiều hơn một lần bị đánh đuổi khỏi những vùng đất này. Bình Ngô đại cáo của Lê Lợi-Nguyễn Trãi năm 1428 chỉ là một thí dụ tiêu biểu. Hay Chiếu phân phối hàng, tù binh nội địa [Thanh], của Nguyễn Huệ, niên hiệu Quang Trung, năm 1789 là một thí dụ khác.[73]

 

Năm 1936, Mao từng gợi nhớ lại với Edgar Snow nỗi cảm khái và hãnh diện khi thấy những tấm biểu ngữ “Ta Han Min-kuo Wan Sui” [Vạn tuế Đại Hán Dân Quốc] được trương lên ở đường phố Trường Sa ngày 22/10/1911, và nỗi phẫn uất khi đọc một bài viết về việc “mất” các chư hầu Miến Điện, Xiêm, Annam vào tay Bạch quỉ. Ba năm [74]sau, trong cuốn Cách mạng Trung Quốc và Đảng Cộng Sản Trung Quốc, Mao Nhuận Chi cũng lập lại luận điệu trên.

Từ năm 1949, sau khi chiếm được Hoa lục bằng họng súng, Nhuận Chi và cộng sự viên không ngừng tìm cách mở rộng biên cương, xâm chiếm đất và biển có nhiều tài nguyên thiên nhiên và đồng thời tìm chỗ di dân. Tibet bị xâm chiếm hay “incorporated” [vào bản đồ năm 1950-1951]. Tháng 9/1950, hàng trăm ngàn chí nguyện quân Trung Cộng tràn vào Triều Tiên, giúp chế độ Cộng Sản chống lại “đế quốc,” nhưng thực chất là bảo vệ cửa ngõ chiến lược Đông Bắc. Những cuộc chiến tranh biên giới với India (1959-1962) và Nga (1969, đòi 1.5 triệu cây số vuông lãnh thổ). Những tội ác diệt chủng ở Tibet, Xinjiang, Mongol, Manchuria và miền tây nam Trung Hoa.


Đông Nam Á là vùng đất lý tưởng còn lại mà Mao và thuộc hạ muốn đặt vào bản đồ Đại Hán—một thứ sheng cun keng jian [vùng trời sinh tồn = survival space]. Từ cuối năm 1949, Lưu Thiếu Kỳ đã chỉ thị cho Bí thư Vân Nam Song Renqiong [Tống Nhiệm Cùng] về sứ mệnh giúp đỡ các phong trào “cách mạng,” “giải phóng” tại Đông Nam Á. Tuy nhiên, hai thập niên sau, Bắc Kinh mới chú tâm đặc biệt tới vùng Nam Hải, mà tên chính xác nhất là biển Đông Nam Á—nơi, theo dự đoán của Liên Hiệp Quốc năm 1969, có thể có kho tài nguyên thiên nhiên trị giá ước lượng tới 1 trillion [một tỉ tỉ, hay 1000 tỉ] Mỹ Kim. Ngoài ra, còn nhiều lãnh thổ có thể chiếm đoạt hầu giải quyết nạn nhân mãn. Sách giáo khoa bậc tiểu và trung học, và rồi Bộ Ngoại Giao, Quốc Phòng Bắc Kinh in và phổ biến những bản đồ, theo đó ranh giới phía Nam của đế quốc Hán trải dài tới Indonesia, tự động tuyên bố đó là chủ quyền bất khả tranh luận, và Bắc Kinh sẽ dung mọi phương tiện để bảo vệ chủ quyền của mình. Ngây ngô và cuồng ngạo hơn khi những tấm bản đồ năm 2013 có biên cương dấu chấm nối liền mười điểm không thèm bận tâm xác nhận tọa độ gần các quốc gia bờ biển [coastal nations] thuộc khối Hiệp Hội Các Nước Đông Nam Á [ASEAN]. Và tháng 6/2013, khi họp thượng đỉnh không chính thức với Tổng thống Barack Obama tại California, Xi Jinping [Tập Cận Bình] cảm thấy không cần dấu diếm tham vọng cùng Mỹ chia lại vùng ảnh hưởng ở Thái Bình Dương.[75]


Chuyến đi cầu viện năm 1950, bởi thế, có thể là một chiến thắng ngoại giao “vĩ đại” của Côn và Đảng CSVN. Côn và các thuộc hạ có lý do để đời đời nhớ ơn Mao và Đảng CSTH. Nhưng những người Việt Nam chân thành yêu nước và hiểu rõ tham vọng bành trướng xâm lược của giới cầm đầu Bắc Kinh, khó thể tri ơn. Những vụ xâm chiếm đất đai, lãnh hải Việt trong hơn nửa thế kỷ qua (từ 1956 tới 2021, với việc khai sinh tỉnh Tam Sa [sansha], khiến gợi nhớ đến quần đảo “Sinnan Gunto” (tức Trường Sa, hay Spratlys), mà quân phiệt Nhật tự ý đặt dưới sự quản lý của Thống đốc Formosa [Đài Loan] vào cuối tháng 3/1939; [76]chẳng xa lạ gì với những ai quan tâm đến lịch sử quan hệ hai nước.


Việc xây dựng những đập thủy điện trong lãnh thổ Hoa Nam—khiến ảnh hưởng và đe dọa môi sinh năm nước Đông Nam Á mà Y sĩ Ngô Thế Vinh báo động từ cuối thế kỷ XX—tham vọng chiếm đoạt chủ quyền lãnh hải và lãnh thổ Việt theo Luật Kẻ Mạnh [luật rừng, jungle law, thời tiền sử]—những thủ đoạn tràn ngập thị trường Việt với những món hàng “nhái” và vật liệu nhiễm độc khiến không thể không nghĩ tới thực chất sần sùi của quan hệ gọi là láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, “mười sáu chữ vàng.” Tinh thần QTCS đại đồng mà Karl Marx hoang tưởng hiển nhiên không đủ khả năng thắng vượt được những tiểu dị gọi là an ninh quốc gia, quyền lợi, hay tham vọng chiếm đoạt tài nguyên thiên nhiên, hay tiêu diệt lân bang để dân giàu nước mạnh. Mặc dù đương kim Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, giống như người tiền nhiệm Nông Đức Mạnh, đam mê trao đổi kinh nghiệm xây dựng đảng cầm quyền với Trung Nam Hải—chẳng khác gì thói bắt chước “cửa Khổng, sân Trình” của thời phong kiến—giới quan sát vẫn chưa quên những lời cáo buộc bi phẫn của những người nổi tiếng “thân Tàu” rằng Bắc Kinh đã “ba lần phản bội,” liên kết với Pháp, Mỹ, đặt quyền lợi Bắc Kinh và Pháp-Mỹ trên quyền lợi Đảng LĐVN, càng về sau càng bẩn thỉu, gian manh hơn.[77]


Trong giai đoạn 1959-1975, dù có những khó khăn tiềm ẩn trong quan hệ Việt-Hoa, sự tiếp trợ của QTCS đã giúp Đảng CSVN [LĐVN] đạt được mục tiêu tối hậu là thôn tính toàn lãnh thổ, thiết lập một chế độ độc tài chưa hề có trong lịch sử—đó là “kinh tế thị trường,” “tư tưởng Hồ Chí Minh,” “định hướng xã hội chủ nghĩa.” Sự nhập cảng chủ nghĩa gọi là Marxist-Lenism được Trung Hoa hoá lần thứ hai này sẽ là gông cùm vô hình cho nhiều thế hệ thanh thiếu niên Việt trong thế kỷ XXI.


