- Tạp Chí Hợp Lưu P.O.BOX 8782 Fountain Valley, CA 92728-9809 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,369,791

Nhớ Huy Cận, Người Quê Viết Thơ Quê

13 Tháng Năm 20198:54 CH(Xem: 1482)


nhà thơ HUY CẬN
Chân dung nhà thơ Huy Cận - ảnh Internet

 

         Cù Huy Cận sinh ngày 31 tháng 5 năm 1919 tại xã Ân Phú, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, trong một gia đình trung nông lớp dưới. Bố Huy Cận đậu tam trường làm hương sư ở Thanh Hoá, sau về quê dạy chữ Hán và làm ruộng. Mẹ Huy Cận là cô gái dệt lụa làng Hạ nổi tiếng ở xã Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ.  Thuở nhỏ Huy Cận học ở quê. Đang học lớp tư được vài tháng thì theo một người cậu vào Huế học hết tú tài toàn phần ( 1939 ). Sau ra Hà Nôi, từ đấy trải qua nhiều thăng trầm nhưng đại bộ phận đời ông sống xa quê.

       Rất gắn bó với đất quê, thực ra chỉ có mười mấy măm  tuổi thơ, còn là lưu lạc, nhưng ký ức tuổi thơ lại ám ảnh thương nhớ trọn đời. Quê Huy Cận là một xã sơn cước, cảnh đẹp, không khí cổ sơ, nhân dân rất ham hát ví giặm, kể các truyện Nôm, kể truyện Kiều và ngâm Kiều. Đó là một miền sơn cước rất nghèo, dưới chân núi Mồng Gà, bên dòng sông La cổ kính và bên kia sông có chợ Nướt, mỗi tháng họp chín kỳ. Thuở Huy Cận sống thời thơ ấu, cảnh sắc nơi đây đẹp một cách xa vắng, đìu hiu. Điều đó, sẽ là một phần nào sau nầy khiến cho thơ Huy Cận tự nhiên ẩn chứa một nỗi buồn lãng đãng.

 Trong  Lời giới thiệu “Tuyển tập Huy Cận” (tập I) Xuân Diệu đã viết về làng quê Ân Phú: “ Rất nhiều cá tính của đất đai, có thể nói mỗi mảnh đất đều tràn đầy  xúc cảm, như tích tụ cái cổ sơ đâu từ hàng trăm năm trước. Làng quê hương đã cung cấp cho Huy Cận một cái vốn đất đai gì sâu thẳm như gan ruột của thời gian “

              Quả thật, sông núi, đất đai quê hương, những chợ Nướt, dòng sông La, núi  Mồng Gà…đã làm nên xương thịt của nhà thơ và dệt nên tâm hồn thơ nơi con người ông:

Tôi sinh ra ở miền sơn cước

Có núi làm xương cốt hàng ngày

Đất bồi tơi làm da thịt mát

Gió sông như những mảng hồn bay.

Và:

Tuổi nhỏ tôi trùm trong nhớ thương

Cách sông chợ Nướt bến đò sương

Làng quê chân núi chiều về sớm

Bóng núi dài lan mát ruộng nương

     Huy Cận đã sống tuổi nhỏ trong quê hương đẹp và nghèo ấy. Quê nghèo đã cho ông hồn thơ. Cảnh vật, con người quê hương luôn ám ảnh tâm can nhà thơ, làm thành những kí ức tuổi nhỏ chi phối thế giới nghệ thuật thơ Huy Cận.

