- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,580,929

VÕ THỊ XUÂN HÀ, TRẦM-TÍCH-CHỮ-NGHĨA, VĂN CHƯƠNG MỘT THỜI.

13 Tháng Tư 201812:09 CH(Xem: 12396)
vothi xuan ha
Nhà văn Võ Thị Xuân Hà


“…Trong tác phẩm của mình tôi luôn muốn và cố gắng nói được một điều gì đó, dù rất nhỏ, nhưng cũng phải chuyển tải một thông điệp nhân văn. Nhân vật của tôi dù có đê tiện, có ghê tởm đến đâu thì cuối cùng cái mà anh ta để lại trong lòng độc giả chính là niềm tin rằng anh ta sẽ tìm đến với cái thiện, vì vậy anh ta trở nên đáng thương, chứ không phải là đáng trách…”


Thành công sớm với nhiều giải thưởng, từ nhiều kênh mạch khác nhau, như truyện thiếu nhi, văn xuôi, kịch bản, Võ Thị Xuân Hà là một trong những nhà văn nữ có được cho riêng mình những quan niệm rạch ròi, dứt khoát về đời thường cũng như văn chương. 

Trả lời cuộc phỏng vấn của báo Tiền Phong (?), được tờ Việt Báo (VN) đăng tải lại từ báo Người Lao Động (1), cây bút từng tốt nghiệp thủ khoa khóa 4 trường Viết văn Nguyễn Du, Võ Thị Xuân Hà, thẳng thắn cho biết, “mưu sinh và viết, tôi đam mê cả hai”.

Chi tiết hơn, tác giả tập truyện ngắn “Kẻ đối đầu” Võ Thị Xuân Hà nói:

“Tôi đã trải qua nhiều năm tháng khổ sở và vất vả. Đang yên phận với nghề dạy học thì tôi chuyển qua làm báo, làm điện ảnh, rồi làm xuất bản... Đang yên ấm ở Huế cùng gia đình thì tôi theo chồng ra Hà Nội, đến khi gia đình riêng trắc trở, tôi một mình nuôi 2 cô con gái lớn khôn cho tới tận ngày hôm nay.

“Tôi vừa là mẹ, nhưng cũng vừa là cha. Ba người phụ nữ trong gia đình, chẳng lẽ tôi lại ủ rũ với một mớ ngổn ngang những đau khổ, dẫu chỉ là những thứ vặt vãnh.

“Tôi phải bước đi bằng đôi chân của mình, tự khẳng định mình. Phải kiếm tiền bằng chính sức lao động của mình nuôi các con ăn học. Tôi đã làm được cả ba điều: Sống, nuôi dạy con cái và viết văn…” (2)

Cũng trong cuộc phỏng vấn này, phát biểu về quan niệm văn chương, họ Võ khẳng định:

“ Tôi không biết các nhà văn khác quan niệm thế nào chứ riêng tôi, khi viết một tác phẩm, tôi không nghĩ đến việc mình phải viết thật sex, để câu khách, để bán sách kiếm tiền.

“Tuy nhiên, nếu trong truyện của tôi có những đoạn liên quan đến giới tính và tình dục thì cũng là do cuộc sống nhân vật nó phải thế. Nói một cách chân thực thì cuộc sống thường ngày của mỗi chúng ta chắc chắn đều có yếu tố tình dục cũng như chuyện ăn uống, hít thở, làm việc...

“Với tôi, tình dục không có nghĩa xấu mà ngược lại! Nhân vật Cầm Kỳ của tôi cũng yêu đương hết mình chẳng kém gì các bạn trẻ thế hệ @ nhưng cô ấy sẵn sàng dừng lại ngay khi cảm thấy lòng tự trọng bị tổn thương.

(…)

“…Trong tác phẩm của mình tôi luôn muốn và cố gắng nói được một điều gì đó, dù rất nhỏ, nhưng cũng phải chuyển tải một thông điệp nhân văn. Nhân vật của tôi dù có đê tiện, có ghê tởm đến đâu thì cuối cùng cái mà anh ta để lại trong lòng độc giả chính là niềm tin rằng anh ta sẽ tìm đến với cái thiện, vì vậy anh ta trở nên đáng thương, chứ không phải là đáng trách…” (Nđd)

Nhà văn nữ đầy bản lĩnh này, cũng đưa ra một cái nhìn mới về tương quan giữa văn chương và cô đơn, nghèo, khổ… như sau:

“Tôi cực lực phản đối quan niệm của một số người cho rằng nhà văn là phải cô đơn, phải khổ sở, phải nghèo túng, thì mới viết văn được. Tôi là người phấn đấu hết mình để làm giàu, để trốn cái nghèo và tôi vẫn hết mình với văn chương.

