- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

MỘT CHUYẾN ĐI

01 Tháng Chín 20224:24 CH(Xem: 37030)
Đêm tháng tư, sơn dầu trên bố, 80x100cm. 2022
Đêm Tháng Tư,sơn dầu trên bố,
80x100cm. 2022.
-Tranh Lê Minh Phong

 

 

Nguyễn Thanh Sơn

MỘT CHUYẾN ĐI

 

                 Ông  kể,  ông đã đến nơi này hơn năm mươi năm về trước, thời mà  ông còn là chàng trai hai mươi tuổi. Với đôi chân  trai trẻ, ông đã xẻ dọc trường sơn đi cứu nước. Người ta thường nói “ chân cứng đá mềm” thì đúng đã rơi vào trường hợp của  ông  Trần Duy. Ngày ấy, chàng đã đến nơi này bằng đôi chân khỏe , dẻo dai, đã băng rừng vượt suối , len lỏi vào tận rừng Trường Sơn ngút ngàn đá, ngút ngàn cây, ngút ngàn những vắt và muỗi mòng, đi giữa cái sống và cái chết. Ông kể với tâm trạng đầy tự hào về một giai đoạn mà cuộc đời con người khó có lần thứ hai. Nơi mà bây giờ, tôi và  cụ Duy, chỉ qua một đêm đã đến được nơi này.

    Duy đã biết cầm súng khi còn nhỏ tuổi, là du kích địa phương với cái súng trường dài loằng ngoằng bằng với chiều dài của chính nó, đã đứng vào hàng ngũ của tổ chức, luôn được giao một nhiệm vụ đặc biệt trong thời kỳ đất nước bắt đầu có chiến tranh. Trong thời buổi này, cái tuổi tác không thành vấn đề, không đáng quan tâm. Cái quan trọng là, đã là người của tổ chức thì phải luôn luôn giữ ý vững ý chí chiến đấu, luôn trang bị một niềm tin vững vàng dù ở bất cứ tình huống nào.

                Câu chuyện của năm mươi năm về trước quả là rất dài so với một đời người. Đời người trôi qua thật chóng vách, ngoảnh lại thoắt chốc đà năm mươi năm. Bây giờ tôi đã trở thành người lớn  tuổi, còn ông đã  là cụ. Với tôi, tiếng cụ nghe sao thật trống trải, như bóng câu thoáng qua khung cửa sổ , như một nỗi niềm lớn lao  đè nặng lên một kiếp người. Chữ cụ được hội người cao tuổi địa phương trao tặng khi ông vừa tròn bảy mươi tuổi.

Khiếp thật! tuổi tác của con người là gánh nặng của cuộc đời.

                Những hồi ức xa xưa luôn luôn trúc trực tâm trí của cụ  Trần  Duy. Hễ có dịp được trò chuyện cùng với ai , có người muốn nghe là cụ lại xoáy câu chuyện của những năm mươi năm về trước. Hồi ấy, nào là..nào là.. Cái thời vinh quang đến thế, cái ý chí chiến đấu của thằng đồng chí  nhỏ tuổi, vác cái súng trường dài loằng ngoằng bằng chiều dài thân mình nó. Nó kéo lê kéo lết cái súng từ đầu làng đến cuối xóm, xông xáo vào tận cùng ngõ ngách mà các đồng chí lớn tuổi chỉ biết đứng đắng xa mà nhìn bằng cái ống dòm, mà chỉ đạo nó nên là thế này hay  thế khác. Giữa cái sống và chết nó coi như đồ xa xỉ, xem tựa lông hồng. Với những kẻ nhát gan, nó coi như đồ bỏ. Các đồng chí lớn tuổi luôn truyền kinh nghiệm cho nó:. “Hãy giữ vững ý chí chiến đấu!”

