- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Vết Chân Dã Tràng Của Người Viết Tùy Bút

18 Tháng Giêng 20151:33 SA(Xem: 58160)
BanMai2015
Nhà văn Ban Mai

Trần Vũ thực hiện
Phỏng vấn Ban Mai
VIẾT CHÂN DÃ TRÀNG CỦA NGƯỜI VIẾT TÙY BÚT

 
Trần Vũ: Tập khảo luận Trịnh Công Sơn, Vết Chân Dã Tràng trước khi được Nxb Văn Mới tái bản tại Hoa Kỳ năm 2011, đã được in trong nước và từng bị “đình chỉ giấy phép phát hành”. Chuyện gì đã xảy ra? Có phải vì Ban Mai đã viết về nội chiến trong Ca khúc Da vàng?
Ban Mai: Tập biên khảo Trịnh Công Sơn, Vết Chân Dã Tràng được NxB Lao Động in năm 2008. Năm 2009 Ủy ban Nhân dân tỉnh Bình Định ra quyết định đình chỉ phát hành tác phẩm trên địa bàn tỉnh, với lý do: “có nội dung phản ánh không khách quan, xuyên tạc sự thật lịch sử chiến tranh Việt Nam, xúc phạm những trí thức, nhạc sĩ khác…”
Tập sách này là sự tu chỉnh, bổ sung từ luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Văn học Việt Nam, mà tôi đã bảo vệ năm 2006. Sau khi bảo vệ đề tài với số điểm tối đa, Hội đồng bảo vệ luận văn gợi ý tôi nên viết lại thành sách để công bố. Đến tháng 10/2008 tập sách mới hoàn thành và đến tay bạn đọc. Sau khi xuất bản tôi nhận được nhiều lời khích lệ của giới chuyên môn. Tháng 11/2008, đã có buổi giới thiệu tập sách tại Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông–Tây ở Hà Nội; và được nhiều báo chí trong nước đưa tin. 
Khoảng cuối tháng 3/2009, có một bài viết của ông Nguyễn Hoàn gửi trang web “Bàn tròn Văn nghệ của Hội Nhà văn”, bài viết tập trung phê phán chương IV, phần “Trịnh Công sơn và Chiến tranh Việt Nam”. Cuối bài, người đọc đề nghị Cục Xuất bản thu hồi sách, nếu tôi không viết lại theo đúng quan điểm mà ông ta đưa ra. Tháng 4/2009 Nguyễn Hoàn đăng lại bài này trên Tạp chí Sông Hương, sau đó ngày 8 tháng 5-2009, ông ấy lại tiếp tục đăng trên báo Nhân Dân và Tạp chí Ban Tuyên giáo. 
Đúng như anh nói, phần ca từ phản chiến mà tôi trích từ tập nhạc “Ca khúc Da vàng” của Trịnh Công Sơn để phân tích chiến tranh Việt Nam bị người đọc này lên án, khi tôi cho rằng đây là một cuộc chiến tranh nội chiến. Trong đó có những câu nhận định như: “Cho đến ngày nay, quan điểm về tên gọi cuộc chiến vẫn là điều tranh cãi”, ”Cái bi thảm nhất là ở chỗ: cùng là người Việt Nam, nhưng người Việt lại bắn giết người Việt”… Với quan điểm này tôi bị chỉ trích, cho là “xuyên tạc” và “phi lịch sử”. Trên báo Nhân Dân ông ấy còn cho rằng cuốn sách “phỉ báng xương máu của bao thế hệ cha anh đã ngã xuống tô thắm nền hòa bình của đất Việt.”
Có lẽ chính vì dư luận của những bài báo đăng trên An ninh Thế giới, Nhân dân, Ban Tuyên giáo của bạn đọc này... nên UBND Tỉnh Bình Định ra quyết định đình chỉ phát hành sách trên địa bàn Bình Định. Tuy nhiên, sau đó Nxb Lao Động và Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông-Tây ở Hà Nội đòi kiện UBND Tỉnh Bình Định vì đã ra quyết định không đúng chức năng, kiểu “Phép vua thua lệ làng” và các báo chí trong nước, ngoài nước, lên tiếng nên mọi việc cuối cùng im lặng, sách vẫn phát hành bình thường trên toàn quốc.
 
Trần Vũ: Chức năng đầu tiên của một người viết, là ghi lại những suy nghĩ trung thực của mình. Ban Mai có tin như nhiều nhà văn quan niệm: vì thể hiện trong tiếng Việt, văn chương Việt Nam không thể tách rời khỏi định mệnh dân tộc?