“Tôi chỉ ngồi vào bàn viết khi đầu óc hoàn toàn sảng khoái và minh mẫn chứ không phải buồn rầu, u ám. Phải lãng mạn bay bổng với thế giới câu chữ và sự phức tạp đầy biến động của nhân vật, nhưng tôi vẫn phải có một thế giới thực trên mặt đất…” (Nđd)

Với những ai chỉ theo dõi những cuộc trả lời phỏng vấn của Võ Thị Xuân Hà, mà không tìm đọc truyện của nhà văn này, tôi e nhiều phần họ sẽ nghĩ, thế giới truyện Xuân Hà chắc khô khan, lý trí, khó nuốt… Sự thật, ngược lại.

Thế giới truyện Võ Thị Xuân Hà là thế giới đa tầng. Với hiện thực đời sống, tiểu biểu như truyện ngắn “Lời hẹn”, tác giả viết về một xóm nhỏ“…không có tên, không có tổ dân phố, nằm lọt thỏm giữa thủ đô và nổi tiếng với những vụ hút hít buôn bán ma túy, chứa chất gái mại dâm…”Và, hình ảnh “hai mặt” về một ông già, ngồi xe lăn được tôn vinh:

“Cô nhìn ông già đang được tôn vinh. Ông đáng được tôn vinh với những câu thơ bị người ta lột hết mớ ba mớ bảy để khoác vào linh hồn run rảy tội nghiệp đang khoả thân một tấm blu trắng của chiến dịch kế hoạch hoá gia đình phổ nhạc. Mặc dù vậy anh em chiến hữu vẫn tôn vinh ông nhờ những trường ca sâu thẳm mênh mông đầy bi tráng của cái cõi ông tận hưởng./ Cái cõi ấy xả láng giấc mơ của ông…” (3)

Nhưng ông già thi sĩ nổi tiếng kia, cũng chính là người có chiếc bàn đèn thuốc phiện, bị công an bố ráp, tịch thu trước đó ít năm…! 

Lời hẹn” là kết tầng hiện thực xã hội thứ nhất của cõi giới văn xuôi Võ Thị Xuân Hà, thì “Cành phong hương” lại là kết tầng thứ hai của cái đẹp. Thơ mộng. Cái đẹp của những lá phong ngả màu mà, hương thì lại như những mũi kim vá khâu mùa thu núi cao rách rưới, với những tuyệt vọng khôn khép miệng - - Dù cho những đoạn văn xuôi đẹp chỉ như “những-chiếc-nêm-thơ-mộng” chêm giữa những mảng dung tục đời thường.

Đây là một trích đoạn họ Võ không hề nhắc tới sương mù mà, tôi thấy sương mù như quyện, tỏa từng con chữ:

“(Chị Miêng) đứng như con linh dương cái đến mùa phong hương đỏ lá. Tôi ngước nhìn con linh dương cái ấy, ngưỡng mộ đến vô cùng. Tôi cũng nhìn thấy thằng Lân, hai tay nắm chặt lại như vào thế thủ. Nó đứng cách một đoạn xa, nhìn con linh dương biến ảo, như muốn lao vào cắn xé, lại như muốn quỳ xuống ôm lấy đôi chân dịu dàng mềm mại như nhung kia.

(…)

“Chị Miên vẫn đứng sững bên đường, nơi có vệt bánh xe in hằn cả vết lốp mới. Chị khiến cho tôi và thằng Lân cũng cứ sững lại, mỗi đứa một kiểu, như những cành phong hương tơi tả trong gió đông sắp ùa về trên cái đỉnh đèo Non Cao quanh năm gió xoáy và mây mù…”

Hoặc:

“Không gian vắng vẻ, buồn buồn, làm cho người qua đèo bâng khuâng giữa núi đồi sơn cước phía trước và đồng bằng đang trôi xa phía sau. Vách đá lởm chởm đeo bám những mầm dương sỉ xanh nõn vươn lên tầng không. Phía bên vực, dòng suối chảy uốn lượn làm nghiêng những vạt ngô, vạt chuối bao la...