Năm mươi năm trôi qua, thời gian quả thật là dài so với đời người, nhưng thật quá ngắn với chiều dài lịch sử. Với vòng quay của vũ trụ, nó chỉ là một sát na của thời khai thiên lập địa, thời hồng hoang, thời tổ tiên ta còn ăn lông ở lỗ, thời mà các cụ khi ta còn đi bốn chân đến khi chúng ta, tức là con cháu các cụ luôn hãnh diện, tự hào về cái đầu vĩ đại của mình. Sau những năm là du kích địa phương, ông đã đến đây, trên ngọn đồi này bạt ngàn nắng gió, bạt ngàn cây. Cái xứ sở từng đã sản sinh những con người vĩ đại, sinh ra nhà thơ lúc sinh tiền than thở rắng : Bất tri tam bách dư niên hậu/ Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như”.   Quả thật,   ba trăm năm sau người ta vẫn còn tôn vinh . Những nhà tiên tri, nhà tư tưởng đã truyền sức sống, lòng yêu nước mãnh liệt đến với đồng chí mình, coi cái chết như món đồ xa xỉ.

   Chàng Duy  đã trở thành đàn ông chỉ sau năm đêm ân ái  cùng  vợ, chàng rủ bỏ mọi thứ để lên đường tập kết ra Bắc. Chàng từ giã cô vợ trẻ để đi theo tiếng gọi của tuổi trẻ, tiếng gọi của non sông với lòng nhiệt huyết tràn đầy. Ôi! Hai tiếng non sông sao mà kiêu hùng quá thể,  kích động tâm lý mọi người hừng hực ngọn lửa đấu tranh giai cấp, muốn đạp bằng tất cả để thỏa chí làm trai.

Một đêm không trăng  sao,  trong bóng tối mờ mờ nhân ảnh , chàng khoác áo chiến binh ra đi, bỏ cô vợ trẻ mỏng tanh mỏng dánh ở lại quê nhà, vò võ một mình chỉ sau năm đêm ân ái. Năm mươi năm rồi, ngồi nghĩ lại, tôi cố tưởng tượng hoàn cảnh ấy, cuộc chia ly nghìn trùng xa cách, cái bịn rịn của lòng người, nước mắt  và cái hôn dài như thế kỷ .

Dream me, ôi giấc mơ ngọt ngào của tôi.

 

****

 

                Tôi nắn nót một cái tên cho nhân vật nữ, người đàn bà hai mươi tuổi, chỉ sau năm đêm ân ái mặn nồng. Cưới nhau xong là đi, những tưởng vài ba năm rồi trở về, thế mà chàng đi biệt những  mấy mươi năm. Ôi cha mẹ ơi! Cuộc đời quả thật là ngắn ngủi, năm đêm so với ngần ấy  mươi năm .

Cô vợ trẻ, tôi đặt cho cô ta một cái tên. Tôi tìm trong kho dữ liệu bảo tàng dân tộc học, ngôn ngữ học để chọn một cái tên. Bởi cái tên, nó không chỉ là cái tên mà là biểu hiện một tính cách, một ước mơ, một hoài bão, một  kỳ vọng lấp la lấp lánh của một đời người. Chính vì điều đó, buộc tôi phải suy nghĩ.

Tôi mãi suy nghĩ mênh mang cái tên nhân vật nữ của mình, sau nhiều đêm, tờ giấy trắng mịn màng vẫn nguyên tờ giấy trắng. Con thằn lằn bám vào vách nhà tôi, nó đang tặc lưỡi. Tôi dí tay vào cái đuôi nó, nó quằn quại cố thoát thân, nó hy sinh cái đuôi để tìm lấy sự sống, cái đuôi đó cứ run rẩy dưới ngón tay tôi. Con thằn lằn cụt đuôi cứ mãi vướng víu vào tâm trí tôi, ám vào đó như một hình ảnh xấu xí, một con vật dị hợm nhất mà tôi đã từng gặp.

Thời ấy, cô ta vừa tròn hai mươi tuổi, đẹp mặn mòi so với các cô làng tôi, phải nói rằng cô ta nổi bật giữa đám con gái vùng sông nước.

Quê tôi, vùng sông nước, đồi gió hú, cát cứ nhảy ào ào khi gặp mùa gió chướng, nó chảy thành dòng nên khi gặp chướng ngại cát tạo thành gò , thành đồi cát. Cái địa hình, địa giới như thế đã tác động nhiều đến hình thể các cô gái ở làng tôi. Cái thân rám nắng, cái bộ ngực luôn đùn đẩy, căng tròn . Nên, khi đi cứ luôn núng nẩy về phía trước như thách thức, như khêu gợi , như ru ngủ cánh đàn ông. Ấy là do hoàn cảnh, địa hình địa thể nó tạo ra vóc dáng.

