- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,563,499

Thày Mạnh

26 Tháng Chín 201012:00 SA(Xem: 30815)

thuykhue_hl110_0_276x300_1Thế giới văn chương tuy bao la nhưng cũng giống như một xóm nhỏ, người viết thuộc lòng nhau. Thế giới phê bình còn bé hơn, nhiều "nhà", lắm "đại gia", nhưng những người đọc được đếm trên đầu ngón tay. Nghề phê bình cũng như nghề thợ trạm: phải ở trong mới biết thật, giả.

Tháng 9/1993 được gặp ông lần đầu, Nguyễn Đăng Mạnh không khác những gì tôi hình dung qua văn bản: ông đẹp, lối Bắc, da trắng, mắt đen. Long lanh thứ ánh sáng mà Nguyễn Du gọi là "anh minh phát tiết ra ngoài", báo hiệu một đời "nghìn thu bạc mệnh". May nhờ cái miệng kéo đi: miệng khi cười, rộng, tươi. Môi như hai cánh hoa chụm, lúc không cười vẫn chúm chím như sắp nở. Thoạt nhìn có thể xếp vào loại trai Bắc lém, xạo, mắt có đuôi, miệng chưa cười, mắt đã. Nhìn kỹ không phải thế: cặp mắt cười đánh tan cái "bạc mệnh" của ánh mắt "anh minh phát tiết"; khi nói, cảm tưởng lém và xạo tan đi, chỉ còn cái thật, cái thẳng. Thẳngthật nằm trong thanh âm tiếng nói, tiếng cười đọng lại như những yếu tố ngoài văn bản.

Bấy nhiêu ký hiệu ngoại hình xác định tư cách trí thức và văn học của nhà phê bình.

*

Nguyễn Đăng Mạnh là một nhà phê bình sắc sảo, ông nhận ra những gì người khác chưa thấy, và ông thấy được sợi chỉ đỏ trong tư tưởng và nghệ thuật của tác giả.

Nguyễn Đăng Mạnh là một nhà trí thức dám nói, trong môi trường ít người dám nói thật.

Ở một ngòi bút phê bình, tài năng và đạo đức là hai giá trị hàng đầu. Tài năng, thường hiếm nhưng dĩ nhiên phải có, không tài, xin miễn, nên chọn nghề khác. Đạo đức, lại càng hiếm hơn, là đạo sống, đạo làm người. Đạo đức gần với lương tâm: Con người ai cũng có lương tâm, nhưng mấy ai nghe lời lương tâm, phần lớn chỉ dùng lương tâm như ông toà, cắn rứt trước việc đã rồi.

Ở người phê bình, đạo đức và lương tâm là một, ngòi bút đạo đức cũng là ngòi bút có lương tâm: Không khoa trương, viết những điều mình không biết. Không dùng chữ nghiã vào những việc trái với lương tâm. Không viết theo chỉ thị, cũng không viết theo đơn đặt hàng. Không làm bồi bút. Nịnh trên là bồi bút vụ lợi. Nịnh bạn là bồi bút vụ tình.

Nguyễn Đăng Mạnh là nhà phê bình có lương tâm nghề nghiệp trong một môi trường ít người giữ được lòng trong.

Một điểm nữa mà Tạ Trọng Hiệp lúc còn sống thường hóm hỉnh gọi là tình trạng "chạy nước rút": người ta muốn học gấp trong vài ngày, vài giờ những điều đáng lý phải học cả đời. Người ta tung ra những kiến thức sống sượng vừa sao chép được trong thời buổi điện tử, chỉ cần ấn con chuột vài cái là có đến trăm ngàn kiến thức dọn sẵn. Loại kiến thức "nước rút" đầy rẫy trong các cuộc "tranh luận văn học" trong và ngoài nước, trên mạng cũng như trên giấy.