“Mùa thu về làm rực biếc cánh đồng xa bởi những cơn mưa đêm thấm đẫm. Trên triền núi xa xa, có cô bé tay khư khư bông hoa to, cơn gió nhẹ thổi từ cánh đồng làm cho bông hoa chao như ánh lửa…”

Và vẫn là hình ảnh rất thơ, được Võ Thị Xuân Hà chọn, để ra khỏi câu chuyện tình oan trái nơi núi cao, trong đời thường:

“Nàng đứng bên cây phong hương đã già.

“Mùa đông sắp đến gần, những chiếc lá phong hương đang chuyển mầu đỏ dụ. Từ xa nhìn thấy như những vầng hoa đỏ rực in trên nền trời.

“Thời gian cứ trôi lặng lẽ. Người đàn bà vẫn đứng đợi bên đỉnh dốc.

“Nụ cười phảng phất trên môi nàng...” (4)

Nếu “Lời hẹn” có “‘những-chiếc-nêm-thơ-mộng’ chêm giữa những mảng dung tục đời thường” thì, truyện ngắn “Dưới nước” lại là một kết tầng khác. Một hư ảo. Huyễn hoặc tâm linh. 

Tôi vẫn nghĩ, sông nước không bao giờ là tấm gương chết! Sông nước, tấm gương sinh động này, không chỉ cho ta nhiều diện mạo khác nhau mà, nó còn luân lưu những hình ảnh, tư tưởng của ta, chuyển đổi từng giây phút. 

Sông nước, hiểu theo một nghĩa nào khác, cũng chính là nơi vun quén hình ảnh, tâm tư ta nơi những lượng cát bồi nữa.

Phải chăng vì tính huyễn ảo nhiều diện mạo sông nước luôn cho ta, nên trong truyện “Dưới nước”, nhân vật “người ấy” của Võ thị Xuân Hà là nhân vật vắng mặt? Hiện hữu của “người ấy” là tình yêu? Một tình yêu bất tử. Như chân lý - - Chẳng bao giờ chúng ta có thể sở hữu!!!

Khi quảng trường của truyện ngắn “Dưới nước” vừa mở, “người ấy” (tâm bão?) đã lập tức hiện ra:

Bên cầu Đoạn Hà, tôi nói với ông già Tiểu Ngục: Con cần phải đi khỏi nơi này. Con rất nhớ người ấy”. (5)

Đó là phân đoạn thứ nhất của “Dưới nước” gồm 4 phân-đoạn-huyễn-ảo mà, phân đoạn hai, tuy có phần đời thường, nhưng nó vẫn bị cơn bão huyễn hoặc nhấn chìm.

Ở phân đoạn 1 này, có hai nhân vật chính: Nhân vật xưng “tôi” – ngôi thứ nhất và, ông già tên Tiểu Ngục. Bên cạnh đó là hai “nhân vật” tưởng như phụ là, dòng sông Đoạn Hà và, nhân vật “người ấy”. Nhưng như tên gọi, dòng sông đã tiên báo một điều gì, tựa biền biệt đứt lìa! Khi ông gia Tiểu Ngục nhắc nhở nhân vật xưng tôi rằng, đừng quên, cô đã uống nước sông Đoạn Hà, hiểu theo nghĩa, lúc tái sinh, cô đã không còn ký ức. Và, nhân vật “người ấy” cũng chỉ như một nhắc nhở tuyệt vọng của hoài niệm (phản quang chiếc bóng?) mơ hồ tiền kiếp:

“Tôi nói với ông: Con nhớ người ấy!

“Tiểu Ngục hỏi: Tại sao con cứ mãi nhớ một người như vậy? Con đã uống nước sông Đoạn Hà. Con đã cùng ta chịu thử thách qua bao nhiêu khoảnh khắc của nước trời. Mà con ơi, con đâu có thể nhận ra người ấy, vì con nên nhớ con đã uống nước quên?