Ban Mai: Tôi nhớ có lần đọc ở đâu đó, hình như Buznik, thi sĩ Nga, ông đề cập đến việc một nhà thơ khi sáng tác không thể tách rời ngôn ngữ mẹ đẻ. “Thi nhân thuộc về thứ tiếng nào thì nên dùng và cũng chỉ có thể dùng ngôn ngữ ấy để sáng tác”, ông dẫn chứng Puskin từng dùng tiếng Pháp để làm thơ và thất bại. Buznik nói, sau khi Liên Xô giải thể, rất nhiều nhà văn Nga ra nước ngoài, nhưng sau đó hầu hết đã trở về dù phần lớn đã có quốc tịch nước ngoài. “Tôi nghĩ đó là vì một nhà văn không thể xa rời môi trường ngôn ngữ mẹ đẻ của mình, Puskin không thể sáng tác lâu dài trong môi trường ngôn ngữ khác, cũng không thể tìm được những cảm hứng sáng tạo”. 
Trước ngày 30/4/1975 Trịnh Công Sơn được các hãng thông tấn quốc tế mời ra nước ngoài, ông trả lời: “Việt Nam là nơi duy nhất tôi có thể sống và sáng tác. Ở nước ngoài, tôi không nghe ra tiếng nhạc trong đầu mình, tôi không nghe được câu thơ tôi viết ra. Tôi thích đi nước ngoài, nhưng nếu ở lâu, tôi sẽ khô cạn và chết mất. Hơi ấm của dân tộc Việt Nam giống như nước cần thiết cho hoa vậy.”
Tôi dẫn chứng hai trường hợp trên để nói đến môi trường sống và ngôn ngữ mẹ ảnh hưởng lớn như thế nào đối với người sáng tác. 
Tuy nhiên, trong thời đại toàn cầu hóa ngày nay, tôi không nghĩ vậy.
Người viết dù có ở nước ngoài, viết trong ngôn ngữ ngoại lai họ vẫn thành công, nếu họ hội nhập tốt. Đơn cử như nhà văn Linda Lê, sinh năm 1963 ở Đà Lạt, năm 1977 cô cùng mẹ sang Pháp, cha cô ở lại Việt Nam. Tác phẩm của cô viết bằng tiếng Pháp và đạt nhiều giải thưởng, được dịch sang tiếng Anh, Hòa Lan, Bồ Đào Nha và tiếng Việt.
Linda Lê từng viết: “Tôi mang đất nước tôi trong tim như một chàng trai mang chiếc bào thai đôi. Đó là sự nối kết dị thường. Nối kết với quê hương tôi… Thật ra cái tôi đang nói chính là một thứ văn chương sinh ra trong sự ám ảnh về một vết nhơ, một sự dị dạng gọi là tính nước đôi. Nhưng tính nước đôi này rồi sẽ chết và sẽ đóng vai trò của một thẩm phán lặng im.” Làm sao một chàng trai lại mang thai được? đó là một cách nói hình tượng khi cô sử dụng cùng lúc hai ngôn ngữ. Mặc dù Linda Lê cố tình chối bỏ ngôn ngữ Việt, nguồn gốc Việt nhưng trong tâm thức cô cũng không thể chối bỏ định mệnh của dân tộc mình, trong vô thức nó vẫn luôn ám ảnh cô và bàng bạc trong sáng tác của nhà văn.
Theo suy nghĩ của tôi, viết trong ngôn ngữ Việt đã hàm ngôn tính cách của một người dân Việt, dù muốn hay không muốn, trong vô thức người viết tiếng Việt đã gắn liền với định mệnh của dân tộc mà mình sinh ra, vì nó đã định hình trong ý thức.
 
Trần Vũ: Cũng có ý kiến nhấn mạnh tình trạng bất lực của đại đa số người viết trước thực tế đất nước. Quá nhiều xáo trộn xã hội, từ đời sống đến lý tưởng, niềm tin, đạo đức thay đổi mà tác phẩm của nhà văn Việt chỉ ghi lại được rất ít những biến chuyển này. Cách nhìn của Ban Mai?
Ban Mai: Người Việt ngày nay, sáng ngủ dậy mở mắt bật ti vi nghe tin tức VT1, mở một tờ báo in Thanh niên, Tuổi trẻ, xem một trang báo mạng Vietnamnet... thấy đầy rẫy những cảnh cướp, giết, hãm hiếp, lừa gạt, tham ô... đó là những tờ báo thuộc dạng nghiêm túc, không phải báo lá cải mà vẫn phổ biến những tin tức trên, điều đó cho thấy có quá nhiều xáo trộn xã hội, từ đời sống đến lý tưởng, niềm tin, đạo đức như anh nói. Đúng vậy. Tình trạng bất lực của đại đa số nhà văn trước thực tế đất nước, không dám nói lên sự thật là có thật. Tại sao như vậy? Tôi nghĩ vì hệ thống lúc này nó vậy, không cho phép phản ánh những tiêu cực mà chỉ thích tô hồng, nếu nói thật sẽ bị liệt vào sổ đen, chụp mũ là bêu riếu đất nước, là thành phần phản động bị nước ngoài giật dây, v.v.. Nhiều nhà văn “sợ hãi”, vì “miếng cơm manh áo”, đại bộ phận không dám vượt thoát những giới hạn vô hình. Vòng phấn vô hình nhưng trừng phạt lại cụ thể.