Houston, 1/1/2010-31/8/2021
VŨ NGỰ CHIÊU, Ph.D, J.D.

 

© 2021, Chieu N. Vu.

All Rights Reserved.

 

 

CHÚ THÍCH:

[1]Võ Nguyên Giáp, Điện Biên Phủ [ĐBP] (Hà Nội: QĐND, 2001), tr 14-17 [Stalin chỉ thị Mao giúp tổ chức 10 đại đoàn, Trần Canh], 32-4 [đoàn CVQS/TC], 39-42 [Trần Canh], 45–50 [Đông Khê], 51-85 [Thất Khê, Cốc Xá], 92-95 [Trần Canh], 102-103 [viện trợ TC năm 1950], 128 [20% nhu cầu năm 1950]; Idem., Chiến đấu trong vòng vây [CĐTVV], (Hà Nội: NXBQĐND, 2001); Idem., Đường tới Điện Biên Phủ [ĐTĐBP] (Hà Nội: NXBQĐND, 2001); William S. Turley, “The Military Construction of Socialism: Post-war Role of the People’s Army of Vietnam;” trong David G. Marr & Christine P. White (eds), Postwar Vietnam: Dilemmas in Socialist Development (Ithaca: SEAP, 1988), pp 195-210.

 

[2]Centre des Archives d’Outre-Mer [CAOM] (Aix en Provence),  Affaires Politiques [AP], carton 3441, d. 4; và, Service historique de l’Armée de Terre [SHAT] (Vincennes), 10H xxx. [sẽ dẫn: Báo cáo của Bonfils ngày 23/9/1948]. Những tài liệu ghi chú “xxx” là tư liệu chưa giải mật hoặc được yêu cầu không bạch hoá.

[3]Vũ Ngự Chiêu [Chieu N Vu], “Political and Social Change in Viet-Nam Between 1940 and 1946;” Unpublished Ph D dissertation, University of Wisconsin-Madison, Dec 1984, Part III: Brutality of World Politics, chapts 12-14.

 

[4]Báo cáo ngày 21/12/1946, Massimi, Hải Phòng, gửi Ủy viên Bắc Kỳ [Sainteny]; báo cáo ngày 20/12/1946 & 30/12/1946 của linh mục “Yolle;” “CAOM (Aix), HCFI, Conseiller Politique [CP], carton 255. Đa tạ Bà Quản Đốc Văn Khố Pháp Quốc Hải Ngoại cho phép tôi tham khảo hồ sơ này trước ngày giải mật năm 2005. Xem thêm Amiral Thierry D’Argenlieu, Chronique d’Indochine, 1945-1947 (Paris: 1985), pp 385-392.

 

[5]Công Báo Việt Nam [CBVN], I:2 [18/6/48]:18; CAOM (Aix), GGI [Amiraux], d. 50062. Năm 1949, điều khoản này được thêm vào nguyên bản Hiệp ước Elysées để xác nhận Việt Nam là thành viên của Liên Hiệp Pháp; Foreign Relations of the United States [FRUS], 1948, VI: The Far East and Australia, (1974), I:25.

 

[6]CAOM (Aix), HCFI, CP 208; FRUS, 1951, VI: East Asia and the Pacific (1976), p 536; SHAT (Vincennes), 10H xxx.

 

[7]FRUS, 1950, VI: East Asia and the Pacific (1976), pp. 909-910.

 

[8]CAOM (Aix), PA 19, Carton 4, d. 68; HCFI, CP, carton 290; Annales de l’Assemblée nationale [AAN] (Paris), 1949: 1545-1546, 1590, col1; JORF, [25-26/4/1949]:4147); FRUS, 1949, VII: The Far East and Australia (1975), pp 10-11. Thượng Viện Liên Hiệp Pháp thành lập qua Nghị định ngày 24/4/1949; JORF, [25-26/4/1949]:4147.

 

[9]Bản dịch tiếng Mỹ trong CĐ 67, Sài Gòn gửi BNG, 21/2/1947, 12G00; FRUS, 1947, VI: The Far East (1972), tr 75.

 

[10]CĐ 289, Bangkok gửi BNG, 17/4/1947, 15G00; FRUS, 1947, VI: The Far East (1972), tr 87. Dại diện chính thức của VNDCCH ở đây là Nguyễn Ngọc Minh [Trần Văn Giàu], cựu khóa sinh Viện Thợ Thuyền Phương Đông, một tay tái tổ chức xứ bộ Nam Kỳ trong giai đoạn 1932-1935; nhưng bị nhóm Liyvinov Lê Huy Doãn, Cinitckin Hà Huy Tập và Svan Nguyễn Văn Dụt thanh trừng năm 1934. Cuối đời, Minh mới được truy tặng tước Bí thư xứ bộ.

 

[11]Paul Mus, L’Observateur, 31 Dec 1953; Ronald E. M. Irving, The First Indochina War: French and American Policiey 1945-1954 (London: Croom Helm, 1975), p. 46.

 

[12]CĐ 141, Reed (Sai Gon) gửi BNG, 2/5/1947, 11G00; FRUS, 1947, VI: The Far East (1972), p 89.

 

[13]CĐ 71, BNG gửi Reed (Sai Gon), 3/5/1947, 13G00; FRUS, 1947, VI: The Far East (1972), p 90; CĐ 151, Hà Nội gửi BNG, 6/5/1947, 8G00; Ibid; p. 91.

 

[14]CAOM (Aix), INF, Carton 138-139, d. 1245. Theo tài liệu MTQGTNTQ tại miền Nam, đề ngày 5/5/1947, các đại diện của Mặt Trận như Ngô Gia Trí, Bảo Sơn, Lưu Bá Đạt, Trần Thêm, Trịnh Hưng Ngẫu v.. v... họp Hội nghị ngày 30/3/1947 ở Nam Kinh, và ra tuyên ngôn ngày 31/3/1947; SHAT (Vincennes), Indochine, 10H xxx.

 

[15]Lê Văn Hiến, Nhật ký một bộ trưởng, 2 tập (Đà Nẵng: NXB Đà Nẵng, 2004), II:60.