 

Lại đêm nay, cái con thằn lằn cụt đuôi bám riết vào vách tường nhà tôi, đang nhướng mắt nhìn tôi.

Không biết năm ấy tôi bao nhiêu tuổi. Năm ấy, năm 196 mươi mấy, tôi bao nhiêu tuổi, cái trí nhớ trong trẻo của một thằng con nít. Cô ta nằm đấy, ngay ở giữa chợ với cái đầu tóc nham nhở như chó gặm, đầu tóc của cô ta bị người vợ cả đánh ghen, một nửa bôi tro, một bên trét trấu. Máu Hoạn Thư mới đáng sợ làm sao. Bà ta nắm tóc, vật cô ta ngả ở trước cổng chợ, vừa đánh, bà ta vừa hét toáng lên là phải đánh cho tan, dày cho nát cái mụ đàn bà thúi thây dám cướp chồng người khác. Bà ta nắm tóc, vừa giật , vừa xé không từ một bộ phận nào của cơ thể cô ta. Quần áo thì nát be nát bét, rách tơi tả phơi cái đỏ lòm lom trước cổng chợ đời..Nhà tôi ở xa chợ, thế nhưng cái tin của cô ta, người con gái hai mươi tuổi, đoan trang , dung hạnh, lại có tiếng xinh đẹp nhất làng, bị phơi bày ra giữa chợ lan ra rất nhanh, nhanh như một tia chớp, tỏa mùi khắp làng xã.

                Lại con thằn lằn cụt đuôi vẫn bám vào tường như những đêm nào. Nhưng đêm nay, tôi thấy cuối xương cụt đã chòi ra khỏi thân đôi chút, nhú lên dần dần. Nó nghểnh đầu mà cười cợt với tôi, như  thầm thỉ  “xấu mặt thì lâu xấu đầu mấy lát”. Mái tóc của cô ta bị cạo trọc như chó gặm. Nhưng với sức trẻ , tuổi đang căng tràn nhựa sống, nó sẽ xanh tươi như ngày nào. Nhưng với nỗi đau thì vẫn còn đó, âm ỉ biết lúc nào ngơi với cái bụng của cô ta, ngày một nở nang như thách thức với thói đời, luật lệ khắc nghiệt của làng xã.

 

Làng tôi, những năm đó chiến tranh ác liệt.  Bên kia sông là đồn lính Bảo An trú đóng. Ban ngày , những anh lính Bảo An giữ gìn trật tự an ninh xóm làng. Lúc đêm về, nhường lại cho đội quân du kích địa phương tắc cụp đùng xòe.

  Thiếu úy Cát, trưởng đồn lính Bảo An ở đầu thị trấn. Chàng có khuôn mặt đẹp trai, dáng dấp trắng trẻo  thanh nhã con nhà giàu học giỏi thành phố. Nhìn điệu bộ, lối sinh hoạt  của chàng chỉ thích hợp ở trường đại học hay một văn phòng giao dịch nào đó dưới bóng đèn nê ông bóng lộn , hơn là cứ đêm đêm căng mắt nhìn  từng đốm sáng hỏa châu rơi. Tuổi thơ tôi cứ rong ruổi theo chàng thiếu úy này bắn chim sẻ bằng khẩu carbin , báng súng bóng lộn có khắc hình trái tim. Không biết trong thời binh nghiệp, chàng ta có bắn rụng trái tim con chim sẻ nào ở làng tôi.

  Lại nữa, anh du kích quả cảm làng tôi, Tám Lý , người có tài  thường hay sinh tật.  Anh yêu nước đến độ cuồng yêu, luồng sâu vào vùng địch để tìm và diệt, sẵn sàng hy sinh tính mạng thực thi trách nhiệm được giao.  Thời bình,  với thành tích  ấy, anh ta xứng đáng được phong anh hùng, nhưng  đạo đức của anh ta quá kém. Những người đàn bà nào vừa mắt thì khó thoát được móng vuốt của con yêu râu xanh .

 Cô  gái xinh đẹp ở làng tôi, hai mươi tuổi, làm người đàn bà được năm đêm. Một thời đã sống lấp lửng giữa đôi bờ sáng tối !