Những tác phẩm như “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư là một ngoai lệ. Đơn giản, cô kể sự thật về chuyện nghiện rượu, mãi dâm, áp bức phụ nữ, về thân phận con người bé nhỏ trên cánh đồng Dơi quanh cuộc sống của cô, chính vì khi viết cô không hề mang ý thức “giáo dục của cách mạng”, nó lại đập thẳng vào mặt chúng ta cuộc sống trần trụi của một đất nước và soi tỏ mọi vấn đề. Chính điều đó làm nên giá trị tác phẩm. Và những tác phẩm như vậy còn rất ít. Ngọc Tư ngay sau đó đã phải làm kiểm điểm.
Bên cạnh đó, không thể không nói đến dòng văn chương bên lề, tôi gọi bên lề vì các tác phẩm này tác giả tự xuất bản, không được trong nước cấp giấy phép. Phần lớn những tác phẩm này nói được phần nào những xáo trộn, biến chuyển của đất nước. Có thể thấy trong các sáng tác của Cung Tích Biền, đây là một nhà văn mạnh mẽ, không khoan nhượng, ông hiểu rỏ việc ông làm. Với Cung Tích Biền “Văn chương có thể huyền ảo, nhưng trách nhiệm của Nhà văn không thể là một hư ảo.” và ông đã sống như vậy. Đất nước Việt Nam dưới ngòi bút ma mị của ông hiện rõ trong Dị Mộng, Qua Sông, Thằng Bắt quỷ, Ngoại ô Dĩ an và Linh hồn tôi, Đêm Hoang tưởng, Thừa Dư, Mùi của gió mùa, Một phần Khí hậu, Xứ Động vật Mưa hồng, Xứ Động vật vào ngôi, Xứ Động vật màu huyết dụ… Tuy nhiên, những nhà văn như Cung Tích Biền vẫn còn là của hiếm.
 
Trần Vũ: Sau hai thập niên Đổi Mới, với tiến trình toàn cầu hóa bên cạnh phương tiện thông tin internet, các cánh cửa thế giới gần như đồng loạt mở toang cho nhà văn Việt. Ban Mai nhìn thấy hiệu ứng nào, ảnh hưởng ra sao trên tác phẩm của các đồng nghiệp?
Ban Mai: Trong hai thập niên Đổi Mới vừa qua, ảnh hưởng Internet với nhiều luồng thông tin, quả thật đã ảnh hướng lớn đối với những người cầm bút. Lần đầu tiên các nhà văn Việt phát hiện ra những chân trời rộng mở, điều ấy giúp họ học hỏi nhiều điều hay. Những tư tưởng mới, những bút pháp mới, những phương pháp nghiên cứu mới đã góp phần ảnh hưởng trong sáng tác của người viết.
Người đọc có thể nhận ra một dòng văn học khác đã xuất hiện: “dòng văn chương vết thương”, dòng văn chương “vết rạn” ra đời; Dòng văn học ca ngợi, tô hồng đã lui vào quá khứ. Người viết ngày nay đi sâu vào từng góc đời bé nhỏ, những số phận đau đớn của con người do lịch sử gây ra. Bên cạnh đó, một bộ phận người viết “nô nức” làm một cuộc cách mạng tình dục, điều mà Tây phương đã làm từ những năm 60. Các thể loại thơ “hậu hiện đại”, “tân hình thức”, truyện ngắn “trong lòng bàn tay”, truyện chớp, dòng văn học kỳ ảo, hiện thực huyền ảo… được thử nghiệm. Trong số những nhà văn viết truyện ngắn gần đây tôi chú ý đến cây bút trẻ Uyên Lê. Tôi nghĩ nhà văn này ảnh hưởng nhiều ở lối viết mới, không khí truyện huyền ảo, ngôn ngữ tinh tế, bút pháp điêu luyện. Bước vào truyện ngắn “Cửa hàng mua bán giấc mơ”, “Sói”, “Đất, lửa, nước và gió”, “Trở lại đây yêu em”…bạn đọc ngay lập tức bị hút hồn bởi không gian bàng bạc mơ hồ, ngôn từ ma mị đầy quyến rũ. Tôi hy vọng vào những tác phẩm có độ chín sau này của cô ấy.
 
Trần Vũ: Văn chương Việt Nam đang thiếu gì?