[16]Thư từ trao đổi giữa Carpentier và Cao ủy Pignon trong tháng 3/1950; Thư số 909/FAEO/2, ngày 10/3/1950, Carpentier gửi Pignon; Thư số 2310/Cab, ngày 29/3/1950, Pignon gửi Carpentier; SEHAN, Fiche số 112, ngày 10/9/1949, Hà Nội, Entretien avec le Père Maillot [pseudonyme, Adrien] v/v tổ chức kháng chiến chống Cộng ở Thập Vạn Đại Sơn, Quảng Tây. Maillot từng được Sainteny đề nghị được huy chương Bắc Đẩu Bội Tinh, vì phục vụ đắc lực tình báo Pháp tự do]. SHAT (Vincennes), 10H xxx [171]

 

[17]Haut Commissariat de France pour l’Indochine [HCFI], Affaires Politiques [AP], Note No. 1687 CP/1, Saigon le 23 Sept 1948, “Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948) [par Charles Bonfils], tr. 3; SHAT (Vincennes), 10H xxx. [Sẽ dẫn: Bonfils’ report of 23 Sept 1948]. Tất cả chi tiết về hoạt động của Trung Cộng trong nội địa Đông Dương đều dựa trên báo cáo này và báo cáo hàng tháng trong 7F 27. Chúng tôi chỉ ghi chú những tư liệu khác khi cần thiết.

 

[18]“Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord;” CAOM (Aix), Affaires Politiques [AP], carton 3441, d. 4]; CAL, 2008:55-56.

 

[19]Các chỉ thị tháng 9/1946; “Notice technique de contre-espionnage: Extrême-Orient, Les services spéciaux sovietiques en Extrême-Orient” (20 May 1947); Annex II,” p. 12; CAOM (Aix), INF, c. 138-139, d. 1245. Ban Phương Đông QTCS gồm 3 Dalburo ở Chita (Tây TH), Vladivostok (Thái Bình Dương) và Thượng Hải (Ban Phương Nam). Cấp chỉ huy cũ của Côn tại Ban Phương Đông, Vera I. Vasilyeva (hay Vassilieva, 1900-1959), có vẻ vẫn bênh vực Côn.

 

[20]Mục tiêu chiến dịch mùa Thu 1947 nhằm cắt đứt trục tiếp vận từ Hoa Nam, giết hay bắt sống lãnh đạo chủ chốt Việt Minh, và tiêu diệt quân đội Việt Minh. Báo cáo ngày 24/1/1948 của Lãnh sự Edwin C. Rendall; dẫn trong Ronald H. Spector, United States Army in Vietnam, Advice and Support: The Early Years, 1941-1960 (Washington, DC: CMH-USArmy, 1983), tr. 89. Ngày 27/1/1948, Thiếu tá HQ William T. Hunter, Tùy viên quân sự Bangkok, dự đoán Pháp không còn khả năng để mở một cuộc hành quân với mức độ tương tự vì vũ khí và trang cụ bị hư hỏng. Tinh thần chiến đấu cũng xuống thấp. Sự thay thế bổ sung cho các đơn vị Dù, bị thiệt hại khá lớn, hầu như bất khả trong hoàn cảnh hiện tại. Từ đầu năm 1948, việc lưu thông giữa Lào Cai và Cao Bằng của VM hầu như trở lại mức bình thường. (CĐ ngày 9/2/1948, AmConsul, Hanoi, gửi BNG; dẫn trong Spector, 1983:90) Ngày 19/4/1948, Tùy viên HQ Mỹ ở Bangkok báo cáo rằng tình hình quân sự ngày thêm xấu đi. (Spector, 1983: 90)

 

[21]Bonfils’ report of 23 Sept 1948, p. 4; Lê Văn Hiến, I:393 (Lý Ban, phụ trách Hoa vận); I:570-571 (công tác đội Hoa Kiều ở Bản Thi, do một nữ đồng chí phụ trách); Vũ Đình Hoè, Hồi ký Vũ Đình Hoè (Hà Nội: Hội Nhà Văn, 2004), tr. 838. Tài liệu TC ghi nhận Lý Ban có hai cộng tác viên đắc lực là Văn Trang, tức Thư Thủ Hiến (1942-?), cùng vợ là Diệp Tinh hay Dương Nguyệt Tinh. Văn Trang, cựu chủ tịch SV Vân Nam, cùng vợ qua Việt Bắc từ 1947. Học tiếng Việt ở Lào Cai. Sau đó xuống Phú Thọ, hợp tác với Lý Ban. 1948, gặp HCM. 2/4/1954, theo phái đoàn VM gồm 30 người tới BK, chuẩn bị qua Nga dự Hội nghị Geneva. (CAL, 2008:45)

 

[22]Lê Văn Hiến, 2004, I:41, 42, 83, 154-155, 236, II:40-41 (quân CSTH tại Hà Giang-Lào Cai, 8/3/1949; tiếp tế 50 tấn muối, in 5 triệu tiền CSTH để tiêu dùng trong vùng giải phóng); John T. McAlister, Jr., “Mountain Minorities and the Viet Minh: A Key to the Indochina War;” trong Peter Kunstadler (ed), Southeast Asian Tribes, Minorities and Nations (Princetion: Univ Press, 1967), pp. 821-822.

 

[23]“La vérité sur les relations sino-vietnmiennes;” La Chine et le Monde [“Sự thật về quan hệ Trung Hoa-Việt Nam,” trong Trung Hoa và Thế Giới] (Beijing: Beijing Information, 1982), tr. 108 [102-41]; Hoàng Văn Hoan, Sự thực về tình hữu nghị chiến đấu Việt-Trung không thể xuyên tạc (Bắc Kinh: 11/1979), tr. 26. [ngày 13/1/1950, Lưu Thiếu Kỳ còn nhắc việc này];  Xem thêm Qiang Zhai, 2000:11-12, 23 Võ Nguyên Giáp, Chiến đấu trong vòng vây [CĐTVV], 2001:230-231, 234-35, 294-295.

 

[24]Thời Sự (Hà Nội), 2/5/1949; Giáp, CĐTVV, 2001:295-296.; Cứu Quốc, 12/12/1949; SHAT (Vincennes), 10H xxx ]

 

[25]John T. McAlister, Jr., “Mountain Minorities and the Viet Minh: A Key to the Indochina War;” trong Peter Kunstadler (ed), Southeast Asian Tribes, Minorities and Nations (Princetion: Univ Press, 1967), pp. 821-822.

 

[26]Lê Văn Hiến, 2004, I:328-29, 346-347, 349.

 

[27]VKĐTT, 9:1948, 2001: 17-8; Lê Văn Hiến, 2004, I:381, 395, 494; II:36 (Trần Văn Giàu ở Xiêm về); Phạm Văn Đồng từ Quảng Ngãi ra. Chính Đạo, Hồ Chí Minh, I, 1997:247 (Phụ bản Cứu Quốc tại miền Nam).