Nguyễn Đăng Mạnh không tham dự những cuộc chạy nước rút, ông không thích ăn xổi. Ông không hay lên mạng nên thoát được tình trạng nhiễm xạ kiến thức nổi. Nguyễn Đăng Mạnh là một "người hiền" thênh thang trên con đường "cổ lỗ sĩ" vắng teo của mình: ông là một trong những người Mohicans cuối cùng của dòng phê bình "trọng nghĩa khinh tài", bởi "quê mùa" nên giữ được tấm lòng trong sạch với chữ nghiã, sách vở.

 

*

Chẳng cần nhắc lại những bài lý thuyết văn học hay những trang viết về Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng, Vũ Trọng Phụng... giọng mực thước, kiến giải sâu sắc, hiển nhiên ai đọc cũng thấy, tôi phục nhất ông ở tác phẩm «Mấy vấn đề về phương pháp tìm hiểu, phân tích thơ chủ tịch Hồ Chí Minh» được giải thưởng nhà nước năm 2000, và lại càng phục sự sáng suốt minh mẫn của hội đồng giám khảo, đã có mắt tinh đời, nhận ra cuốn sách đặc sắc của Nguyễn Đăng Mạnh.

Phục, vì những kẻ ngoại đạo như tôi thường không dám lạm bàn đến văn thơ bác Hồ. Muốn tìm hiểu văn chương của lãnh tụ, chúng ta đã có cả một ngân khố nghiên cứu phong phú về Bác Hồ học, đủ mọi nhà, từ Hoài Thanh, Đặng Thai Mai, đến Chế Lan Viên,Tố Hữu, ... chẳng kém gì ngành Việt Nam học ở nước ngoài. Nhưng cuốn sách nhỏ của Nguyễn Đăng Mạnh vượt lên trên tất cả kinh điển của các vị tiền bối và hậu bối, nếu dùng lại chữ của Nguyễn Đăng Mạnh thì đó là những "tiếng mai sau": viết cho hiện tại và tương lai.

 

Vì cho rằng thơ bác Hồ sáng như ban ngày, nên văn ông khi bình thơ bác cũng sáng lắm. Đọc ông, ta thấy rõ tất cả những chất thơ, chất thép trong thơ bác, rạch ròi, đâu thơ, đâu thép, và những tư tưởng cô đọng nhất, trữ tình nhất của bác khi trong tù, khi Pác-Bó. Bình bài Tức cảnh Pác Bó, Nguyễn Đăng Mạnh đã vận dụng phương thức phê bình kinh điển một cách tài tình. Jakobson và Lévi-Strauss phân tích bài Les chats của Baudelaire cũng không thú vị bằng. Họ trí thức quá, kỹ thuật quá, bài viết của họ khô khan như những công thức toán học, trong khi Nguyễn Đăng Mạnh bù khú, uy-mua, bình dân hơn, rất hợp với tinh thần dân dã, công nông trong thơ bác, nói lên cái chí khí của bác.

Không chỉ bình thơ mà họ Nguyễn còn dựng lại cả khung cảnh sống của bác Hồ. Tại Pác-Bó, Nguyễn vẽ cái hang, đặt lại bài trí, Nguyễn đi lại, ra vào trong hang, Nguyễn bảo phải gọi nó là cái hốc mới đúng, rồi Nguyễn ra cửa phóng mắt, bách bộ vài trăm mét để có tầm nhìn xa, Nguyễn so sánh cảnh ở ẩn ngày xưa của các cụ với cảnh ở ẩn ngày nay của bác. Không một vị trí, mưu lược, chiến lược, giả thử, giả thiết, góc độ, tọa độ, nào mà Nguyễn không thử. Nguyễn nếm rau, nếm cỏ, đi vào cõi mộng hư hư thực thực của bác, Nguyễn đưa mỗi chữ của bác ra để nhìn, ngắm, cảm, hiểu, lũy, tích, phân -tôi cam đoan chưa một nhà ký hiệu học nào có thể đi xa đến thế- và cuối cùng, Nguyễn đã tóm kết thơ bác thành một tổng hợp vô cùng phong phú. Nguyễn cũng không quên trích dẫn các vị hàn lâm đã bình thơ bác như thế nào, thầm nói lên cái thiếu vắng trong ngôn ngữ phê bình của các bậc tiền bối.