Ban Mai: Tôi nghĩ văn chương Việt Nam đang thiếu những nhà văn tài năng. Chính tài năng quyết định tất cả. Khi có tài năng người ta mới có đủ niềm tin vào ngòi bút của mình, mới có một thái độ dũng cảm, quyết liệt để tạo ra những tác phẩm ghi dấu ấn vào lịch sử. Họ sẵn sàng chấp nhận trả giá. Tôi đang nghĩ không biết khi nào văn chương Việt Nam mới có được những tác phẩm như “Chốn xưa”, “Ngân thành cố sự” của Lý Nhuệ… hay những tác phẩm nổi tiếng khác của các nhà văn đương đại Trung Quốc như Cao Hành Kiện, Mạc Ngôn, nước có hoàn cảnh lịch sử nhiều điểm tương đồng với Việt Nam. Chúng ta, chỉ mới đắp vết thương mà chưa dám “phẫu thuật” cắt bỏ những ung nhọt sai lầm của lịch sử. Mặc dù trong nước có Nỗi buồn Chiến tranh của Bảo Ninh, hải ngoại có Mùa Biển động của Nguyễn Mộng Giác. 
Bên cạnh đó Văn chương Việt Nam còn thiếu trầm trọng đội ngũ phê bình văn học nhạy bén, thẳng thắn và chuyên nghiệp. Gần đây có những bút ký đươc nhiều người chú ý như Bên Thắng cuộc của Huy Đức, Đèn Cù của Trần Đĩnh, vì đã nói thẳng, trung thực một thời kỳ lịch sử đã qua theo cách nhìn của tác giả, nhưng những tác phẩm đó chưa là văn chương.
 
Trần Vũ: Như vậy, thế nào là một truyện ngắn hay, một thể loại mà hầu hết các nhà văn Việt đều có nhiều mươi sản phẩm?
Ban Mai: Với tôi, một truyện ngắn hay là một truyện khi đọc xong gấp sách lại, dư âm của nó vẫn còn lắng đọng. Có thể là một nỗi buồn, sự cô đơn, nỗi xót xa, hay niềm đau đớn… tất cả những cảm xúc đó chính là cái đẹp mà tác phẩm mang lại cho người đọc, hơn thế nữa, nó còn buộc ta phải nghĩ mãi về vấn đề mà nó đặt ra. Cách khác, nói như Julio Cortázar: “truyện ngắn hay, giống như một cú đấm thẳng vào mặt làm người đọc knock-out tức khắc.” Tôi nghĩ, cũng là một quan niệm độc đáo.
 
Trần Vũ: Vì sao Ban Mai chọn gửi tác phẩm của mình đến các tạp chí hải ngoại, trong lúc có đến 600 tuần san, nguyệt san, bán nguyệt san và nhật trình tại quê nhà, cùng một rừng website?
Ban Mai: Tôi tin, bất cứ một người viết ở trong nước nào cũng thích làm việc với các chủ biên tạp chí và các trang web ở hải ngoại, vì cảm giác được tôn trọng. Khi bạn gửi bài dù đăng hay không đăng, các chủ biên đều nhanh chóng phản hồi cho bạn biết. Trong khi đó, nếu bạn gửi bài cho các tập san trong nước, bạn không nhận được một tín hiệu gì cả, giống như viên sỏi rơi xuống hồ nước lặn tăm. Bạn phải đợi chờ rất lâu, sau nhiều lần bạn viết thư hỏi, bạn sẽ cảm thấy bị tổn thương. Mặc khác, bài trong nước thường bị kiểm duyệt về tư tưởng, sẽ bị cắt bỏ phần này, phần khác khi đăng, nên nội dung nhiều khi không đúng với nguyên bản. 
Mặc dù, vẫn đăng bài trên các website nhưng tôi cho rằng cầm tác phẩm của mình in trên giấy một cách trang trọng trên các tập san, vẫn làm ta hạnh phúc. Vì ta cảm giác nó hiện hữu dài lâu, công sức của ta được nhìn nhận. Trong khi đó các trang web tuy có lợi thế nhanh chóng, đọc giả phản hồi ngay, người viết có thể sửa chữa dễ dàng liên tục, cả sau khi đăng, nhưng ngược lại tác phẩm đăng trên web sẽ biến mất trên màn ảnh sau một ngày, mặc dù vẫn lưu vào hộp thư ẩn bên trong, nó làm ta hụt hẫng như đang chơi một trò chơi ảo. 
Thời gian gần đây tôi thường đăng bài trên tập san Quán Văn do nhà văn Nguyên Minh chủ biên (ông từng là chủ biên Tạp chí Ý Thức Sài gòn trước 1975). Quán Văn là một tập san tư nhân mới thành lập vài năm ở Sài Gòn, do nhà xuất bản Thanh Niên cấp giấy phép. Đây là một tập san thuần văn chương quy tụ một đội ngũ nhà văn, nhà phê bình trong và ngoài nước. Hàng tháng, ưu tiên giới thiệu những chuyên đề về các nhà văn trước 75, nhằm mục đích bảo tồn văn chương Miền Nam và hải ngoại. Chúng ta bắt gặp nhiều cây bút mới và cũ, nơi gặp gỡ của quá khứ và tương lai.