 

[28]Chỉ thị ngày 18/3/1948; VKĐTT, 9:1948, 2001:64; Vạn & Lâm, 1979:144.

 

[29]Báo cáo của Lê Đức Thọ về tình hình và nhiệm vụ mới của Đảng;” VKĐTT, 9:1948, 2001:316-318 [276-320].

 

[30]CĐ 22, Gibson (Hà Nội) gửi BNG, 2/4/1949, 14G00; FRUS, 1949, VII: The Far East and Australia, (1975), pp 17-18.

[31]CĐ 34, Gibson (Hà Nội) gửi BNG, 30/4/1949, 11G00; FRUS, 1949, VII: The Far East and Australia, (1975), I:21.

 

[32]Lê Văn Hiến, 2004, II:203, 212. Ban và Thụy tháp tùng phái đoàn này, như thông dịch viên, và được gặp Luo Guibo vào tháng 1/1950; Trương Quảng Hoa, “Cố vấn quân sự,” trong La Quí Ba et al., Ghi chép về việc đoàn cố vấn Quân sự Trung Quốc viện trợ Việt Nam chống Pháp (Bắc Kinh: 2002), bản dịch tiếng Việt Trần Hữu Nghĩa và Dương Danh Dy (tài liệu nội bộ), 2008:217; Luo Guibo, “Lishi dehuigu: Zhongguo yuan Yue kangFa yu ZhongYue liangdang liangguo jishi” [Recalling History: A Factual Account of China’s Assistance to Vietnam against the French and Relations between the Two Parties and Two Countries of China and Vietnam], trong Fu Hao & Li Tongcheng (eds), Zhongguo waijiaoguan congshu: Kaiqi guomen–Waijiaoguan de fengcai [Chinese Diplomats Series: Opening the Gate of the Country—the Glory of Diplomats] (Beijing: 1995), tr. 152-153 [150-176]; dẫn trong Zhai, 2000:13, 15.

 

[33]Schram, 1977:290-291. Hồ, Phạm Văn Thiện [Hùng] và Lê Duẩn tham dự Đại hội các Đảng CS ở Mat-scơ-va từ ngày 14 tới 16/11/1957. Tito không dự; ND, 23/11/1957.

 

[34]Tân Hoa Xã [NCNA], 19/11/1949; dẫn trong King Chen, Vietnam and China, 1969:218; Theo Chen, sau hội nghị QT này, có một hội nghị khác trong nội địa VN; Ibid, 1969:229-230; Zhai, 2000:21. Theo Lê Văn Hiến, Bộ Tài chính lấy vàng chôn dấu từ năm 1946 đúc ra 200 đồng tiền vàng “20 Việt.” 50 đồng dành tặng phái đoàn ngoại quốc. [15/11/1949: Chọn người để gặp phái đoàn ngoại quốc, II:195; 27-28/12/1949; II:221-222]

 

[35]Document 17: Memorandum of Conversation, V.M. Molotov and A.Y Vyshinsky with Mao Zedong, Moscow, 17 Jan 1950 from the Diary of V.M. Molotov. Top Secret, AVP RF, f. 07, op. 23a, d. 234, pap. 18, ll. 1-7; provided by O.A. Westad; translation for CWIHP by Daniel Rozas.

 

[36]Liu gửi Hồ, 28/12/1949; Liu Shaoqi nianpu, 1996, 2:236; trong Zhai 2000:13-15; Luo Guibo, “[A Factual Account of China’s Assistance to Vietnam], trong Fu Hao & Li Tongcheng (eds), [the Glory of Diplomats] (1995), tr. 152-153.

 

[37]Lê Văn Hiến, 2004, II: 207, 381; Liu nianpu, II:268 & CĐ ngày 20/4 và 2/5/1951; Ibid., II:276; Zhai, 2000:35-6. Đầu thế kỷ XXI, Đảng CSVN còn phải mở nhiều chiến dịch chống tham ô, lãng phí, như bòn rút quĩ viện trợ để bắt độ bóng đá, lên tới hàng triệu Mỹ Kim; hay dùng tre, gỗ thay cho thép làm trụ khung lõi cầu, đường. Năm 2005, tòa án binh của Quân Khu 7 tại Sài Gòn còn kêu án tù cho người tố cáo tham nhũng ngang với các tội phạm chính. Cảnh sát giao thông cũng nổi danh về cách bắt phạt vạ. Tham nhũng cách mạng Xã hội chủ nghĩa, từ Việt Nam tới Trung Hoa, có phần tinh vi hơn tham nhũng phong kiến hay tư bản phản động. Tháng 8/2012, một “đại gia” nắm quyền sinh sát tài chính và ngân hang bỗng bị bắt giữ vì những hành vi trái luật. Có người tung tin đang có tranh chấp nội bộ trong Bộ Chính Trị, vì đại gia ngân hàng thân cận với Thủ tướng Dũng. Hơn nữa, Bắc Kinh đang cáu giận thái độ của chính phủ Việt Nam về tranh chấp lãnh hải. Ba chục năm trước, Nguyễn Tấn Dũng là người được tuyên dương công lớn trong việc phá đường giây buôn lậu vũ khí Trung Cộng của nhóm Mai Văn Hạnh, Trần Văn Bá, v.. v.. Cuối 2013, đầu 2014, một số đại gia bị đưa ra tòa, có người bị án tử hình.

 

[38]Lê Văn Hiến (2004), I: 41, 42, 56, 58, 82 [tổ chức cơ quan mua hàng ngoại hoá gồm 1 tài chính, 1 kinh tế, 1 mặt trận hay UVKC địa phương (Cao Bằng), 94, 122 (Trung ương);] I:45, 64, 81 [Bộ tài chính sử dụng 7 người người Việt Nam Mới (Nhật)], I:83 [xuất cảng gỗ (Cao Bằng)]; I:84, 97 [mỏ Tĩnh Túc (Pia Ouac, Cao Bằng): vàng cốm, wolfram, thiếc (Lê Toàn Trung và Lưu Quang Hoà phụ trách khai mỏ vàng và thiếc)]; I:112 (Hoa thương); I:119, 153 (kẽm, galène, antimoine ở mỏ Bản Thi) [nơi đặt nhà in bạc]; I:236 (phái đoàn sang Tàu); I:331, 639-40 (Uranium).

 

[39]“Rapport sur l’évolution de la situation politico-religieuse à Phat Diem (28 Février 1951);” SHAT (Vincennes], 10H xxx (chưa giải mật); Quang Toàn & Nguyễn Hoài, Những hoạt động của bọn phản động đội lốt Thiên chúa giáo trong thời kỳ kháng chiến 1945-1954 (Hà Nội: NXB Khoa học, 1965), tr. 62.