“Tôi không thể nói với ông tôi nhớ người ấy như thế nào khi tôi hoàn toàn không còn nhớ anh là ai. Ngay cả gương mặt anh, tôi cũng chỉ còn lờ mờ nhìn thấy qua lớp lớp sương mù. Tôi chỉ có thể cảm thấy và tôi luôn nghĩ rằng anh vẫn còn quanh quất đâu đây, trên thế gian đầy ánh nắng.

“Thế là ông già Tiểu Ngục đành quay về nơi có đặt những súc gỗ. Ông đóng cho tôi một chiếc thuyền nhỏ, đủ để tôi ngồi lên và chèo đi. Nhân lúc chủ thiên ngục không để ý, ông đẩy tôi cùng c”on thuyền ra con nước lớn.

“Tôi hẹn: Con sẽ có ngày trở về.

“Tiểu Ngục cười: Con đã trở về rồi. Con ơi, hãy đi đi. Đừng sợ. Cốt nhất là đừng sợ hãi. Nơi ấy sẽ không chỉ có sương và gió.

“Tôi bặm môi bướng bỉnh: Con nhớ người ấy”. (Nđd). 

Bước qua phân đoạn 2, dù được ông già Tiểu Ngục nhắc nhở: “Con đã uống nước sông Đoạn Hà (…) con đâu có thể nhận ra người ấy, vì con nên nhớ con đã uống nước quên?Nhưng không vì thế mà ký ức của nhân vật xưng “tôi” bị xóa sạch. Lý ức đó vẫn thở những nhịp thở sinh động như sông nước. Như hành trình cuộc sống bập bềnh những bất ngờ huyễn hoặc. Tác giả cho nhân vật xưng “tôi” tham dự đoàn khảo sát địa chất một khúc sông; thu nhặt những cục đá mang về để thử nghiệm…

Nhân dịp này, chuyện tình hư ảo của cô và “người ấy” được vén màn sương phủ:

“... ‘Ngày ấy tôi đi cùng một người con trai. Chúng tôi dạo trên hồ này cũng bằng một chiếc thuyền nhỏ. Anh ấy nom thư sinh nhưng khá mạnh mẽ. Anh ấy đã tự tay điều khiển chiếc thuyền đưa tôi ra giữa hồ’

“ ‘Rồi sao nữa?’

“Người đàn ông hỏi như kiểu người ta đưa tay ra giúp những người yếu ớt băng qua đường cao tốc.

“ ‘Rồi gió và lốc nổi lên. Anh ấy đã cố giữ tay lái. Tôi bám chân vào khoang thuyền để giữ thăng bằng. Nhưng gió mạnh quá, mưa rất to, từng hạt nước như quất vào chúng tôi những chiếc roi khổng lồ. Một con sóng bất ngờ chồm lên. Khi ấy con thuyền nhỏ gần như lộn ngược…’

“Một giọt nước mắt lăn xuống gò má cô, tan đâu mất dưới ván thuyền. Người đàn ông dừng tay vẽ, ngẩng lên:

“ ‘Sau đó thì sao?’

“ ‘Chúng tôi không thể lấy nhau…’

“ ‘Vì sao?’

“Cô im lặng.

“Lát sau cô ngẩng lên nhìn người đàn ông. Chính cô cũng không hiểu tại sao cô lại tin cậy và nói với anh câu chuyện của mình.

“ ‘Anh ấy ngủ dưới nước’ ” (Nđd)

Rồi cô “…bị thuyết phục vì vẻ chân tình của anh. Giọng đàn ông trầm ấm như nhắc nhớ cô những gì thật quen thuộc đã xa lâu lắm. Dần dà cô nhìn người đàn ông một cách tin cậy, như thể cô đang tựa vào anh, và phía sau lưng cô rừng già huyền bí dịu dàng, trên đầu cô trời xanh thăm thẳm như vòng tay níu giữ cô với mặt đất ấm áp. Cô nhíu mày nhíu trán, tự đấm tay vào đầu mình: ta đã gặp anh ấy hồi nào nhỉ?”

Nhưng cuối cùng, trước khi phân đoạn hai khép lại, câu hỏi điếng lòng cùa nhân vật xưng “tôi” lại mở ra:

“Mình vẫn không tìm được người ấy. Vẫn không tìm được!”