       Lửa thiêng ( 1940) là tập thơ tiêu biểu của Huy Cận trước cách mạng và thuộc số thành tựu xuất sắc nhất của thơ mới 1932 - 1945. Người đọc bắt gặp ở Lửa thiêng một cái tôi khát khao giao hoà,  nhưng luôn cảm thấy cô đơn trống vắng. Làm nền cho tập thơ là những nỗi buồn quê kiểng : nỗi buồn đêm mưa, buồn nhớ bạn nơi xa, buồn của người lữ thứ, buồn nơi quán trọ, nỗi buồn trước cảnh sông dài trời rộng... Nỗi buồn thương của Huy Cận như ngấm ngầm chất chứa tự đáy lòng, lan toả khắp ngoại cảnh, tạo thành cái mạch sầu chảy hút về hoài niệm chùm lên cả những xúc cảm về quê hương:

Trông vời bốn phía không nguôi nhớ

Dơi động hoàng hôn thấp thoáng bay

                            ( Vạn lý tình )

Đọc thơ Huy Cận thời này, có người không khỏi giật mình về cái buồn man mác khi bất chợt, khi trải dài cố hữu  xen vào nhau rất đậm, cho là ảnh hưởng “nỗi buồn trong thơ Pháp, là cái mode của thi ca đương thời” ! Không hẳn thế chúng tôi cho đó là tâm trạng của một thế hệ những người trí thức  lúc bấy giờ, là một nét quan niệm về nhân sinh  kết tinh trong nghệ thuật, được cộng hưởng thêm từ Chủ nghĩa lãng mạn phương Tây mà thôi.

  Huy Cận thường nói tới thiên nhiên,  những thi ảnh thân quen trời , sông , sóng, khói, con đò, chiếc cầu, cánh chim…dễ gây xúc động cho người đọc, làm cho người ta nhớ quê nhà. Cho đến khi xuất bản Lửa thiêng ( 1940) , Huy Cận chỉ trải nghiệm hai con sông lớn, đó là Sông La ở quê và Sông Hương ở Huế . Bài thơ “Tràng giang” (1939) thấp thoáng bóng dòng La với bao nhiêu chi tiết mà ai đi trên dòng sông này một lần đều có thể cảm thấy phảng phất nhiều hình ảnh được tái hiện trong bài thơ, cùng với nét biểu cảm sâu lắng tâm hồn ông. Nhiều nhà phê bình khen ngợi bài thơ này đặc biệt hai câu cuối “Lòng quê dợn dợn vời con nước /Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”vì cái  âm hưởng Đường thi và tình quê mơ màng lai láng của nó.  Tuy nhiên nhiều chi tiết khác  được tác giả thể hiện trong bài mới thật sự đậm chất quê kiểng, xúc động lòng ngừơi.

               Khung cảnh đặc tả trong bài thơ rất có ý nghĩa trong sự liên tưởng tâm trạng thi sĩ với miền quê. …Mênh mông không một chuyến đò ngang/ Không cầu gợi chút niềm thân mậ/.Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng…

Đó là hình ảnh thượng nguồn con sông La chảy từ Lào sang với hai bờ xa cách, nước chảy xuôi, không một chuyến đò ngang. Chẳng có cây cầu nối liền hai bờ, đứng ở bờ sông bên nầy, nhìn sang bờ sông bên kia chỉ có bãi cát vàng,  bờ dâu xanh…,  kéo dài đến tận chân trời…

           Những thi ảnh rất gần gũi với độc giả, mang đậm hồn quê  của ông. " Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều" , một hình ảnh thơ quen thuôc mà rất gợi cảm . “Chợ Nướt” bên kia sông  và vài chợ khác là nơi trao đổi hàng hoá, gặp gỡ, chuyện trò rộn rịp thân thiết của làng quê . Hình ảnh một ngôi chợ nhỏ, lơ thơ mấy mái tranh là rất quen thuộc ở miền quê nước ta, cách gọi tên đặc biệt của làng quê xứ này: Chợ họp buổi sáng gọi là "chợ mai", họp buổi chiều,  gọi là "chợ chiều” , chợ họp  trễ lúc đầu hôm là "chợ hôm".  Cảnh chợ chiều, nhất là lúc vãn chợ, bao giờ cũng buồn. Huy Cận rất tinh tế,  ông là người sinh ra lớn lên ở miền quê Đức Thọ trước khi đến học ở kinh đô Huế , nên nhận biết rất sâu sắc những cảnh tình đó.