 

[40]“Cọp Cai Lậy” Nguyễn Văn Tâm [Trương Duy Hinh] tự nhận chiêu hồi Hòa Hảo. Bình Xuyên của Lê Văn “Bảy” Viễn về hàng sau khi chính phủ trung ương lâm thời của Xuân thành lập năm 1948, được đặt dưới sự điều động của Thủ hiến Nam Việt Trần Văn Hữu.

 

[41]Vũ Đình Hoè, 2004:911-16, 926. [1948: Nguyễn Văn Huyên xin từ chức, nhưng HCM không chấp thuận. Vũ Đình Hoè cũng xin từ chức vì chủ trương “hồng hơn chuyên” của chế độ. Huyên tặng Hoè cuốn Le chemin des tourments [Con đường khổ ải] của Alexis Tolstoi, nói về thân phận trí thức trong chế độ CS. [916] Theo Hoè, Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng trở thành “một chân nhân;” thường tuyên bố “Nào tôi có biết gì đâu? Tôi có quyền gì đâu? Quyết định là từ đâu ấy chứ!” (Hoè, 2004:926) “Đảng đoàn” hầu như lo mọi việc. (Hoè, 2004:926) Năm 2004-2005, Thủ tướng Phan Văn Khải cũng tuyên bố tương tự! (Hoè, 2004:900-1, 911-916). “Hồng hơn chuyên.” (Hoè, 2004:899-905). “Các quyền dân sự chỉ được hành xử và bảo vệ nếu phù hợp với quyền lợi nhân dân.” Trần Công Tường, Thứ tưởng Tư Pháp, còn muốn hủy bỏ cả vai trò Luật sư thay bằng “bào chữa viên nhân dân.” (Hoè, 2004:904-905). Mùa Thu 1950, tới lượt Bộ trưởng Tư Pháp Hoè đại diện Hội Việt-Hoa hữu nghị (thành lập tháng 2/1950) tham gia một phái đoàn “phỗng Hoa”—do Tôn Đức Thắng cầm đầu—đi, vận động cảm tình của dân Trung Hoa qua những trình diễn về chiến thắng Đông Khê, v... v...

 

[42]Renmin ribao [Nhân Dân Nhật Báo = People's Daily] (Beijing), 19/1/1950. [Source: JGYLMZDWG, 1:238; translation from Shuguang Zhang and Jian Chen, eds., Chinese Communist Foreign Policy and the Cold War in Asia, 138.]

 

[43]Theo Nhân Dân, sáng 14-1/2010, tại Bảo tàng Hồ Chí Minh, Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN) và Tân Hoa xã (THX) Trung Quốc phối hợp mở triển lãm ảnh "60 năm hữu nghị Việt - Trung" (18-1-1950 - 18-1-2010). Nguyễn Sinh Hùng, Ủy viên Bộ Chính tri, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ  cắt băng khai mạc. Dự khai mạc triển lãm còn có  Nguyễn Bắc Son, Ủy viên T.Ư Đảng, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo T.Ư; Nguyễn Thanh Sơn, Thứ trưởng Ngoại giao, Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền nước CHND Trung Hoa tại Việt Nam Tôn Quốc Tường, Tổng Giám đốc TTXVN Trần Mai Hưởng và Phó Tổng Giám đốc THX Trung Quốc Trương Hiểu Hoa cùng đại diện các ban, ngành hữu quan.

Triển lãm trưng bày hơn 200 tác phẩm được THX và TTXVN chọn trong kho ảnh tư liệu báo chí của hai cơ quan thông tấn quốc gia, trong đó có những bức ảnh lần đầu được công bố. Những bức ảnh được trưng bày làm nổi bật tình hữu nghị "Vừa là đồng chí, vừa là anh em" giữa hai nước, kể cả lá thư ngày 14/9/1958 của Phạm Văn Đồng gửi Chu Ân Lai. Năm 2021, Nguyễn Thanh Sơn vào Bộ Chính Trị, giữ chức Bộ trưởng Ngoại Giao.

  

[44]Hoàng Văn Hoan, Giọt nước trong biển cả (Bắc Kinh: 1987), tr. 243-246, 328-330; Idem.,“Một bước ngoặt lịch sử quan trọng;” Bằng et al., Đầu nguồn, 1977:109-113; Lê Quảng Ba, “Bác Hồ về nước;” Ibid., 1977:202; Liu gửi Văn phòng Nam TW Đảng CSTH, 26/1/1950, & Liu gửi Mao, 30/1/1950, Liu nianpu, 2:241; dẫn trong Zhai, 2000:16; Giáp, CĐTVV, 2001:347-348; Idem., Đường tới Điện Biên Phủ (Hà Nội: QĐND, 2001), tr. 13. [Trương Quảng Hoa, “Quyết sách,” 2008:17-18) [30/1/1950: Idem., “Cố vấn QS,” trong La Quí Ba et al., Ghi chép về việc đoàn cố vấn Quân sự Trung Quốc viện trợ Việt Nam chống Pháp (Bắc Kinh: 2002), bản dịch tiếng Việt Trần Hữu Nghĩa và Dương Danh Dy (tài liệu nội bộ), 2008:218]

 

[45]Document 24: Telegram, Mao Zedong and Zhou Enlai to Liu Shaoqi, 1 Feb 1950; JGYLMZDWG, 1:254; trans. from Shuguang Zhang and Jian Chen, eds., Chinese Communist Foreign Policy and the Cold War in Asia, 141-42]; “Nghị quyết của TVTW ngày 4/2/1950;” VKĐTT, 11:1950, 2001:222-224; “Chỉ thị ngày 9/2/1950;” Ibid., 2001:225-228.

 

[46]RC 495, Box 154, File 531, p. 42; RC 495, Box 184, File 54, p. 106 and 36, pp. 175; Tran Van Hung, 2000, 8:54; Anatoli A. Sokolov, Quốc tế Cộng Sản và Việt Nam [Comintern and Viet-Nam], Đào Tuấn dịch từ Nga ngữ (Hanoi: NXBCTQG, 1999), tr. 160, 162-163; “Biographie de Ho Chi Minh;” CAOM (Aix), 19 PA, carton 4, d. 62;

 

[47]János Radványi, Delusion & Reality, 1978:20 [Thủ tướng Munnich: HCM was a lucky man to have survived Stalin’s blood purges, while Borodin and his friends were liquidated one by one].

 

[48]Báo cáo ngày 31/7/1939, Linov gửi Ban Phương Đông; RC 495, 10a, 140, p. 102; VKĐTT, 6 :1936-1939, 2000: 507 [507-586]; HCMTT, 1995, 3:138-39)

 

[49]CAOM (Aix), 14PA, Carton 2.

 

[50]Notice .. Janvier 1940,” pp 1-3; CAOM (Aix), 7F27. Dư hưởng biến cố này có thể khiến Lê Duẩn không cho Bộ Chính Trị vào chào Hồ Chí Minh sáng 2/9/1969, sửa ngày chết của Hồ thành  4, rồi 3/9/1969, không hỏa thiêu Hồ theo di chúc, mà còn xây lăng trình diễn xác ướp của Hồ. (ND, 5/9/1969; President Ho Chi Minh’s Testament (Hanoi: The Gioi, 2001), tr. 10.