Ở phân đoạn 3, tác giả cho thấy sự phân thân của kẻ “ngủ dưới nước” hiện ra như chiếc bóng của tiềm thức - - Hay cuộc tương tranh giữa hồi ức của hồi ức; giữa tồn lưu và, ảo ảnh của hư tưởng:

“Gã kia ỉ lại lão già Tiểu Ngục, cứ im lặng chờ đợi dưới nước khiến tôi không tài nào bước được một bước để gần em hơn. Gã là ai tôi cũng không rõ, giống như cái bóng của em vậy. Cái bóng nằm sâu dưới nước, ngủ cùng nước, và lặng lẽ yêu em. Cái bóng ấy thách thức tôi, và chợt gã cất tiếng cười vang như khúc khải hoàn mừng chúng ta mãi mãi không thể nhận ra nhau, lạc lối trên những con đường rừng, đá tai mèo lởm chởm, rắn độc có thể bập vào chân bất cứ khi nào chúng ta sơ hở, nấm độc có thể phả hơi thở hiểm ác vào màng nhĩ, khiến tai chúng ta ù đặc, trí não chúng ta tê liệt.

“Và tôi đã nhẫn tâm để mặc em vác túi đá nặng trên vai, đi liêu xiêu trong gió.

“Tôi không thể giơ tay ra đỡ.

“Ở nơi đây, dưới nước trời, tôi biết tôi đã để mất em. Kẻ chiếm được tình thương của em nằm dưới kia, trong nước”. (Nđd)

Và, phân đoạn 4, Võ Thị Xuân Hà mở một cửa khác. Cánh cửa cuối cùng của “Dưới nước”dành cho Tình Yêu, một bí nhiệm muôn đời khôn giải thích, - - Như chân lý chấp chới giữa hai mặt của đồng tiền hạnh phúc và bất hạnh: 

“Thời gian của em sắp hết.

“Nước trời rơi rơi trên đầu em từng giọt, từng giọt thảm thiết.

“Nhưng anh ơi, cho dù nước quên đã ngấm vào từng mao mạch và hơi thở của em, cho dù trái tim anh chỉ còn là một khối quặng trơ lì không tan chảy bởi những lời mắng nhiếc của ông già Tiểu Ngục, và bởi tình yêu của em chỉ như gió như sương, cho dù dưới nước kia một người vẫn lặng lẽ chờ đợi sự trở về nồng ấm của em, cho dù em sẽ bước qua dải thiên hà để về bên sông Đoạn Hà, làm cai lệ ngàn năm để rồi ông già Tiểu Ngục lại đóng cho em một con thuyền, em vẫn sẽ đi tìm anh.

“Bởi để quên được anh, em sẽ phải đi qua hết những cuộc đời như cuộc đời này”. (Nđd)

 .

Tóm lại, dù cõi-giới văn xuôi của Võ Thị Xuân Hà ở kết tầng nào, hiện thực, thơ mộng hay huyễn ảo thì, với tôi, mai kia, khi nhìn lại văn chương hôm nay của Võ Thị Xuân Hà, hy vọng người đọc nhận ra những trầm-tích-chữ-nghĩa mà, nhà văn này có được trong đời văn của mình.

Du Tử Lê

(Garden Grove, June 2015)

_________

Chú thích:

(1)Nguồn: Wikipedia – Mở 

(2) Tập truyện “Kẻ đối đầu” của Võ Thị Xuân Hà, được giải thưởng sách hay, Nhà XB Hội Nhà Văn – VN năm 1998. Nđd.

(3), (4), (5): Nguồn Website dutule.com - (Theo Triệu Xuân)

Nguồn:

https://dutule.com/p111a6683/12/vo-thi-xuan-ha-tram-tich-chu-nghia-van-chuong-mot-thoi-

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 1171)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1229)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 1916)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 5947)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 5947)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13325)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 30285)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81354)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20319)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
26 Tháng Chín 20219:17 CH(Xem: 212)
những sớm mai tắt nghẹn / thơ giúp tôi cất tiếng nói / thoát ra từ những khung cửa khác nhau / cuộc hẹn hò cùng hoa trắng / đến sự chia tay với thư xanh / những bạn thơ văn hào sảng / mỗi số phận viết lên một đời người / tuổi xế chiều đem lại bao dung / và chữ nghĩa khiến chúng ta gần lại