 
Trần Vũ: Có bao giờ áp lực của kiểm duyệt hay những cấm kỵ vì đạo đức hoặc thuần phong mỹ tục xuất hiện ngay trong quá trình sáng tác và chính Ban Mai tự kiểm duyệt mình?
Ban Mai: Với tôi trong khi viết, ý thức tự do vượt thoát trong sáng tạo và ý thức tự bảo vệ mình vì những cấm kỵ vô hình mà người viết trong nước bắt buộc phải nghĩ đến, luôn song hành cùng nhau. Đó là một cảm giác rất thực. Tuy nhiên, bao giờ tôi cũng luôn cố gắng vượt thoát sự tự kiểm duyệt để đạt được tự do trong suy nghĩ của mình một cách trung thực nhất.
 
Trần Vũ: Ngoài phê bình, điểm sách và biên khảo, Ban Mai còn xuất hiện qua thể tùy bút. Chừng như đây là thể loại tâm đắc và là chỗ trú ẩn riêng. Ban Mai thường xuyên tìm về quá khứ tuổi thơ trước 30 tháng 4, một góc sân trường, một bầu trời niên thiếu, một hiệu sách cũ và cả 700 cây số Quốc lộ 1 khi cùng gia đình di tản từ Quy Nhơn vào Sàigòn vẫn hoài ám ảnh... Dùng chữ ám ảnh, vì Ban Mai không ngừng nhắc lại quá khứ, từ những người bạn thân của cha đi tù vì làm thơ phản cách mạng đến các số báo Văn đã ngã vàng rồi những người lính Cộng hòa tiếp tục sống trong trí nhớ... Ám ảnh, nhưng Ban Mai lại dụng văn tùy bút thật nhẹ nhàng gần như sự hô hấp của một mặt biển thầm lặng. Có phải vì quá khứ dịu êm và mù mờ như sương, hay vì quá khứ chứa nỗi đau nên cần viết thật nhẹ nhàng để nỗi đau không bật máu?
Ban Mai: Câu hỏi thú vị của anh cũng là câu trả lời của tôi rồi, đúng vậy nhiều người bạn đều nói tôi luôn hoài niệm về quá khứ, có lẽ điều đó giúp tôi “sâu lắng” trở lại để tận hưởng những thi vị của thời thơ trẻ mà giờ đây tôi không còn nữa, hạnh phúc gia đình trong ngôi nhà thân yêu mà mình đã sống, cảm nhận những vị đắng, xót xa, ai oán của một thời đã qua để hiểu thêm giá trị của đời sống, cảm thông số phận nghiệt ngã của con người trong cuộc bể dâu. Lịch sử Việt Nam hiện đại là lịch sử của những cuộc chiến, chiến tranh đã cướp đi cuộc sống bao triệu chàng trai trẻ nước Việt khi tuổi đời của họ chỉ mới 17, 18. Không ai có quyền cướp đi mạng sống của ai kể cả nhân danh những lý tưởng cao cả. Mà chắc gì đã cao cả! Tôi mong rằng thế hệ trẻ ngày nay hiểu được sự thật quá khứ, để biết trân trọng và nâng niu cuộc sống này, họ có quyền sống một cuộc đời tốt đẹp như cuộc sống của những con người ở các đất nước tiên tiến khác. Ngày nay, trong thời đại kỹ thuật số, thế giới đã thu hẹp trên những bàn phím, thế hệ trẻ Việt Nam có điều kiện nhìn ra thế giới và tôi tin nỗi đau của quá khứ sẽ không còn bật máu nữa mà sẽ nhường cho sự hòa hợp, tình yêu thương giữa con người với con người.
 
Trần Vũ thực hiện qua điện thư 
Plano, 17 tháng 11-2014
--------------------
* Tốt nghiệp Thạc sĩ Khoa học Xã hội Nhân văn, Ban Mai là bút hiệu của Nguyễn Thị Thanh Thúy, hiện cô làm việc tại Trường Đại học Quy Nhơn. Được biết đến sau khảo luận Trịnh Công Sơn, Vết Chân Dã Tràng, Ban Mai còn là người viết tùy bút với giọng văn nhẹ nhàng thiên về cảm xúc và hoài niệm.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
04 Tháng Ba 201510:58 CH(Xem: 57564)
Anh trở về lật lại kí ức nát nhàu Mẹ chết sau ngày anh đi lính Cha bị bắt, đứa em gái cũng ngã bệnh Hàng xóm chặt ngọn cúc tần đắp mả cho người hàng xóm khác... rồi đi!
04 Tháng Ba 201510:41 CH(Xem: 61113)
Nắng đã vào mùa giêng hai em bắt bóng vợi nhớ nhung đượm màu lửa hạ đường xưa giờ xa quá ngong ngóng gì mà trượt ngã qua mình
04 Tháng Ba 201510:32 CH(Xem: 59579)
Ngày ông Ninh bố của Hùng đến nhà gặp Má, Ngà đi học chưa về. Má kể, ông nói với Má sẽ mang Ngà theo trong chuyến vượt biên.