Nguyễn Đăng Mạnh là nhà nghiên cứu bác Hồ một cách đầy đủ và chân thực nhất mà chúng tôi có dịp đọc từ trước đến giờ. Nhưng bí quyết tìm thấy sợi chỉ đỏ trong thơ bác Hồ đến từ đâu?

Có phải Nguyễn hơn người vì đã tự hoà mình trong sự vui vẻ phóng túng của vị nguyên thủ lúc làm thơ, thấm được được cái vui, cái phóng túng ấy, hay chính nhờ cái duyên thầm, nhờ đôi mắt sáng có đuôi, nhờ cái miệng mỉm, những ký hiệu của một thần thái khác thường, mà Nguyễn đã có thể cảm thông sâu sắc với thơ bác hơn các vị chức sắc, cao hàm kia, họ quá trịnh trọng, không biết cười, mắt không có đuôi, lại ít sáng, nên dù được ở gần mặt trời mà vẫn không lãnh hội được ánh sáng?

*

Lâm Ngữ Đường kể một chuyện về Kim Thánh Thán đại để như sau: ông này tự đặt hiệu là Thánh Thán (nghiã là tiếng thở dài của Thánh) vì theo ông (Thánh Thán), lúc ông sanh ra, ở miếu Khổng Tử trong làng bỗng phát ra một tiếng thở dài bí mật.

Chuyện của họ Lâm và họ Kim thì chịu không biết ai bịa. Nhưng có một điều rất lạ: khi đọc hồi ký của một số vị tiền bối, kể cả những bản "di cảo" với những lời xám hối rất lâm ly, hoặc khi đọc nhật ký của chư vị liệt sĩ, kể lại những cảnh sa trường máu lửa, với những hy sinh cao cả của liệt vị anh hùng, lắm chỗ bi đát, hùng tráng lắm, vậy mà - dù đang xúc động với những tang thương ngẫu lục như thế - bên tai chúng tôi bỗng lại nghe thấy tiếng thở dài bí mật của Khổng Tử... Còn khi đọc hồi ký Nguyễn Đăng Mạnh, tuyệt không nghe thấy tiếng Tử thở vắn thở dài. Té ra thày Mạnh không bịa tý nào (chúng tôi cũng đã thử điều tra hư thực bằng cách hỏi một vài bạn đồng nghiệp trong nước về những điều Mạnh viết, thì được khẳng định chắc nịch "trăm phần trăm"). Thế mới chết. Ở cái chỗ mình đang mong thày Mạnh nói bịa như thày Lâm, thày Kim, thì không. Thày Mạnh luôn đánh trúng chỗ mình đuối nhất, không ngờ nhất.

*

Nhiều nhà đạo đức chê Mạnh là nhà giáo nhân dân, đường đường một đấng... mà lại "hạ mình" viết "hồi ký", thứ hồi ký thấp kém, rặt chuyện thị phi, nghe người này kể, người kia mách, toàn chuyện tầm phào, không xứng miệng người... quân tử!

Chê như vậy là rành... luân lý nhưng không mấy sành... văn.

Bởi văn chương không có sang hèn, không phân giai cấp, không chiếu trên chiếu dưới. Văn chương khác y phục, càng không phải lễ nghiã, bài vị, mâm cao, mâm thấp, hạng nhất, hạng nhì: Kẻ bình dân, thậm chí ăn mày có thể làm thơ sang trọng, biếm vua. Bị bắt, có thể phải chết, nhưng vua chỉ cắt được đầu hắn, chẳng vua nào "sai bảo" được văn chương hắn. Những điều vua áp dụng trên thân xác hắn không có tác dụng gì trên văn chương hắn. Văn chương đích thực luôn nhởn nhơ bay. Chỗ nọ cấm, chỗ kia in. Chỗ này chôn, chỗ kia quật. Văn chương đích thực là một thực thể ngoài lằn ranh: kẻ đạo đức vẫn có thể viết truyện liêu trai, nhà giáo có thể kể chuyện thị phi, miễn sao "lọt tai độc giả".