              Bèo dạt về đâu hàng nối hàng, cánh bèo trôi  là hình ảnh về sự vật, nó gần với "bèo dạt hoa trôi"- thành ngữ dân gian  nói về thân phận con người trong xã hôi cũ. Những cánh bèo từng hàng bị xô đẩy nổi trôi trên dòng sông trong bóng chiều  là một bức  tranh đầy gợi cảm tượng trưng cho bao kiếp người lênh đênh vô định.  Nhất Linh một thời thích câu thơ " Bèo giạt về đâu..." của Huy Cận. Có lúc ông đã tính lấy hai chữ "Bèo giạt" để đặt tên cho toàn bộ ba tập tiểu thuyết "Dòng Sông Thanh Thuỷ" (Dòng Sông Thanh Thuỷ - tập 1, "Chi bộ Hai người" - tập 2 và "Vong Quốc"- tập 3).

(Theo Hồng Lam đất văn chương đất khoa bảng - Chương: Huy Cận, NXB Thế giới, 2010 )

     Tất cả những hình ảnh làng quê mà ông mô tả như trên, phải là người yêu làng quê lắm , mới có những nhận xét tinh tế như thế. Chúng tôi cho Tràng giang là tâm tư được rút ra từ tấm lòng quê kiểng, dóng sông mang bóng dáng con sông quê nhà của ông.

*

                    
             Huy Cận là một người vô cùng giản dị, có nhà văn đã viết về ông: “Thật lạ lùng là vị bộ trưởng, nhà thơ tài năng kiệt xuất và tài hoa nhiều mặt ấy lại luôn luôn mang một vẻ bề ngoài hết sức mộc mạc, bình dân tới mức dân dã vô cùng! Ông gần như vẫn nói giọng Nghệ Tĩnh nguyên xi, sau nửa thế kỉ sống giữa lòng thành phố thủ đô! Vẫn thường mặc những quần áo vải bông tuềnh toàng, mang giầy vẹt gót, không sơn bóng nước xi” ( Hoàng Cát - Chuyện văn chuyện đời nhà thơ Huy Cận ). Cất giấu bên trong cái vẻ ngoài giản dị mộc mạc đó là một tình yêu sâu đậm với quê hương.

            Quê hương hiện lên trong thơ Huy Cận không chỉ là cảnh mà còn là người, những con người mộc mạc gần gũi thân thương  mà bao giờ nhắc đến họ, đến những những ngày buồn xưa cũng như những ngày vui nay  giọng thơ ông như trầm hẳn xuống muốn san sẻ . Đó là những bà mẹ, em bé trong những ngày mưa, lụt  “ơi ời giữa nước mênh mông trắng”, những bà dì, bà mự, bà cô sống hẩm hiu “như hòn cuội lăn xuôi”, người thầy” năm nhăm năm vụt tắt”  nhà thơ nghe lòng mình xót xa…Sâu đậm nhất là hình ảnh mẹ nhà thơ “Mẹ ơi sao mẹ giống/ Đất nước sinh ra con/Cũng một bầu khổ thống/Cũng bấy nhiêu đau buồn”. ( Trích Hồi ký - !940)

Hình ảnh quê hương thân thiết với người cha, người em, đàn gà, con trâu cùng với những món quê tương, nhút, cá kho, cơm ủ… luôn theo ông trong niềm thương nhớ: Tuổi thơ gà gáy ran đầu bếp/ Trâu dậy trong ràn em cựa nôi / Cha dậy đi cày trau kịp vụ / Hút vang điếu thuốc khói mù bay/ Nhút cà cơm ủ trong bồ trấu/ Chút cá kho tương mẹ vội bày...(Sớm mai gà gáy). Những tiếng quê “ràn”, “cày trau”, “nhút cà” xa quê lâu ngày ông vẫn nhớ!