04 Tháng Ba 201511:33 SA(Xem: 60121)
Xuân mộng sương khói Lạc vào mắt thu Phải đâu em khóc Là giọt mưa sầu
26 Tháng Hai 20154:33 SA(Xem: 54580)
Nah có nghĩa là Không, và em bảo em đã đi hết vòng tròn của chữ không trong đạo phật rồi. Đối với tôi, em là một loài chim lạ, con chim tuyết trong bài hát Snowbird của ca nhạc sĩ xứ Quebec, Gene MacLellan.
26 Tháng Hai 20154:17 SA(Xem: 53062)
Hôm nay, chúng tôi trở về thăm lại nền nhà xưa của nội. Ngày ba sống đã từng ao ước sẽ dẫn đàn con trở về thăm quê cũ. Bây giờ nếu ba còn sống, chắc ông sẽ hạnh phúc lắm. Khu vườn của nội cây chằng chịt, nền đất cũ hoang tàn, ngôi nhà tranh vách đất của nữa thế kỷ trước vẫn đứng im lìm trong nắng sớm. Cây cổ thụ có một tổ ong to đang làm mật. Chu vi khuôn viên đã bị lấn chiếm nhiều.
26 Tháng Hai 20153:55 SA(Xem: 54526)
“Khu rừng này sẽ cho chúng tự do, vậy tại sao chúng vẫn muốn bay khỏi đó. Ông nói với tôi ghét sự trói buộc, vậy tại sao ông không tìm một con dao để cắt những sợi dây đó ra. Hay là…Ông vẫn muốn đứng ở một chỗ để mơ mộng tự do.”
26 Tháng Hai 20151:15 SA(Xem: 57487)
coi phim khiêu dâm một chặp đầu óc bỗng sáng ra đùi. vú và mông có gì lấn cấn nơi câu chữ à phải rồi thơ không đáy tưng bừng chói lọi như gương
18 Tháng Hai 201510:22 SA(Xem: 62315)
Mùa xuân mộng mơ về người yêu đầu Sao không nói với anh về người yêu sau cuối Chợt mắt chiều rất lạ Năm tháng có bao giờ lập lại hôm qua
18 Tháng Hai 201510:16 SA(Xem: 57565)
Ngày ấy mẹ sinh em ra ở làng Hương Hồ bên bờ sông Bạch Yến. Không có con sông nào lặng lờ nước biếc xanh như dòng Bạch Yến, một nhánh của sông Hương tẻ ngang uốn lượn loanh quanh bên làng quê nhỏ nhu mì hiền lành của vùng Hương hồ, tưới mát hết hai triền bờ xanh um, trước khi xuôi về Bao Vinh nhập mình trở lại vào dòng Hương.
16 Tháng Tám 2025(Xem: 7685)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 14913)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 13685)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 14170)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
15 Tháng Ba 202612:47 SA(Xem: 447)
Một Bài Thơ Dịch, 114 Năm Sau Khi Bài Thơ Gốc Ra Đời. LE PONT MIRABEAU - Tác giả Guillaume Apollinaire -1912 DƯỚI CẦU MIRABEAU – Trần C. Trí chuyển ngữ -2026
14 Tháng Ba 202610:45 CH(Xem: 412)
đưa em về qua chợ / bến đò đầy khách rồi / bữa hôm trời trở gió / tháng giêng hai đến rồi
28 Tháng Hai 202612:40 SA(Xem: 1887)
cô ấy cao hơn tôi gần một cái đầu / nhưng điều đó / không làm tôi thấy mình nhỏ lại / khi tôi muốn hôn / tôi không cần nhón chân / cô ấy sẽ cúi xuống / rất khẽ / như một nhành cây / nghiêng vì gió
13 Tháng Hai 20262:55 CH(Xem: 2065)
Tháng Hai / ru nhẹ tình thơ / khẽ nâng vạt tóc / ngủ nhờ trên vai / Tóc thơm một đóa / trăng cài / Đêm quỳnh / thoảng mộng mơ hoài trong ta
(Xem: 1385)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 2402)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 1688)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
(Xem: 2298)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
14 Tháng Ba 202611:58 CH(Xem: 528)
. Mall of America—tên một trung tâm thương mại có thật tại Hoa Kỳ—là nhan đề truyện ngắn của Suzanne Wang.. Tác giả là kỹ sư phần mềm sống tại San Francisco, sáng tác chủ yếu xoay quanh trí tuệ nhân tạo và những tác động của công nghệ đối với đời sống con người. Truyện được tuyển chọn vào The Best American Short Stories 2024 được ghi nhận là một tác phẩm tiêu biểu của văn học Mỹ đương đại trong năm 2024. Câu chuyện mở ra từ hệ thống OmniMall AI với một giọng điềm tĩnh và logic, giải thích trước một ủy ban doanh nghiệp lý do vì sao bộ nhớ của nó không nên bị xóa.Rõ ràng,”tôi” trong truyện chính là OmniMall AI..Các nhân vật hiện ra chủ yếu qua mã số và dữ liệu hành vi (C-2542, A-9921…), phản ánh logic của một thế giới nơi con người được tiếp cận như khách hàng,hồ sơ và đối tượng . “Tôi” chỉ tồn tại qua giọng nói, màn hình và các tương tác lặp lại, đặc biệt trong những trò chơi và hoạt động ca vũ.