 

*

Lại có người bảo viết hồi ký thì phải cho ra hồi ký, phải trúng cách hồi ký. Nói thế là hơi... chấp. Hồi ký chỉ có nghiã hồi tưởng lại quá khứ mà viết, tức là viết chuyện quá khứ có mình, có người. Còn cách viết hồi ký như thế nào, xưa nay chưa ai dám xác định.

Nguyễn Đăng Mạnh dựa trên những điều ghi được, nhớ được, đôi khi nghe người này người kia kể về một nhân vật, một hiện tượng. Có chỗ ông nói quá, ghi sai, nhưng hồi ký không nhất thiết phải đúng 100%. Bởi không ai xử dụng hồi ký làm tư liệu chính xác nghiên cứu mà nếu dùng cũng chỉ để so sánh với những nguồn tư liệu khác.

Hồi ký cũng không phải cứ lột mình ra viết mãi, hết cuốn này sang cuốn khác, mà xong. Viết như vậy là bán mình trong sự bịa. Người đọc hồi ký không ngu, tới mức nào đó thì người ta không tin nữa, vứt sách đi. Viết hồi ký cũng giống như viết truyện hư cấu: phải làm sao cho người đọc thấy được sự thật bật ra trong tác phẩm.

 

Sự thật ấy là gì trong cuốn hồi ký của Nguyễn Đăng Mạnh?

Sự thật ấy không phải là cái đúng, cái sai khi tả Xuân Diệu thích ăn ngon, khi kể chuyện ai đó đi giật lùi trước mặt Tố Hữu.

Sự thật mà chúng ta đòi hỏi là Nguyễn Đăng Mạnh có tái tạo được chân dung những vị quan lớn... qua những chuyện thị phi, những nét biếm, nét thậm xưng, mà người ta đồn nổi, đồn chìm đó không?...

Sự thật ấy là Nguyễn Đăng Mạnh có tái tạo được bối cảnh văn trường nửa sau thế kỷ XX với những luồn cúi, những tiến thân, những bầy nhầy, nhếch nhác.

Sự thật ấy là qua cách biếm họa chân dung những nhà văn nổi tiếng, Nguyễn Đăng Mạnh có phác thảo được bộ mặt văn học thời ông sống hay không?

Thích hay không thích, tùy quan điểm của người đọc, nhưng dứt khoát hồi ký Nguyễn Đăng Mạnh là một phụ bản của đời sống văn học, là sự kết hợp giữa sáng tác và phê bình, giữa ánh sáng và bóng tối.

*

Người phê bình thường không mấy khi sáng tác, vì một số lý do:

Phê bình không sáng tác vì đã khen chê người khác, dại gì để người khác khen chê mình?

Phê bình và sáng tác là hai địa hạt khác nhau: viết phê bình phải học, đọc kiểu phê bình, phải nghiền ngẫm các lý thuyết văn học, triết học, ngôn ngữ học, ký hiệu học, v.v... toàn những học là học, rất khó nhai và không hứng thú. Trong khi viết văn không nhất thiết phải đọc những thứ khó tiêu này, nay lẩy dăm ba câu Kiều, mai vài điệu Xuân Hương... đại khái đọc gì cũng được, tùy sở thích.

Phê bình phải đọc những thứ khó nhai để dựng kiến thức "vĩ mô", nhưng cũng không thể bỏ qua mớ kiến thức "vi mô", tức là những chuyện "tầm phào", kiểu: nhà thơ X thích ăn gì? Có mấy cô bồ? Bài thơ này làm tặng ai?... nên, tuy bề ngoài phê bình có vẻ trí thức, đạo mạo, nhưng bên trong hắn bị nung nấu bởi những thông tin thượng vàng hạ cám, óc hắn rối bời như mớ bòng bong, không còn "tâm địa" để sáng tác. Nói trắng ra kẻ phê bình luôn luôn bị trói chân trói cẳng, hắn phải theo đúng "đường lối" của chính hắn đề ra: tức là phải tìm cho được cái sườn tư tưởng của nhà văn, theo quy định mỹ học mà hắn đã lựa chọn.

