- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,578,821

MẮT GIẾNG

09 Tháng Sáu 20199:49 CH(Xem: 7178)

photo NGuyen Hoang Nam
ảnh Nguyễn Hoàng Nam

MẮT GIẾNG

 

Không là mắt khóm mắt dân
trong vắt trời xanh
em ấy chị ấy hay cô ấy

 

ngày tôi ra sau lưng xóm núi đó yên bình
giọt nước bằng lặng chưa cuộn vòi rồng
sự sống cứ ngỡ chỉ toàn là đắm đuối
giá như

 

không có cơn lũ khốn nạn chảy qua tâm khảm người đàn ông
chi ấy lên giường với bí thư xã ủy
bão tố nổi lên trong lòng giếng đó
sống chết và tù tội

 

không có lũ khốn nạn ấy sát sát khảo khảo
yên bình cuộc sống đàn ông
anh ấy nhận được bầu trời nỗi đau
là tham vọng có tên gọi yếu đuối mỏng manh
mắt giếng.

 

NGỦ ĐÌNH
Đuổi thần thánh là công của dòng họ ấy ( Lời một con quỷ xe lôi)

 

Trong lúc bị truy đuổi ông ấy trốn dưới bệ thờ thần ngủ mê run sợ
lão thấy hình không tượng cái đuôi

 

nước dỡ hẵn bệ thờ cuộn trôi ra bể
những cây sao quỷ đột ngột gãy đôi
sân đình thành hố sâu hun hút
đám hút sách ngả nghiêng phê quá
ánh chớp từ đất xuyên thấu trời

 

trong lúc ngủ mê lão thấy mình sương khói
biển người bàn tán đứng xem
có ai nói không lấy bình bắt nó
hút hết vô là xong

 

trong sương khói lão thấy một vùng quê
đất cháy đỏ đùn lên như máu
kẻ cầm dao người cầm cuốc tranh giành
một nhát chém phía bên này gục xuống

 

một vị thần xóc ta dậy nói
mi về đi bọn tau trốn hết rồi.

 

 

THẾ
Lời những người cấy hạt

 

Rồi tất cả bỏ đi
thế là sau cuộc ồn ào chè chén bất phân
tôi nghe tiếng rú dậy thì dài dặc của đứa con gái bại liệt của ông ấy
có vài kẻ quay lại núp vào lùm để đái

 

khi bàn tay đôi chân mỏng manh mày chuột rút
âm nhạc nổi lên
đêm tối lao ra
sẽ không có móng nào giúp mày kéo con tim co gấp khốn khổ đâu
lúc ấy có rất nhiều loài khát máu
khi họ tính trước mày không có đồng nào trả nợ cho đất trời xung quanh chốn ở

 

khi chúng ta đi khỏi
họ băm nát cái bóng
như chờ rắn lột da xong rồi giết
cái thằng ấy coi vậy chớ ghê dám rờ đít thím dâu
xin lỗi vợ nó đi ha ha

 

lúc này có võng cầu vồng nằm xuống lửa cháy phừng phừng
trên mặt
chủ đất đưa cuốc lên vội chết
lúc một mình có cái hạt bắt chuyện với mình đấy
trời này làm thành phố nóng rồi úng
thế là tôi sống lại sau khi lão ấy ăn xong

 

kêu lắm
thực ra không phải loài chim bé tí nào của trời
vạt sành quá nhiều chúng làm náo loạn suốt đêm xanh.

 

 

PHÁC HỌA NGƯỜI GIŨA LƯỠI CÂU

 

Bàn chân ám khói than bước ra khỏi lửa

gương mặt xung quanh như đám tả lót
trước sự phì độn ngu muội chúng ta chôn kín ý nghĩ mãi mãi không cho họ thấy
máu đào ngập đầy dần


không ném ly vào mặt họ tuyệt đối anh phải dằn để không vươn tai họa
với dòi bọ anh hy vọng sẽ có mùa bội thu đám nhặng xanh

 

quá trống vắng cho bụi I nóc rơi xuống
xoay ba trăm sáu mươi độ để sắc nhọn
anh lấy cái chết để an ủi cho dòng tộc đó
nó không hỏi lí do anh viếng

 

trước đám dao nhọn
ông ấy giũa lưỡi câu
bụi I nóc rơi rơi
mưa dầm không thể cuộn trôi.