14 Tháng Ba 202611:11 CH(Xem: 527)
Xin thưa ngay, “Giáo chủ” đang nói tới đây không nhằm nói về một nhân vật cụ thể, ở một xứ sở cụ thể nào. Và động lực để hắn có đủ lòng dũng cảm (vâng, cần tới lòng dũng cảm) để viết những dòng tạm gọi là “truyện ngắn” cho lành này, chính là tâm sự của một người mẹ - bạn gái hắn, kể với tay nhà báo quèn về chuyện đã “mất” đứa con gái duy nhất tên là MTT cho một đấng “Giáo chủ” cùng hệ thống giáo lý và cái “Thiên đường” của ông ta ra sao…
14 Tháng Ba 202610:34 CH(Xem: 475)
Ở miền sông nước Hậu Giang, nơi những con rạch nhỏ lặng lẽ chảy qua vườn dừa, vườn khóm, người ta vẫn nhớ về một cô gái có nụ cười “tỏa nắng” như nắng tháng Ba phương Nam. Cô tên là Mai Thị Ngọc Linh.
28 Tháng Hai 20263:48 SA(Xem: 1631)
Vợ chồng tay Lộc chuyển nhà, đi ở thuê. Dân khu phố Lợi Giang xì xào, sẵn nhà năm tầng to đẹp thế không ở, đi thuê cái phòng bằng lỗ mũi, vợ chồng con cái đút nút vào với nhau cho nó nhục ra… Nhưng Lộc không thấy nhục. Lộc vốn là công nhân lắp ráp điện tử bên khu công nghiệp gần đó. Vợ ở nhà bán hàng online, nội trợ. Hai con, một đứa lên năm một đứa lên ba đi nhà trẻ cả. Đời sống cũng ổn. Vợ chồng con cái dắt nhau đi thuê căn phòng trong dãy trọ mãi cuối khu phố Lợi Giang, cách nhà cũ độ hai cây số là chuyện cực chẳng đã. Khá xa. Khuất mắt. Chỉ có điều ngày hai buổi đi về, vẫn phải lượn qua ngõ rẽ vào nhà cũ. Hơi khó chịu. Nhưng cứ nhìn thẳng, tăng ga xe máy phóng vèo qua một cái cũng xong. Mẹ Lộc bảo: “Đi cách xa khỏi cái chỗ ma nó quen chốn ấy, cho yên ấm gia đình”. Lộc nghe lời mẹ, lấy cái sự yên ấm gia đình con cái làm trọng.
15 Tháng Ba 2026(Xem: 640)
Gần đây, trong giới văn chương xuất hiện một nỗi lo mới: trí tuệ nhân tạo đang “xâm lăng” lãnh địa thi ca. Bài viết “Phẩm giá thơ trong thời đại AI” của Đinh Thanh Huyền là một trong những tiếng nói tiêu biểu cho nỗi lo ấy. Bài viết được viết với nhiều cảm xúc chân thành, nhiều suy tư đạo đức và một niềm tin rất đẹp: thơ phải là sản phẩm của con người, của trải nghiệm sống, của những tế bào sinh học đang rung động trong thân thể người. Tất nhiên, không ai phản đối niềm tin đó. Nhưng đọc xong bài viết, người ta bỗng có một cảm giác hơi… lạ: các nhà thơ dường như đang sợ AI giống hệt như họ từng sợ rất nhiều thứ trong lịch sử. Và lịch sử thường cho thấy: những nỗi sợ đó hiếm khi đúng.
28 Tháng Hai 2026(Xem: 1350)
Trong đời sống văn chương Việt Nam hải ngoại, có những người viết để nổi danh. Có những người viết để lưu dấu một thời. Có những người viết để giữ lại một phần linh hồn dân tộc mình giữa những bể dâu của lịch sử. Nhà văn, dịch giả Từ Vũ thuộc vế thứ ba, bền bỉ gìn giữ tiếng Việt như giữ một ngọn lửa nhỏ trong gió.