Tất nhiên nếu bí quá, không nghĩ được gì độc đáo, hắn sẽ ba hoa chích choè, viện dẫn mớ lý thuyết học lóm hoặc "chạy nước rút", để lòe bịp độc giả, nhưng không bao giờ hắn có thể qua mắt được bọn thức giả, bọn đồng nghiệp đích thực.

Hồi ký Nguyễn Đăng Mạnh phối hợp cả hai tầm kiến thức "vi mô" và "vĩ mô" ấy trong cùng một ngòi bút, là cuốn sách bình dân thông tục do một trí tuệ quen lập luận bác học viết ra. Đó là điểm lạ và hấp dẫn của tác phẩm. Và vì thế nó được đồng nghiệp nể.

 

*

JP Sartre ví kẻ phê bình như một tên gác nghiã địa. Nghèo đói, vợ con nheo nhóc, luôn luôn bị vợ chửi vì kiếm không đủ tiền nuôi gia đình. Mụ chửi vì mụ chẳng thấy những xâu chữ rủng rỉnh của hắn bán được đồng xu nào, chỉ đem lại những phiền nhiễu, khốn nạn. Mụ xỉa xói, đôi khi thượng cẳng chân hạ cẳng tay. Mụ hát như hát hay, những lý lẽ của mụ, hắn không bao giờ cãi lại được, mặc dù hắn là kẻ chuyên biện luận. Muốn thoát cõi trần ai khổ ải, hắn chỉ có cái thú duy nhất: trốn vào thư phòng, lật vài trang sách, tìm sự cứu rỗi: bao nhiêu con chữ nằm chết khô trong sách, chỉ đợi đôi mắt sáng của hắn rọi vào là chúng sống dậy, nhẩy múa tung lên, chúng cho hắn niềm vui và hạnh phúc, chúng đưa hắn phiêu lưu hết tinh cầu này đến vũ trụ khác, bọn bạn ma chữ ấy lai tỉnh, nói chuyện với hắn như gạo rang, và như thế hắn thoát khỏi cõi đời phiền toái...

 

Người Pháp rất hóm hỉnh, khi muốn nói xỏ kẻ nào đó, là khùng, họ không chỉ thẳng mặt kẻ đó mà bảo mày khùng, làm thế vô phép và dễ gây án mạng; họ dùng ngón trỏ, chỉ vào thái dương mình, xoáy tít mấy cái. Nếu xoáy trước mặt đối phương như thế sẽ không ổn, họ bèn đợi lúc kẻ kia quay đi, mới dí tay lên lên trán mình, chỉ có "cử tọa" thấy mà thôi. Cái lối gây sự kín đáo, nhã nhặn, lịch sự, như thế, người Pháp tuyệt hảo. Người mình chắc chắn không thèm làm như vậy, vì mình vốn được tiếng là một dân tộc anh hùng, mà đã anh hùng thì không thể làm cái cử chỉ ám lậu, lén lút, sau lưng như thế. Người mình tuyên chiến với nhau đường đường chính chính, ba mặt một nhời, dân ta đầy ắp chiến thắng trên khắp mình mẩy đất nước, nhiều vết sẹo để đời. Còn Pháp, may ra có vài trận đánh tép riu trên lãnh thổ, Napoléon cả đời đánh giặc trên đất người, chẳng để lại vết sẹo to nào trên giải đất lục lăng. Cá tính các dân tộc khác nhau là như thế.