 

***

 

                Ông   Duy và tôi đã đến nơi này, chỉ sau một đêm ngủ vùi trên chuyến xe tốc hành bắc nam. Cũng con đường đó, thời ông , đã vượt bao đoạn đường dài, qua bao đèo cao  núi  sâu ,ròng rã mấy tháng trời.

“Hãy giữ vững ý chí chiến đấu!” mỗi chữ  sơn son thếp vàng được khắc dán trang trọng trên vách bia mộ . Ngôi mộ  nằm trang trọng góc trái   ngọn đồi, bao phủ bởi màu xanh cây lá. Bước lên mộ qua những bậc đá hoa cương nhẵn bóng, nhiều bậc xây theo hình vòng cung. Ngôi mộ của vị  đó, chỉ tồn tại trên cõi đời này hai mươi bảy tuổi, hưởng dương hai mươi bảy lần.  Với câu nói đã góp phần vào cuộc cách mạng long trời lở đất “ Trí, Phú , Địa ,Hào. Đào tận gốc trốc tận ngọn”

Với lứa tuổi này, ở làng tôi có chú ăn chưa no lo chưa tới, buổi sáng ngủ nướng còn trùm chăn kín mít, còn với tay xin tiền mẹ đi cà phê mỗi sáng, còn dỗi hờn làm nũng với người mình yêu.

Có hai ngôi mộ khác đặt hơi chếch gần ngôi mộ chính, bên triền dốc, dưới rặng dương liễu, dưới bóng mát buồn hiu ru ngủ bởi nhiều tiếng chim ríu rít trong  lùm  cây. Trên hai tấm bia ghi là song thân  của vị anh hùng nhỏ tuổi kia. Trăm năm bia đá thì mòn, tấm bia đó chưa kịp mòn bởi thời chưa xa xăm là bao nhiêu, có chừng hơn nửa thế kỷ, tức là mới  độ  nửa đời người cho nên dễ đọc, dễ thấy , dễ cảm nhận được dòng chảy thời gian. Trên bia mộ có ghi thêm  là  người đó từng là quan phụ mẫu của một huyện. Một huyện xa tít tắp của thời đó, cái thời chân cứng đá mềm, đo đoạn đường dài bằng bước chân ngàn dặm. Ông ta đến nhậm chức tri huyện, cách làng tôi hơn mười dặm đường. Một bậc phụ mẫu chi dân, nơi mà tôi và ông   bắt đầu khởi hành, rồi chỉ sau một đêm ngủ gà ngủ gật đã đến được nơi đây. Tôi thật ngạc nhiên thú vị, vì bởi, ông bà gia tộc tôi đã có một thời được chính ngài đây giáo huấn, dạy bảo, được ngài bằng tấm lòng yêu dân như con để hình thành vóc dáng những người cháu chắt như tôi có ngày hôm nay.

   Hai chúng tôi đứng trên ngọn đồi. Bên hai ngôi mộ từng là quan lớn của quê tôi. Về hậu sự, trông ngài không được may mắn như con , không đức cao vọng trọng nên chỉ hưởng ơn mưa móc của đứa con mình  mà  thắp vài nén hương vọng tưởng.

 

                Theo chuyến đi của chúng tôi , có cơn bão đang hoành hành ở ngoài khơi, theo dự báo của nha khí tượng thủy văn thì cơn bão mạnh, đi nhanh và luôn đổi hướng, nó men theo ven biển mà giậm giật, mà thổi xao xát  ở ven bờ. Cơn bão theo bén gót chúng tôi trong cuộc rong chơi về đất Bắc. Nơi chúng tôi đến thì cơn bão chưa đến, bầu trời luôn vần vũ những đám mây đen, mang đến những cơn mưa bất chợt.

   “Lần bác đến đây có bị mưa không?” Tôi hỏi bác  Duy.

 

   “Cháu hỏi kỳ cục, làm sao bác nhớ  khí hậu , thời tiết  trời chợt mưa chợt nắng đó. Hôm nay trời nắng nhưng ngày sau lại mưa , mưa xối xả, mưa không nhấc chân ra nổi, đường cái , đồng ruộng mênh mông nước. Nhưng ngày hôm sau trời lại nắng, nắng rang, nắng và gió lào thổi sậm sợt !”.