 

 

MỪNG NGÀY SANH NGỒI UỐNG RƯỢU MỘT MÌNH

 

Dĩ nhiên là quay về hướng nhà mình cúi đầu trước mẹ
may người không biết là mình như thế
người không bao giờ cho uống bia rượu
người sợ mình chết không toàn thây

 

dĩ nhiên vợ không thể ngồi cùng
mỗi bước ra vườn là nó chửi
mình tạo thành quả quá ít ỏi không đủ nó chi tiêu

 

dĩ nhiên là bao nghiêm túc giả tạo trước bát nháo biến mất
nhường cho men trung cộng ngấm dần vào máu nghe lành lạnh

 

dĩ nhiên là muốn đấm vào mặt những thằng khiếm nhã không tính người
như đấm vào bóng mình
bể kính tay nát

 

dĩ nhiên là chạy trốn tất cả mọi cuộc vui sau này
vô nghĩa lý như loài hút máu

 

dĩ nhiên là trò chuyện với tổ ong ngâm được tặng
về sự ác độc của đám người thông minh…

 

dọn sạch trước khi ngủ
không bao giờ muốn nghe loài tình yêu lải nhải
sau khi tỉnh dậy.

 

 

 

HIỆN

 

Khoảnh khắc nào đó như lúc mây đen hiện hình ở góc trời
tinh thần người chết thăng hoa khi còn sống đột nhiên ta nhớ lại
hình như một linh hồn
nghèo túng là tài sản quỷ quái
giông lốc xoáy tố đổ xuống kiếp người

 

khoảnh khắc nào đó trước khi ta vấp ngã thường có vô số sự tự vấn
sao không tránh trước
thấy đối tượng tốt nghĩa là ta chìm trong mê yêu
sao không bay ra bằng đôi cánh mộng

 

khoảnh khắc nào đó như ban mai sau đêm mưa
dòng người thanh sạch và khang khác
băng qua mặt đất chậm hơn

 

khắc cánh hoa gục vào bầu trời xanh mênh mông
tầm mắt không còn gì che chắn
ngoài làn da ngà ngọc của em.

 


GIỌT SƯƠNG

 

Con chim cuối cùng mắc lưới
cỏ rác bay qua mặt ta hàng ngày
dẫy đầy bao cái chết vô nghĩa lí

 

hối tiếc cho một lần theo rủ rê của bọn trên đám cây ấy
mình không bay làm gì
chỉ có thể bật quẹt

 

bầu trời quá hẹp
trên trán lão gió

 

thể xác ta là thịt cho những loài khát nước
mãi không chung trời

số phận rộng mênh mông


cỏ rác bay theo ta hằng ngày
sự tối tăm vô nghĩa.

 


ĂN QUÁN

 

Những đêm sắp giao thừa năm nào tôi đứng bên tối nhìn phía sáng bên cồn
mường tượng ngày xuân đời mình
trong tấm lưới vá víu mong mắc vài con cá nhỏ

nghi và tin đi liền với tin và nghi
tôi để trôi qua đời mình một lòng tay tuyệt mỹ

 

những đêm mây tắt ngúm sao trời giao mùa hôm nào tôi nhìn về phía trí nghĩ của một lớp người
họ buông xuôi mặc cho bát nháo rồi hỗn loạn
đành chịu không phương cứu vãn

 

những ban mai nào trống giống ba tiễn ai đấy về đất tôi trông thấy dòng người ủ đột
gót chân phai tàn vô phương cứu vãn
tôi thấy mình làm nên từ sắc màu cánh bướm
không còn sức theo cuộc phù vân

 

khói bốc họ mang ra.


Nguyễn Đăng Khương

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 1070)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1148)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 1835)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 5868)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 5839)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13181)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 30068)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81207)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20237)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
18 Tháng Chín 20215:41 CH(Xem: 366)
hai người trò chuyện / hơi ấm mặt trời mơn trớn / cửa bên trong người đàn bà hé mở / miền đất từ lâu không dung nạp sự sống / dòng nước chảy ngang nảy hạt / cong về ánh sáng quên lòng đất tối