 

[51]US Congress, Senate, Causes, Origins, and Lessons of the Vietnam War. Hearings before the Committee on Foreign Relations, 92nd Congress, 2nd Session, May 1972 (1973), tr. 249; Charles Fenn, Ho Chi Minh: A Biographical Introduction (New York: 1973), 71-75, 76-77, 78, 81; Archimedes L. Patti, Why Viet-Nam? Prelude to America's Albatros (Berkeley, Cal.: Univ of California Press, 1980), tr. 29-30, 31, 46, 50, 51; S. Tonnesson, Vietnamese Revolution, 238, 337 (quoted USNA ngày 19/3/1945); Raymond P. Girard, “City Man Helped to Train Guerillas of Ho Chi Minh;” Evening Gazette (Worcester, MA), 14 & 15/5/1968; dẫn trong Marr, 1995:209n189; Phùng Thế Tài, Bác Hồ những kỷ niệm không quên (Hà Nội: QĐND, 2002), tr. 32, 33-34, 57-63, 82-87; Lê Tùng Sơn, 1978:110-112 [Mỹ thả 2 đợt, gần 80,000 truyền đơn của Việt Minh xuống Hà Nội, Huế và Việt Bắc]; Chính Đạo, Hồ Chí Minh (1993), tr 356.

 

[52]Vu Ngu Chieu, “Political and Social Change;” Part II: “The End of An Era,” Dec 1984, chapt. 9. Xem thêm CAOM [Aix], HCFI, CP 192; David G. Marr, Vietnam 1945: The Quest for Power (Berkeley, Cal.: Univ. of California Press, 1995), tr. 227-229, 241, 282-285, 288-291, 304n33, 476-479, 482-490, 498-501, 538-539; René Defourneaux, “Secret Encounter with Ho Chi Minh;” Look (NY), 8/9/1966, pp 32-33; Robert Shaplen, The Lost Revolution (NY: Harper & Row, 1965), p 30; Báo cáo ngày 22/8/1945, William J. Donovan gửi Byrnes; Bộ Quốc Phòng, US-Vietnam Relations, 1947-1967 (Washington, DC: GPO, 1971), Bk I, C 58-89, 67; The Pentagon Papers (Gravel), vol. I, pp. 17, 20, 50, 51; Lê Giản, “The Story of An Exile;” Vietnam Courrier, 1980:17-20;

 

[53]HCM gửi cho Stalin hai lá thư vào tháng 2/1946, và Bộ Ngoại Giao VN cũng gửi cho Nga Sô, cùng ba cường quốc Bri-tên, Nga và Trung Hoa, một tài liệu khác giới thiệu thành tích của chính phủ VNDCCH; “Note to the Government of China, United States of America, Union of Socialist Sovietic Republic, and Great Britain;” US-Vietnam Relations, 1945-1967, Bk I, C-98-99, & Cable, from Landon for Moffat and Culbertson, no date [received on February 27, 1946]: HCM handed Landon two letters addressed to Truman, Cheng K’ai-sheik, Stalin và Attlee, yêu cầu yểm trợ tinh thần độc lập của VN, theo kiểu mẫu Philippines. Ibid. I, C-101. Giữa tháng 9 và tháng 10/1945, Hồ gửi cho Stalin hai công điện xin viện trợ, nhưng không có hồi âm; theo Igor Bukharkin, (conference 1996) Zhai, 2000:13.

 

[54]Amiral d’Argenlieu, Chronique, 1985:168. [431-432: từ tháng 11/1945, HCM chứng tỏ sự bất an và trở nên biết điều [compréhensif] hơn. Họ chống lại Tàu]; Zhai, 2000:13;

 

[55]Vu Ngu Chieu, “Political and  Social Change,” Part III: “Brutality of World Politics,” Dec 1984, chap. 11.

 

[56]AAN (Paris), 1947, p. 856, col 2; Fall, 1965:196 [March 14-18, 1947: Robert Schumann, MRP, moderate Catholic; Ramadier, Socialist]

 

[57]Radványi, Delusion & Reality, 1978:4-5,269n1. Đại biện Hungary tại Paris, Zoltán Szánto, người từng hoạt động với Comintern, tán đồng nhận xét của Thorez [Szanto thought that Thorez’s summation of Stalin’s attitudes and politics on Vietnam was entirely accurate]. [5] Năm 1952, Pierre Courtade, chủ biên L’Humanité, gọi Hồ là Tito của Viễn Đông [editor of L’Humanité, described HCM as a nationalist Communist–the Tito of the Far East]. Ibid., 1978:20. Năm 1959, Vyacheslav M. Molotov cho rằng cả HCM và Phạm Văn Đồng là những người cứng đầu, chỉ quan tâm đến Việt Nam, không lo cho Quốc tế Cộng Sản [Both HCM and Pham Van Dong were stubborn men, interested only on Vietnam, not international movement. (1978:20) Từ đầu thập niên 1930, nhóm Trần Phú-Hà Huy Tập đã đưa ra lập luận này.

 

[58]FRUS, 1949, VII: The Far East and Australia (1975), p 67; L. Podkopayev, “Viet-Nam Fights for Independence;” New Times [Tân Thời Báo], số 16 (13/4/1949), tr. 11-13.

 

[59]Nikita S. Khrushchev, Khrushchev Remembers, trans. and ed. by Strobe Talbott (Boston: 1970), tr. 482; Idem., Khrushchev Remembers: The Glanost Tapes (Boston: Little & Brown, 1990), tr. 154-56; Ilya V. Gaiduk, The Soviet Union and the Vietnam War (Chicago: I. R. Dee, 1996); Idem., Confronting Vietnam: The Soviet Policy toward the Indochinese Conflict, 1954-1963 (Wahington, DC: Woodrow Wilson Center Press, 2003); Zhai, 2000:226-227n34.

 

[60]Hoan, 1987:330; Radványi, Delusion & Reality,  1978:4-5, 20, 269n1; Trương Quảng Hoa, “Quyết sách,” trong La Quí Ba et al., 2008:19-20; Idem., “Cố vấn QS,” Ibid., 2008:218] [Tháng 3/1953, đúng ngày Stalin chết, HCM tiết lộ với Vi Quốc Thanh lời dặn dò của “Người,” vào tháng 11/1952, là không thể đứng giữa một đòn gánh, hoặc đứng về phía quần chúng, hoặc nhập phe phong kiến. (Vu Hoá Thẩm [Vương Chấn Hoa], “Vi Quốc Thanh,” Ibid., 2008:59.