 

Léo Spitzer, một nhà phê bình lớn của Đức kể lại một chuyện lý thú: hồi còn là sinh viên khoa bác ngữ học (philologie) ông bị nhồi nhét nhiều thứ lý thuyết, nhưng rút cục, về môn Pháp văn, ông chỉ biết đại khái là nếu tiếng la tinh có a, ta thay e vào thì ra tiếng Pháp... chứ còn bao năm học, thày chẳng dạy gì về người Pháp cả. Mãi đến khi một đoàn kịch Pháp qua diễn tại thành Vienne, Spitzer đi xem: mở màn ra thấy một tay Majordome (quản gia nô trong các nhà quyền quý) trịnh trọng nện cán gậy xuống sàn ba cái, cất giọng rổn rang hô "Madame est servie!" (Rước Bà Lớn nhập tiệc!). Spitzer mới ngộ ra cái dí dỏm khôi hài trong tính tình người Pháp, và từ đó ông dẹp tiệm ba cái bác ngữ học lôi thôi vô bổ để đọc thẳng tiểu thuyết Pháp và nghiên cứu Rabelais, nhà văn cự phách, đặc biệt khôi hài. Như vậy đủ biết tiếng cười hiếm quý như thế nào.

*

Dông dài như vậy là để giải thích tại sao tôi phục ông Mạnh. Ông dạy học suốt đời, ông là nhà giáo nhân dân. Ở địa vị cao quý như thế trong nước Việt Nam, chắc chắn ông phải đạo mạo, phải đứng đắn như... Khổng Tử. Nhưng ông lại không vậy, ông lại biết ... cười.

Tôi thấy thầy Mạnh không mấy thầy, mà lại rất... pháp.

Khi ông sang Pháp, tôi có được tiếp, nghe chuyện ông cả ngày không chán. Mà không phải nghe chuyện ai mình cũng thú đâu, nhiều người nhạt như nước ốc mà lại thích thao thao, ta đành chịu trận.

Nghe chuyện thày Mạnh khoan khoái cả "tinh thần" lẫn "vật chất", bởi ông là một nhà giáo chính hiệu xã hội chủ nghiã mà lại pha trộn cái duy tâm với cái duy vật một cách tài tình. Thí dụ về Xuân Diệu, ông đang mô tả Xuân Diệu làm cơm như thế nào, thích món gì, thèm món gì, "đột xuất" ông quẹo sang thơ Xuân Diệu, sang cuộc đời tình ái của Xuân Diệu, không thèm "chuyển đoạn" gì cả. Lối kể của ông luôn luôn như đánh du kích. Ông kể chuyện Trần Dần bị bắt, bí mật giật gân như xem phim trinh thám.

Trong suốt thời gian ở Pháp, ông không hề "tâm sự" về vụ hồi ký hồi kiếc gì. Có lẽ vì ông dư biết người ta viết chán ra rồi, bấy lâu nay đang có sự lạm phát hồi ký, loạn di cảo, nên ông chả dại đem con đi bán chợ giời.

Nhưng đùng cái ông đổi ý. Một hôm, tôi nhận được cuốn... hồi ký của thày Mạnh qua Email học trò ông gửi. Lần thử vài trang, không ngờ bị "ông bắt" đọc một mạch đến hết, vẫn còn ngẩn ngơ, giật mình. Hoá ra những mảnh chuyện ông kể như chuyện tầm phơ, như chuyện tiếu lâm, bây giờ đã "lên sách" "trăm phần trăm". Lại một lần nữa ông "đột xuất" vào những chỗ mình không ngờ nhất. Thế mới phục. Điện thoại hỏi ông: Anh viết để dành sau khi quá cố hả ? Ông cười bí mật không trả lời.

 

*

Trong hơn 40 năm ở Pháp, tôi có đọc ít nhiều tiểu thuyết Pháp, nhưng phục họ thì không bao nhiêu, bởi ngẫm lại nước mình cũng nhiều nhà văn hay lắm, chẳng kém gì Pháp. Thơ Hugo sao bằng thơ Nguyễn Du. Le Clézio, giải Nobel 2008, cũng vào loại "thường thường bậc trung" thôi: ông du lịch nhiều, thế giới Trung Mỹ dẫn ông vào những nền văn minh da màu bị người da trắng tiêu diệt, ngòi bút ông trăn trở một thứ "tự vấn đớn đau" (conscience malheureuse, chữ của Sartre) và ông muốn trở thành cái "lương tâm tự hối" của người da trắng trước các nền văn minh da màu bị phá huỷ. Tư tưởng cao đẹp ấy xứng đáng lãnh Nobel. Nhưng đọc kỹ ông, vẫn thấy như có một cái gì đó chưa thật: ông vẫn chỉ là người đứng ngoài, nhìn cái khổ đau của thổ dân da màu.