            Tập trung cho tình yêu quê hương đầy nhớ nhung, tự hào là bài thơ  “ Gửi người bạn Nghệ Tĩnh” trong tập thơ “Những năm sáu mươi” của ông. "Xứ Nghệ” trong lĩnh vực văn hóa, văn chương truyền thống thường  bao gồm cả hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh.  Có lẻ đây là bài thơ duy nhất trực tả Xứ Nghệ trong văn chương hiện hành với  những sản vật tiêu biểu như “cà xứ Nghệ càng mặn lại càng giòn”, “nước chè xanh xứ Nghệ càng chát lại càng ngon” và  những gia tài văn hoá phong phú như  “vè, ví dặm  xứ Nghệ càng lắng lại càng sâu” một cách tự hào.

Từ bấy lâu nói về văn hóa và con người vùng đất này có hai nhà văn nói khá sâu săc gây nhiều ấn tượng, đó là Nguyễn Đổng Chi và Đặng Thai Mai , nhưng các cụ nói chủ yếu về con người xứ Nghệ với những nét cực đoan trong tính cách, như chiến đấu gan dạ đến liều lĩnh, giải quyết tốt những trận đánh khó khăn nên có lần vua nhà Trần trước sự vây hảm, đẩy lùi của quân thù đã tự tin bảo rằng ta “còn mười vạn quân Hoan Diễn” (Hoan Diễn do tồn thập vạn binh) chưa dùng đến, Hoan Diễn là hai châu Hoan, châu Diễn tức Nghệ An, Hà Tĩnh sau này. Hoặc khi cuộc sống đẩy đến cùng cực thì phải kết liên  với nhau chống lại, các cụ gọi là sức mạnh  hợp quần ( Xô Viết Nghệ Tĩnh). Huy Cận tự  hào về cái vẻ đẹp mộc mạc mà tinh tế , nhân văn trong văn hóa, tâm tình con người Xứ Nghệ.

…Ai đi vô nơi đây,/ Xin dừng chân xứ Nghệ.
Nghe câu vè ví dặm/ Càng lắng lại càng sâu.
…Tình xứ Nghệ không mau,/ Nhưng bén rồi  sâu lắng.
Quen xứ Nghệ quen lâu,/ Càng tình sâu nghĩa nặng.

…Ôi tâm hồn xứ Nghệ, /Trong hồn Việt Nam ta.

       Chất Nghệ của bài thơ càng hiện rõ ở thể điệu ví dặm và ngôn ngữ đậm chất dân gian mà tác giả vận dụng thành thạo.

       Bài thơ Ngã ba Đồng Lộc, đỉnh cao của lòng mến yêu , tự hào về quê hương Hà Tĩnh, quê hương Việt Nam . Một cách thể hiện mới mẻ của thể thơ tự do, những thi tứ  hiện thực xen lẫn tượng trưng tạo một cảm xúc bi tráng - cao cả:

….Các ngã ba khác trên đời làm bằng nước, Bằng  sông, bằng thuỷ triều lên xuống,
Bằng đèn xanh đèn đỏ đủ màu Hay bằng những sự chênh vênh vấp ngã,
Nhưng ngã ba Đồng Lộc làm bằng xương máu. Khi con về quê con nhớ viếng thăm
Mộ các cô kề bên đường đỏ…
(Ngã ba Đồng Lộc)

  Mộ các cô ở đây là mộ 10 cô gái huyền thoại đã hy sinh cho Ngã ba bất tử. Ngã ba này vượt lên những hư ảnh tầm thường “đèn xanh đèn đỏ” giả tạo, vượt lên sự phản bội “chênh vênh vấp ngã”, ngã ba này “làm bằng xương máu”…Những câu thơ khẳng định và thức tỉnh ! Một cảm nhận chân thật sâu sắc về Đồng Lộc.