 

[61]Zhai, 2000:16-17. Theo Võ Giáp, Linov Côn còn xin chữ ký Stalin và các cấp lãnh đạo Nga (như từng xin hình có chữ ký Tướng Claire Chennault năm 1945); nhưng tờ báo có chữ ký này sau đó bỗng dưng biến mất ở khách sạn; Giáp, CĐTVV, 2001:331; Trương Quảng Hoa, “Quyết sách,” trong La Quí Ba et al., 2008:21.

 

[62]Chen Jian, “China and the First Indo-China War, 1950-1954,” The China Quarterly 132 (March 1993), p. 93 [85-110]; Trương Quảng Hoa, “Cố vấn QS,” trong La Quí Ba et al., 2008:218. Xem thêm Võ Nguyên Giáp, Đường tới Điện Biên Phủ (Hà Nội: NXBQĐND, 2001), tr. 14; Idem, CDTVV, 2001:350-51.

 

[63]Zhou gửi Hồ, 7/7/1950, Zhou nianpu, 1:53; Zhai 2000: 15, 17-18, 19; Hoan, 1987:325ff.; Hiến, 2004:II:380-381; La Quí Ba et al., Ghi chép về việc đoàn cố vấn quân sự TQ Việt Nam chống Pháp (Bắc Kinh: Nghiên Cứu Lịch Sử Đảng, 2002), tr. 5-6) Nguyên bản đăng trong Tưởng Nhớ Mao Trạch Đông [Lưu Thiếu Kỳ ?] (1993)

 

[64]Igor Bukharkin, “Moscow and Ho Chi Minh, 1945-1969,” 1996:3-7.

 

[65]Hiến, 2004, II:340. 341, 444 [Về Việt Nam, Mao đưa ra những giải pháp: Quân sự, giải phóng Trung du và các miền quan hệ về sản xuất. Tăng gia sản xuất và bớt 2% số người không sản xuất. TC giúp nuôi một số người (quân nhân, cán bộ, thiếu sinh)]. Ngày 28/6/1950, HCM muốn lên chức Tổng Tư lệnh, Giáp xuống làm Phó Tổng Tư lệnh kiêm Tổng Tham Mưu Trưởng, Nguyễn Chí Thanh, Chủ nhiệm TC/CT. Trần Đăng Ninh, Chủ nhiệm TC/Hậu Cần; Thông tri ngày 28/6/1950; VKĐTT, 11, 2001:346-347. Ngày  10/7/1950 HCM tạm hoãn kiêm chức TTL/QĐ. Giáp tiếp tục làm TTL; Ibid., 2001:380-381. Ngày 10/7/1950: HCM bế mạc HĐCP. Cho lệnh “quân sự hóa” các cơ quan. (Hiến, 2004, II:341)

 

[66]Nhân Dân [ND], 11/3/1951; dẫn trong Hoàng Văn Hoan, Giọt nước trong bể cả (Bắc Kinh: 1987), tr. 357-358.

 

[67]Ibid., 1987:369; [1982:35]; Zhai, 2000:18-42.

 

[68]VKĐTT, vol 12:1950 (2001), tr. 495.

 

[69]“Đáp từ trong buổi lễ trình quốc thư của Đại sứ Nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa;” Nhân Dân, số 221 (4-6/9/1954); Hồ Chí Minh Toàn Tập [HCMTT], 7:1953-1955 (Hà Nội: NXBCTQG, 1996), tr. 343; Hoàng Văn Hoan, “Tuyển tập Hồ Chí Minh với tên phản bội Lê Duẩn;” Tin Việt Nam, số 21 (Tháng 11/1982), tr. 10-11 [1-40].

 

[70]Lê Tắc, An Nam Chí Lược [ANCL], bản dịch Chen Ching Ho [Trần Kính Hòa] (Huế: Đại học Huế, 1961), q. 5, tr. 102-3 [101-3]. [Duy Nhật Nam toái nhi chi bang, hình phục nhi tâm do vị hóa, tuy nhậm thổ tu phương chi cống, bất khuyết nhi vị tận kỳ thành, vấn tội hưng sư, cố đại bang chi chính lý. Tàng phong ti nhuệ, diệc tiểu quốc nhi ti tình. [101]. Ngày 6/4/1292 [18/3 Nhâm Thìn]: Trương Lập Đạo tới Khâu Ôn. Qua sông Lư Giang tới sứ quán. (Xem Hành lục của Trương Lập Đạo; ANCL, q. III, 1961:71-5) Trần Nhân Tông sai Nguyễn Đại Phạp đi sứ nhà Nguyên. Tháng 3 Nhâm Thìn [1292], gặp Trần Ích Tắc một lần trong đại sảnh ở Ngạc Châu. (ĐVSK. BKTT, V:61b, (Lâu, 2009), 2:85-5, (Giu, 1967), 2:69). Sử Nguyễn ghi là tháng 10 Tân Mão [24/10-21/11/1291]; CMCB, VIII:17; (Hà Nội:1998), 1:544, 545-546. Sử Lê không ghi tháng, chỉ nói sứ Nguyên muốn thuyết phục Nhân Tông vào chầu. Năm sau, sai Nguyễn Đại Phạp sang cáo từ là đang có tang. (ĐVSK, BKTT, V:6a, (Lâu, 2009), 2:83, (Giu, 1967), 2:68; Nguyên Vũ Vũ Ngự Chiêu, “Đất đai Việt Nam bị Trung Hoa Nhân Dân Cộng Hòa Quốc xâm chiếm;” Hợp Lưu Magazine (Fountain Valley, CA), No. 105 (5-6/2009), tr. 5-32; Việt Nam Thời Báo (San Jose), số 5103, Thứ Bảy-Chủ Nhật, 11-12/7/2009, & 5104, Thứ Ba, 14/7/2009.

 

[71]Tin Việt Nam, số 41 (Tháng 7/1984), tr. 17. Hoàng Văn Hoan, “Tuyển tập Hồ Chí Minh với tên phản bội Lê Duẩn;” Ibid, số 21 (Tháng 11/1982), tr. 1-40.

 

[72]Henry A. Kissinger, White House Years (Boston: Little, Brown and Co., 1979), tr. 1064.