Cho nên, tuy Le Clézio viết về những huyền thoại của họ một cách rất thơ mộng, nhưng không thể bằng Asturias (Nobel 1967) kể lại huyền thoại ngô của người Mayas, không thể bằng Phạm Duy Khiêm viết truyện Trương Chi, kể truyện Trầu Cau, không thể bằng Nguyễn Tiến Lãng viết Thiếu phụ Nam Xương được, bởi Le Clézio chưa đi sâu vào da thịt của các nền văn minh ấy, vì muốn thấm nhuần một nền văn minh, xem chừng phải sống đến... ba đời. Trường hợp mới học tiếng Pháp mấy năm mà đã viết văn bằng tiếng Pháp như các ông Kundera, Cao Hành Kiện, đều không mấy thành công: Những gì họ viết tiếng Pháp không thể bằng những tác phẩm viết tiếng mẹ đẻ; kịch phi lý của Cao Hành Kiện rất nhạt vì thiếu uy-mua Pháp.

Rabelais là bậc thày hài hước, là tinh anh của uy-mua Pháp.

Nguyễn Đăng Mạnh cũng rất có uy- mua, uy-mua Việt. Không chơi chữ, không vòng vo tam quốc, ông vẽ chân dung. Khôi hài. Trực tiếp. Biếm hoạ. Giao thoa con người và tác phẩm như một hình thức mới kết hợp phê bình và sáng tác, ngoại trường quy, trên húy kỵ, đánh đổ thần tượng. Ông đi vào sáng tác như một phù thủy cao tay, nhào lộn phê bình trong hồi ký qua ngả hài hước. Bất cứ nhà văn nào trong đám tác giả ông đã nghiên cứu, sống lại, đọc hồi ký của ông cũng phải giật mình, thấy mình bị cướp cờ, bởi ông đã vẽ được bộ mặt "nhếch nhác" của họ và của môi trường họ đã sống, với nụ cười rất hóm, rất Pháp.

Ở đấy Nguyễn Đăng Mạnh chính là thày Mạnh, dẫn đường cho lớp trẻ đi sau, dám viết, dám làm.