   Bão chưa đến nên chúng tôi đi đây đi đó, mênh mang trên con đường nhựa thênh thang, dài ngút mắt lung linh bởi mảnh đất màu xanh huyền thoại, huyền thoại cụ thể và huyền thoại của những ngày xưa, đường Trường Sơn đông nắng tây mưa. Ngày mà hễ có dịp là ông  lại kể, tỉ mẩn kể với niềm háo hức ngày xưa cũ. Đường Trường Sơn, vượt qua núi cao, sông sâu, qua trập trùng nắng và gió, qua truông ,qua hồ, qua những bản làng heo hút. Gã tài xế còn trẻ, nom chút tài tử nên hễ có đoạn nào vắng, hai bên đường là đồng cỏ xanh rợn chân trời là gã nhấn ga, phóng xe bạt mạng, hàng cây hai bên đường vi vút như chạy theo chúng tôi, mây vẫn bám víu lấy tôi, và gió nữa, gió vi vu ngoài khung cửa kính.

Chúng tôi đến nơi này sau mùa gặt, đất đang phơi ải. Đồng ruộng mênh mông, dài ngút mắt. Đất rộng người thưa nên đi hàng giờ vẫn chưa hết cánh đồng. Hai bên đường , nhà thưa thớt, người thưa thớt, chỉ có nắng và gió thì rộng thoáng.

 

  “ Bác còn nhớ nơi này không, bác ?”.

  ” Nhớ gì được hở cháu. Năm mươi năm rồi còn gì, vật đổi sao dời dễ gì tìm được nơi quen biết cũ. Đồi này ngày xưa là đồi trọc, cỏ cây tươi tốt cho hươu nai nhảy nhót tung tăng. Bây giờ thì khác. Cây đa chỉ là cây, nhưng nơi đó người ta dựng lên ngôi miếu thì nơi đó trở nên đất linh. Trái đất này làm gì có đường, nhưng nhiều người đi lại nó thành đường thôi.”

Tôi khó diễn tả nỗi háo hức về con đường huyền thoại này, tâm hồn như trôi về những ngày xưa, theo lời kể của bác  Duy.

“Bác đến đây được một thời gian lại được lệnh  hồi kết, về nam chiến đấu. Trong một trận đánh vào thị xã  kon tum,  mắc kẹt ở đó cho đến sáng hôm sau, bên hàng dây thông hào của một trại lính, bị thương ở chân nên không thể rút về  .

 “ Rồi sao nữa ?”. “Sao là sao,  bị bắt làm tù binh chứ sao!”.

Chàng bị giam ở nơi đèo heo hút gió. Bao năm trời với trái tim thương nhớ, chàng ngóng đợi cô ta từng giờ từng phút, đợi bằng trái tim héo mòn ủ rủ. Nhưng đều bặt vô âm tín, tin nhắn đi nhưng chưa có tin lại, làn sóng âm chỉ truyền một chiều, đơn phương.

Suốt bao năm trời cô ta không đến thăm chàng một lần nào. Có thể cô ta ngại ngần nơi rừng thiêng nước độc, ngại thân gái dặm trường, đường xa cách trở hay là gì gì đó mà chỉ cô ta mới biết là trong đầu cô ta đang nghĩ gì. Cô ta mắc kẹt ở góc chợ, mắc kẹt trong tiếng xầm xì, bêu riếu miệng thế gian , mắc kẹt làm thân nàng Kiều lận đận mấy mươi năm.

 

                Ông Duy  trở về như một người anh hùng, niềm kiêu hãnh luôn ngự trị trên khuôn mặt. Hạt gạo trên sàng mà. Gạo bị sàng sảy nên rơi vãi lung tung, của hiếm là của quý. Cô ta, người con gái hai mươi tuổi, tuổi thanh xuân trốn đi đâu biệt. Thời gian đã cày nát khuôn mặt, tê tái bàn tay và xơ cứng từng sợi tóc. Chàng tìm đến, bà lánh mặt. Tiếp chàng là phiên bản mới, mang dáng dấp thanh nhã, mỹ miều cô ta của những mươi năm về trước.

 

****

 

   Đất anh hùng, nước hiển linh đã sản sinh bao hào kiệt cho đất nước tự ngàn xưa. Tôi và ông  Trần Duy lang thang đây đó năm ba ngày, cũng chỉ là cỡi ngựa xem hoa. Thoáng chỗ này một chút, nơi kia một lát, xem nơi này chưa thấu lại qua hình ảnh khác. Cuộc vui nào cũng tàn, phải về thôi.