           Phong cách thơ về quê hương của Huy Cận  cũng như thơ ông nói chung khó gói lại trong một vài mệnh đề, thi liệu thường là những hình ảnh vừa có sự gần gũi, thân thuộc nhưng phong phú và đa dạng , dân dã  mà bác học, hiện đại lại  mang dáng dấp của thơ ca truyền thống. Thể tài cũng vậy, thơ bảy chữ, năm chữ, tự do đều có. Ngôn ngữ khi thì như tiếng nói đồng quê, khi  thì cổ kính như thơ Đường cổ. Bảng lảng những suy tư triết học nhưng lại gần gũi trữ tình tâm sự của người bình dân. Ba  bài thơ quê  Tràng giang,  Gửi người bạn Nghệ Tĩnh, Ngã ba Đồng Lộc mà chúng tôi trích dẫn trên đây là một minh chứng cho những điều đã nói về phong cách thơ quê của ông: Cổ điển như Tràng giang, dân dã như  Gửi người bạn Nghệ Tĩnh và tân kỳ như Ngã ba Đồng lộc!

        Phấn đấu cho mình có được một phong cách nghệ thuật riêng là mục tiêu đẹp đẽ của mọi nhà văn. Ngay từ khi mới cầm bút, Huy Cận đã ý thức được điều này. Bằng tài năng bẩm sinh, và quá trình lao động sáng tạo công phu nghiêm túc, Huy Cận đã tạo dựng cho mình một phong cách riêng khá nổi bật trong nền thơ ca Việt Nam hiện đại. Mảng thơ về quê hương có một đóng góp lớn cho thành tựu này./.