 

[73]Chiếu Phát Phối Hàng Binh Người Nội Địa;” Hàn Các Anh Hoa, Tuyển Tập Thơ Văn Ngô Thời Nhậm, bản dịch Mai Quốc Liên et al. 2 tập (Hà Nội: 1978), II, tr. 112 [112-13, Hán], 114 [Việt]. Sử quan Nguyễn phụ trách soạn bộ Đại Nam Liệt Truyện ghi tổng số quân Thanh lên tới “20 vạn” [200,000]. [“Nghị độc phụng chiếu xuất Lưỡng Quảng Vân Quí lượng lộ binh nhị thập vạn, phân vi lưỡng đạo;” q. XXX [Ngụy Tây], tr. 30B, (Sài Gòn: 1970), tr. 124-25; (Huế, 1993) II:515] (Huệ) Ai đó có thể hoài nghi con số “20 vạn” vì các sử quan Việt hay phóng đại sự thực. [Giống như số phi cơ Mỹ bị CSVN bắn hạ (xem Phùng Thế Tài, 2001) hay “600,000” quân Trung Cộng tràn vào Bắc Việt trong Bài học 30 ngày (17/2-19/3/1979)! (thực sự chỉ có 320,000, theo một tư liệu Trung Cộng) Có thể sử quan Nguyễn đã dựa theo tài liệu tuyên truyền của cả nhà Tây Sơn lẫn nhà Thanh. Tây Sơn có thể đã nâng số quân Thanh lên 29 vạn để tự quảng cáo chiến thắng vĩ đại của mình. Nhà Thanh  tuyên truyền rằng mang 20 hay 50 vạn quân xâm phạm Đại Việt để kinh động nhân tâm, hầu “thanh oai.” Theo Hoàng Lê Nhất Thống Chí, trong tờ hịch của Tôn Sĩ Nghị phát ra trước khi xâm phạm Đại Việt, quân Thanh lên tới “50 vạn” [500,000]. (II, tr. 153) Con số này khó tin, vì nhà Thanh chủ trương “thanh viện” [đánh tiếng giúp] vua Lê hơn thực sự giao chiến với Tây Sơn—dù phía sau chủ trương “thanh viện” ấy là âm mưu chia nước ta làm hai vương quốc nhỏ, một giao cho họ Lê, một cho anh em Tây Sơn, rồi đồn trú quân ở chỗ hiểm yếu hầu thực sự chiếm đóng Đại Việt. (HLNTC, II, tr. 147)

 

[74]Edgar Snow, Red Star Over China, (New York: Random House, 1938), p 119; Schram, 1977:23; CHXHCNVN, Bộ Ngoại Giao, Sự Thật về Bang Giao Việt Trung (Hà Nội: 4/10/1979), tr. 11-2, 16-. [Sẽ dẫn: Sách Trắng]; Francois Joyaux, 1981:64. Nên ghi thêm là từ năm 1947, chính phủ Tưởng Giới Thạch cũng đã công bố bản đồ TH bao gồm những dấu chấm ở miền Nam, chờ ngày quân đội TH điền vào chỗ trống. Viên chức ngoại giao Pháp đã phản kháng, nêu lý do có trách nhiệm bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ một xứ bảo hộ.

 

[75]Beijing Review [Tạp chí Bắc Kinh], số 26, 27/6/2013; Jane Perlez, “Chinese Leader’s One Man Show Complicates Issues;” NY Times, 8/7/2014; Nhân Dân điện tử (Hà Nội), 11/7/2014.

 

[76]FRUS, 1939, III: The Far East, (1955) pp. 111-112, 114.

[77]Sách Trắng, 1979:99-100; Nhân Dân (Hà Nội), 25/3/1984, 3-5/5/1984 (Hồi ký Nguyễn Thành Lê); Trần Việt Dũng, “Lại một tên bồi bút không biết xấu hổ;” Việt Nam (Bắc Kinh), số 41 (tháng 7/1984), tr. 10-15; Nguyễn Ngọc Minh, “Bọn bành trướng và bá quyền nước lớn TQ phạm tội ác xâm lược, tội ác chống hòa bình và an ninh quốc tế;” 1979: 126-127 [124-146].

 



Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1132)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 1820)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 5860)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13179)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 30059)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81181)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20234)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
30 Tháng Tám 202012:31 SA(Xem: 4729)
1/6/1802 [2/5 Nhâm Tuất]: Nguyễn Chủng lên ngôi vua, đặt niên hiệu là Gia Long. (ĐNTLTB, I, 11-12, 1962:230-264, & ĐNTLCB, I, I, 2:1778-1802, 1963:27, & XVII, 3:1802-1809, 1963:23-24) Ban chiếu: Kinh Xuân Thu trọng nghĩa nhất thống là để chính danh nghĩa khi mở đầu. Từ tiên thái vương ta dựng nền ở miền Nam, thần truyền, thánh nối đã 200 năm. Gần đây Tây Sơn nổi loạn, vận nhà Lê đã hết, hơn vài mươi năm trong nước không có chính thống. Năm Canh Tí [1780] ta mới ở thành Gia Định, được các tướng sĩ suy tôn, đã lên ngôi vương để giữ lòng người. Duy đô cũ còn chưa phục, nên còn theo niên hiệu cũ [nhà Lê] (ĐNTLCB, I, XVII, 3:1802-1809, 1963:23-24)
04 Tháng Giêng 20205:40 CH(Xem: 7267)
Những tư liệu về thuở thiếu thời của Petrus Key đầy chi tiết trái ngược nhau. Năm 1958, Viên Đài & Nguyễn Đồng cho rằng thân phụ Trương Vĩnh Ký là “Lãnh binh Truơng Chánh Thi,” chết năm 1845 trong khi tùng sự ở Nam Vang (Bách Khoa [Saigon], số 40, [1/9/1958], tr. 43); năm 1846 mẹ (Nguyễn Thị Châu) ủy thác cho một giáo sĩ người Pháp có tên Việt là “cố Long” (tr. 44); năm 1847, Nguyễn Phước Thời (1847-1883), niên hiệu Tự Đức, lên ngôi, cấm đạo gắt gao phải chạy sang Cao Miên [Kampuchea]; năm 11 tuổi nói được 5 thứ tiếng (tr. 44); năm 1852 [sic] được cố Long hướng dẫn sang Đại chủng viện Penang, và ghé qua Sài Gòn gặp mẹ được vài giờ (tr. 44). Tại Penang học tiếng Anh, Nhật, Ấn (tr. 45). Năm 1858 mẹ chết, về Cái Mơn thọ tang. Ngày 28/12/1860 [sic], được Giám mục Dominique Lefèbvre giới thiệu “giúp việc cho Đại úy thủy quân” [sic] Jauréguiberry (tr. 45). Chữ “capitaine” của Pháp ở đây là hạm trưởng, không phải “đại úy” như quân chủng bộ binh.
24 Tháng Mười 20199:21 CH(Xem: 8179)
Hạnh phúc biết bao cho một người không có quá khứ, hay một dân tộc không có lịch sử—nhiều người quan niệm như thế. Nhưng con người, mỗi người trong chúng ta, đều có quá khứ, vui, buồn hay buồn vui trộn lẫn. Một dân tộc luôn luôn có lịch sử, vinh quang, tủi buồn, hay vinh nhục đủ mùi vị. Quá khứ luôn luôn là tấm gương cho mỗi người tự sửa mình, rút cho mình một kinh nghiệm sống, chuẩn bị cải thiện tương lai. Lịch sử một quốc gia, nếu được ghi chép trung thực, là kho tàng kinh nghiệm cho việc ích quốc, lợi dân, và phát huy tình nhân loại cho một thế giới đáng sống hơn.