 

  Đời là những chuyến đi, có chuyến đi dài ngút ngắt hai mươi năm, có chuyến chỉ năm ba ngày . Cuộc chiến rồi cũng tới hồi kết. Đánh giết nhau rồi cũng có người thắng kẻ thua.

  “ Ngày ấy, bác còn nhớ điều gì nữa không, bác Duy?”.

 

   “ Ngày ấy thật khó phai nhòa trong tâm trí. Háo hức, sôi nổi, thật cảm động. Khó có niềm vui nào hơn.”

 

  “ Đó là niềm vui của kẻ thắng, còn người bại trận thì sao?”.

  “Luật đời mà, có kẻ nhục người vinh. Một triệu người vui , lại có triệu  kẻ buồn “.

 

NGUYỄN THANH SƠN

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
09 Tháng Sáu 202612:52 SA(Xem: 595)
Tôi trở lại thăm Hà-Nội sau hơn bốn mươi năm xa cách. Trong gần một tuần lễ, tôi bận rộn và mệt nhoài theo các con tôi đi thăm gần hết các thắng cảnh trong thành phố và các vùng lân cận mà các con tôi đã lập chương trình từ trước theo đề nghị trong các sách du lịch. Nơi cuối cùng là đi thăm Tam Cốc, sáng đi chiều về, và hôm sau sẽ trở lại Mỹ. Tôi chiều các con tôi, nên những nơi mà tôi muốn đến để tìm lại những kỷ niệm ngày xưa thì chưa có thời giờ, mà nếu không đến được thì đó là một điều thiếu xót cho chuyến đi của riêng tôi.
09 Tháng Sáu 202612:06 SA(Xem: 458)
Chị Tư hơn tôi hai tuổi. Tôi cá tính bao nhiêu thì chị Tư hiền lành, dịu dàng bấy nhiêu. Lại xinh nữa. Ngày xưa, chị được bình bầu là "hoa khôi xóm". Bà bán mì đầu hẻm bảo thế. Bả bảo, mấy người thường ăn mì ở đây khen : “Xóm này không ai đẹp và hiền như con Tư ”.
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 1231)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 1261)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
05 Tháng Sáu 20262:52 CH(Xem: 1113)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
05 Tháng Sáu 20262:02 CH(Xem: 983)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 3193)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20262:56 SA(Xem: 2036)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 3025)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2534)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9846)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16693)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15693)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16125)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 1261)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 3193)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 3025)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 2968)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
(Xem: 1112)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
(Xem: 5178)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 7165)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 6472)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
09 Tháng Sáu 202612:52 SA(Xem: 595)
Tôi trở lại thăm Hà-Nội sau hơn bốn mươi năm xa cách. Trong gần một tuần lễ, tôi bận rộn và mệt nhoài theo các con tôi đi thăm gần hết các thắng cảnh trong thành phố và các vùng lân cận mà các con tôi đã lập chương trình từ trước theo đề nghị trong các sách du lịch. Nơi cuối cùng là đi thăm Tam Cốc, sáng đi chiều về, và hôm sau sẽ trở lại Mỹ. Tôi chiều các con tôi, nên những nơi mà tôi muốn đến để tìm lại những kỷ niệm ngày xưa thì chưa có thời giờ, mà nếu không đến được thì đó là một điều thiếu xót cho chuyến đi của riêng tôi.
09 Tháng Sáu 202612:06 SA(Xem: 458)
Chị Tư hơn tôi hai tuổi. Tôi cá tính bao nhiêu thì chị Tư hiền lành, dịu dàng bấy nhiêu. Lại xinh nữa. Ngày xưa, chị được bình bầu là "hoa khôi xóm". Bà bán mì đầu hẻm bảo thế. Bả bảo, mấy người thường ăn mì ở đây khen : “Xóm này không ai đẹp và hiền như con Tư ”.
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 1231)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2534)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2356)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2192)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2364)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 2401)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 983)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 13482)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 29576)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35673)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 10656)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 12617)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 2036)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 3025)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 3196)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 3387)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 4042)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 7723)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 7067)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 9798)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.