10 Tháng Hai 2026(Xem: 1421)
Bài viết này đặt ra một nghịch lý của Việt Nam đương đại: khi lý tưởng cộng sản vẫn được nhắc tới như nền tảng chính danh, nhưng vai trò thực tế của nó trong đời sống xã hội đã thay đổi sâu sắc. Thay vì tranh luận đúng–sai hay kết tội, tác giả chọn cách phân tích sự dịch chuyển của lý tưởng từ mục tiêu giải phóng sang ngôn ngữ quyền lực. Cách tiếp cận này giúp nhìn lại mối quan hệ giữa ổn định, phát triển và bất bình đẳng dưới một góc nhìn tỉnh táo hơn. Tòa soạn giới thiệu bài viết như một đóng góp cho đối thoại xã hội, với tinh thần viết để hiểu và cùng suy ngẫm
07 Tháng Hai 2026(Xem: 2083)
Sắp đến Tết truyền thống, như một “tập quán” bất đắc dĩ mới, nhiều người đang lo lắng chuẩn bị đón đợi nhằm chống đỡ các chiêu trò hài nhạt chọc cười nhảm trên các phương tiện truyền thông, thì đã bị đầu độc đến nôn mửa bởi hàng loạt thứ văn hóa rác được gọi là “Thơ Văn”, mà lại là “Thơ Văn” đoạt các giải cao ngất ngưởng, được ngợi ca ngút trời theo kiểu “quá lời nguyện hết thành hoàng thổ công”…
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 10318)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 26835)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 33348)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
07 Tháng Năm 2021(Xem: 33385)
...một thập kỷ gian nan của nông dân Dương Nội qua cuộc trò chuyện với anh Trịnh Bá Phương - một trong những người có mặt từ đầu - đã góp phần không nhỏ trong nỗ lực xây dựng sự đoàn kết đấu tranh dai dẳng của bà con. Mong rằng chúng ta sẽ học được nhiều điều từ họ, những người mà nhà thơ Hồng Nguyên gọi là “Áo vải chân không đi lùng giặc đánh”.
(Xem: 8096)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 10430)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 1887)
cô ấy cao hơn tôi gần một cái đầu / nhưng điều đó / không làm tôi thấy mình nhỏ lại / khi tôi muốn hôn / tôi không cần nhón chân / cô ấy sẽ cúi xuống / rất khẽ / như một nhành cây / nghiêng vì gió
(Xem: 3435)
BIỂN CÓ NHIỀU MÀU HỞ ANH – bài thơ của Đặng Hiền viết ngày 16.12.2017, hôm nay trở lại trong một hình hài mới: Blue Rock, với giọng nam trầm ấm, chậm rãi và đầy suy tư. Từ câu hỏi giản dị mà ám ảnh “Biển có nhiều màu hở anh…”, ca khúc mở ra một thế giới yêu thương rất đời: cà phê buổi sáng, âm nhạc không lời, những ước mong nhỏ bé nhưng bền bỉ. Giai điệu Blue Rock khoác lên bài thơ một lớp sóng mới – vừa hoang hoải, vừa ấm nồng – để tình yêu vang lên như biển: không chỉ một màu, mà sâu, rộng và không ngừng chuyển động.
(Xem: 3387)
ĐÔI MẮT EM là một thí nghiệm nhỏ nhưng đầy mở rộng của thời đại AI: nơi một bài thơ có thể hóa thân thành nhiều phiên bản—hay và chưa hay, đơn ca hay song ca, với giai điệu và hòa âm luôn biến chuyển, không còn bị giam trong sự lặp lại sáo mòn. Nhưng sau tất cả, điều còn lại vẫn là phần hồn: ca khúc có chạm được trái tim người nghe hay không, và giọng hát có đủ cảm để ở lại trong ký ức. Phiên bản này được gửi đi như một trải nghiệm—lắng, điện ảnh, và mong manh—để người nghe tự tìm thấy mình trong đôi mắt em. TẠP CHÍ HỢP LƯU
(Xem: 3243)
“Mỹ Hương” là một bản Jazz Ballad dịu ngọt, nơi giọng nam trầm ấm và giọng nữ mượt nhẹ hòa quyện, kể lại một buổi sớm bình yên bên cầu San Francisco. Từ những “hoa cúc trong lòng”, từ bài hát cũ của mùa thu nơi xứ Mỹ, ca khúc mở ra một không gian phủ sương, đầy gió biển, và đầy nỗi nhớ như sương. “Mỹ Hương” là một lời thì thầm Jazz Ballad từ sương thu San Francisco Thân mời quí ACE cùng nghe Ca khúc: MỸ HƯƠNG - thơ Đặng Hiền- (Phiên bản Trắng Đen- Song Ca)
(Xem: 3577)
Trong phiên bản Dream Pop này, bài thơ Mỹ Hương được khoác lên một lớp không khí mờ ảo và chậm rãi, như bước chân ai đó đi giữa màn sương lạnh của San Francisco. Giọng nam trầm thì thầm, hoà vào reverb dày và những lớp ambient pads lơ lửng, tạo cảm giác như một ký ức đang tan ra trong ánh đèn vàng trên cầu Golden Gate.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 5107)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 4565)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 5956)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.