03-2019 

YẾN NHI

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
02 Tháng Mười 20195:22 CH(Xem: 448)
trời tháng tám giữa dòng âm thanh vui lạ / vô tình như rừng cờ và kèn trống / vạch lá trên chậu chợt thấy bóng hình trong sạch / của ai đó ngồi bên khe núi / im lặng cầm cây nến nhìn về phía đồi xa
02 Tháng Mười 20195:13 CH(Xem: 518)
Thời còn học trung học, có một lần tôi theo bạn cùng đi đến bệnh viện Tâm thần ở cầu Sông Ngang, bạn tôi có một đứa em trai mới vừa chuyển đến đây điều trị. Trong lúc bạn tôi dở cà mèn cơm và thức ăn cho em ăn. Tôi ngồi cái ghế chờ ở phía trước lơ đễnh quan sát chung quanh bệnh viện. Chợt có một bàn tay ai đó nắm chặt tay tôi "Em!", tôi ngẩng lên trước mặt tôi là một người đàn ông cao lớn, khá đẹp trai, đôi mắt như si dại, ông đang mặc bộ đồ bệnh viện. Thôi chết rồi!...mình gặp "ông điên" rồi. Ui chao hồn vía tôi lên mây. Tôi rút bàn tay mình ra khỏi tay ông í nhưng không được. Một bàn tay còn lại ông ta chồm lên như muốn kéo lấy tôi về phía ông. Các chị y tá chạy tới, trừng mắt hét lên " Thả người ta ra, thả ra chớ không là bị đòn đó". Ông ta cương quyết không thả: - Bắt được em rồi anh không bỏ em đâu.
30 Tháng Chín 201911:06 CH(Xem: 519)
Nhà bám theo đường, người bám phố / cộng sinh từ thuở lập điền / đất Sài Gòn không kiêu bạc / cho anh về bên em
30 Tháng Chín 201910:45 CH(Xem: 583)
Cái tin thằng Bình hiếp dâm con bé Liên Hương, con ông lý Lưu, lan truyền ầm ĩ khắp cả làng Ngọc. Thằng Bình hiện không có nhà, nó vốn ở với ông bác họ làm nghề chữa xe đạp ngoài Hà Nội, vừa đi sáng sớm nay. Mấy hôm trước, thằng Bình được bố gọi về để nhận suất ruộng cải cách theo diện bần cố nông. Ngày mai, theo lệnh của ủy ban, ông Ba Be phải ra Hà Nội để điệu thằng Bình về đối chất với đơn tố cáo của bố con nhà ông lý Lưu về tội hiếp dâm.
30 Tháng Chín 201910:16 CH(Xem: 412)
Em về đó / Cõi người hun hút gió / Bạt lưng trời / Vương vất một đường mây / Vai áo rũ / Chơ vơ đời viễn xứ / Long lanh sầu Mắt trĩu cả mùa thu.
29 Tháng Chín 20191:02 CH(Xem: 751)
Cùng với câu thở than đời người ngắn ngủi, bàn tay hắn đáp xuống trên đùi chị, nhẹ nhàng như chiếc lá rụng xuống thảm cỏ mượt mà. Cái miệng hắn không ngừng bài giảng thuyết của nhà truyền giáo đang cố đưa ra những giáo điều mê hoặc, “Bao lâu này tôi mơ tưởng được một người đàn bà ghen vì mình như thế mà không gặp. Tôi yêu cơn ghen của chị; cho tôi phần còn lại của cơn ghen đó đi. Quên anh ấy đi. Tôi có bà con ở Vancouver, hai đứa mình bay qua đó lập nghiệp. Cho tôi xin tình yêu của chị, cho tôi xin phần còn lại của cái ghen tuông mờ mắt của chị. Chị đã dành cho anh ấy quá đủ rồi. Anh ấy đã hưởng trọn vẹn cơn ghen đầu mùa. Chị cho tôi cơn ghen cuối mùa này đi. Tôi yêu chị mà! Chị yêu lại tôi nghe... yêu tôi nghe...”
27 Tháng Chín 20199:59 CH(Xem: 452)
Thuyền cứ trôi và nắng cứ rót/ Bĩ ngạn mờ theo gánh núi sông/ Cười với thiên thu, lòng phiêu hốt/ Giũ áo nghe rền tiếng gió sương.
27 Tháng Chín 20199:49 CH(Xem: 341)
Cho dù tên tuổi TNS Jim Webb đang được sôi nổi nhắc tới qua sự kiện lễ vinh danh và an táng 81 bộ hài cốt các tử sĩ Nhảy Dù VNCH vào 26/10/2019 sắp tới – cũng là ngày Quốc Khánh của nền Đệ Nhất Cộng Hòa VN – nhưng với người viết thì Jim Webb còn là một khuôn mặt nổi bật trong giới lập pháp Hoa Kỳ từ hơn một thập niên trước, như một advocate có tiếng nói mạnh mẽ bảo vệ con sông Mekong và cư dân lưu vực:“Hoa Kỳ và cộng đồng thế giới có một cam kết chiến lược và nghĩa vụ tinh thần nhằm bảo vệ sức khỏe và an sinh của cư dân sống phụ thuộc vào con sông Mekong với nguồn tài nguyên và nếp sống của họ.”Senator Jim Webb’s Press Releases 12/ 08/ 2011.
23 Tháng Chín 201911:43 CH(Xem: 599)
Nhà em có 4 chị em gái. Chị hai Tím có vẻ đẹp sắc cạnh, rạng rỡ, tính tình lại ương ngạnh, gai góc cứng đầu. Từ nhỏ đôi mắt 1 mí đã xếch ngược và đôi môi cong cớn hay lý sự dỗi hờn. Cái tên Lê An Đậu Tím của chị là đề tài của một vùng, một trường, một thời và của một truyện ngắn em đã viết.
23 Tháng Chín 201911:09 CH(Xem: 638)
Giờ nắng đã vàng phương khác / Bao giờ trở lại mùa xưa? / Những mặt người xa lạ quá / Nhớ Sài Gòn từng chiều mưa...