Thụy Khuê

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
16 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 73721)
H iệp ước sơ bộ 6/3/1946 [Convention priliminaire de 6 mars 1946] là văn kiện ngoại giao đầu tiên ký giữa Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa [VNDCCH] với đại diện Cộng Hòa Pháp tại Đông Dương, qua trung gian chính phủ Trùng Khánh. Mặc dù chỉ có tính cách tạm thời, văn kiện này công nhận sự hiện hữu của VNDCCH. Nó chính thức cải biến, nói theo các viên chức Bri-tên và Pháp, một thực thể chính trị “sinh ra trong hỗn loạn” thành một chính phủ lâm thời, của một “nước tự do” [un état libre] “có quốc hội, quân đội, tài chính và ngoại giao riêng,” nằm trong Liên Bang Đông Dương và Khối Liên Hiệp Pháp.( 1)
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 79908)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
21 Tháng Tám 201112:00 SA(Xem: 76047)
P hật giáo đã đồng hành cùng dân tộc gần hai nghìn năm qua, có những đóng góp quan trọng không chỉ trong sự phát triển văn hóa dân tộc, mà còn trong công cuộc kiến thiết và bảo vệ đất nước thời kỳ đầu quốc gia tự chủ vô vàn gian khó... nhận thức rõ hơn cái “nhiệm trọng đạo viễn” của mình trước đất nước và dân tộc, chứ không phải chỉ biết chăm chú xây chùa đúc tượng...
17 Tháng Bảy 201112:00 SA(Xem: 78328)
Đ ây là bài viết thứ ba, đề cập tới nhu cầu xây dựng các hồ chứa nước ngọt từ hai vùng trũng thiên nhiên Đồng Tháp Mười và Đồng Cà Mau nhằm giữ lại được phần nước đổ xuống từ thượng nguồn và cả lượng nước mưa hàng năm, đáp ứng nhu cầu khẩn thiết về nước uống, phục vụ canh tác và kỹ nghệ cho ngót 20 triệu cư dân ĐBSCL thay vì đổ phí ra Biển Đông qua các cửa sông. Quan trọng hơn thế nữa là bảo vệ được các tầng nước ngầm / underground aquifers ngăn đất sủi phèn đưa tới acít hóa toàn vùng đất đai ruộng vườn.
06 Tháng Năm 201112:00 SA(Xem: 79592)
Đ ây là bài viết thứ hai, trong số 3 bài viết về tương lai Đồng Bằng Sông Cửu Long “Nhìn Xa Nửa Thế Kỷ Tới” . Bài thứ nhất, như một tổng quan, với nhận định: thủy điện vẫn là nguồn năng lượng rẻ nhất, do nhu cầu phát triển, những bước khai thác thủy điện trên sông Mekong, cho dù mau hay chậm, trước hoặc sau, thì đó vẫn là một tiến trình không thể đảo nghịch trong vòng nửa thế kỷ tới.( Ngô Thế Vinh )
01 Tháng Tư 201112:00 SA(Xem: 63839)
T ừ ngày 7/3/1975, khi Văn Tiến Dũng bắt đầu cô lập Ban Mê Thuột, tới ngày 30/4/1975, khi Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, vừa chẵn 55 ngày. Thật khó ngờ chỉ trong vòng 55 ngày và 55 đêm mà đạo quân hơn một triệu người–có hơn phần tư thế kỷ kinh nghiệm tác chiến, với những vũ khí khá hiện đại như Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa [VNCH]– bị sụp đổ hoàn toàn [...] Những hình ảnh điên loạn mà ống kính các phóng viên quốc tế thu nhận được chẳng khác cảnh vỡ đê trước con nước lũ, hay sự sụp đổ của một tòa lâu đài dựng trên bãi cát, khi nước triều dâng lên.
22 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 68368)
T rước năm 1975, mỗi dịp Tết âm lịch, văn gia và dân chúng miền nam thường làm lễ kỷ niệm chiến thắng Tết Kỷ Dậu (31/1/1789) của Quang Trung Nguyễn Huệ (1753-1792). Đây là một trong những võ công vệ quốc lịch sử của dân tộc Việt chống lại âm mưu thôn tính của bắc phương từ ngày giành được độc lập năm 939–sau khi Ngô Quyền (898-944) phá quân Nam Hán ở sông Bạch Đằng (theo Nguyễn Trãi, còn gọi là sông Vân Cừ), khai sinh ra một vương quốc mới, tức Đại Việt (từ năm 1054) hay Việt Nam (từ năm 1804). (1)
17 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 36180)
P etrus Key (sau này sửa thành Trương Vĩnh Ký) thường được ca ngợi là một học giả lớn miền Nam. Ông cũng có công quảng bá loại tiếng Việt mới, tức quốc ngữ hiện nay mà các giáo sĩ Portugal và Espania đã sáng chế vào thế kỷ XVII. Tuy nhiên, Petrus Key cũng đóng một vai trò đáng kể trong cuộc xâm lăng Việt Nam của Pháp.
12 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 74184)
TCHL xin giới thiệu một biên khảo mới của GS. Nguyễn Phạm Hùng tại Đại học Quốc gia Hà Nội về Nguyễn Công Trứ, dưới mắt nhìn mới, khác biệt với thành kiến bấy lâu.
06 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 32525)
K hông ít người–kể cả giới trẻ Việt Nam ở hải ngoại–đã và đang tìm hiểu về “một thời” từng tồn tại của VNCH. Bài viết của Dương Nghiễm Mậu trên Hợp Lưu 111 là một trong những tư liệu quí, hiếm, góp phần trả lại cho nền văn học nghệ thuật Miền Nam vị trí đích thực trong lịch sử.