- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Bà Tôi

20 Tháng Chín 20145:03 SA(Xem: 57800)

Ba NgoaiBà tôi thương yêu tôi nhất trong gần hai mươi đứa cháu nội ngoại của bà.  Bà bảo tôi tuy nghịch ngợm nhưng biết nghe lời và học chăm, học giỏi.  Bà cho rằng tôi học giỏi vì tôi mới bẩy tuổi mà đã biết đọc sách, đọc báo, biết xem đồng hồ, biết làm tính cộng tính trừ và biết cả tiếng Tây!

-  Thằng bé sáng dạ ra phết.  Mai sau thế nào Bà cũng được nhờ…

 

Ông tôi mất sớm.  Ông mất từ lúc thầy tôi còn nhỏ, đem theo xuống suối vàng cả nỗi nước ao kỳ nguyện được trông thấy con cái học hành đỗ đạt, nên danh nên phận vẻ vang giòng họ.

 

Lúc sinh tiền - bà tôi kể lại - ông tôi nghiêm khắc lắm, bao giờ cũng khuyên răn, nhắc nhở các con phải chuyên cần đèn sách.  Ông tôi ấp ủ kỳ vọng, gói ghém ước ao, vun trồng tin tưởng bằng cách đặt tên cho các con là Văn, Bút, Thư, Đăng, Nghiên, Nến…  Chao ôi, tấm lòng cha mẹ bao la như biển rộng sông dài.  Ai chả muốn cho con cái nên người, công thành danh toại, chức trọng quyền cao làm rạng rỡ tổ tông, hiển vinh thân phận?  Nhưng trời chẳng chiều người, ông tôi rời cõi hồng trần quá sớm, ngậm ngùi mộng ước trôi theo.  Các bác các chú và thầy tôi đều đi không trọn bước đường khoa cử, thành ra bà tôi đem đặt tất cả kỳ vọng vào nơi tôi, dù tôi không phải cháu đích tôn của bà.

 

Trong đám anh em thúc bá, chỉ có mình tôi được học ở Hà Nội.  Tôi học trường tiểu học Nguyễn Du, gọi nôm na là trường Hàng Vôi.  Bà tôi hãnh diện lắm vì có thằng cháu học trường công nơi đất ngàn năm văn vật.  Bà thường khen tôi thông minh, sáng dạ.  Bà lấy ngón tay dí vào trán tôi:

-  Cái trán này này!…  Mai sau thế nào cũng đỗ ông Nghè, ông Cống nuôi bà.

Rồi ôm tôi vào lòng, Bà âu yếm:

-  Thế nó có nuôi bà không, hay đến lúc làm quan, có nhà cao cửa rộng lại đuổi gái già này đi ăn mày?

Những lúc ấy, tôi dạt dào cảm động.  Tôi dụi đầu trong vòng tay êm ái của Bà, nói lí nhí:

-  Dạ thưa Bà có chứ.  Cháu phải nuôi Bà chứ…

 

Đêm về, tôi nằm mơ.  Tôi mơ thấy mình thi đỗ.  Thấy mình được làm quan, mặc áo gấm, đội mũ cánh chuồn, ngồi trên kiệu có tàn vàng lọng tía, một bầy lính tráng theo hầu…  “Trạng nguyên đầu trọc” vinh quy bái tổ, làng trên xóm dưới đổ xô ra xem mặt ông Nghè, đứng chật ních hai bên vệ đường, trầm trồ bàn tán.

 

Nhưng chỉ là mơ đấy thôi.  Thời buổi tân thời làm gì còn hình ảnh ông Nghè ông Cống với võng lọng nghênh ngang như thời xưa cũ.  Như trong các câu chuyện cổ thần tiên kỳ ảo Bà thường kể cho anh em chúng tôi nghe vào những đêm trăng sáng, trên manh chiếu trải giữa vườn ngào ngạt hương cau, lẫn với mùi thơm dịu dàng tươi mát của hoa chanh, hoa bưởi, và bao giờ cũng bắt đầu bằng hai tiếng “Ngày xưa…” êm đềm huyễn mộng…

 

Tôi bèn mơ thành ông Huyện mặc com-lê, đeo cà-vạt, đi giày đơ-cu-lơ bóng loáng, có tài xế lái ô-tô đưa về làng…  Tôi bắt chước kẻ sang, ngồi chễm chệ nạt thằng tài xế bóp còi cho dân làng xã tránh đường xe chạy.  Tài xế là con nhà Lương.  Thằng du côn chuyên môn bắt nạt, ăn hiếp tôi – phải làm tài xế cho tôi – dạ vâng khúm núm mỗi lần tôi nạt nộ.  “Mày hà hiếp ông thì ông phải hành mày cho hả!...”  Tôi khoái tỉ, lòng phơi phới hả hê.  Tôi tưởng ra cái mặt tôi trong mơ, chắc là hớn hở vênh vang dễ ghét lắm?  Dễ ghét như bản mặt lão phán Dư hách-xì xằng có cái ô-tô cà tàng mỗi lần về từ Hà Nội, chưa tới đầu xóm đã nhặng xị bóp còi như thể ta đây ghê gớm lắm.

 

Tuổi thơ có những giấc mơ quá đẹp, có cả một thế giới kỳ ảo thần tiên.  Tôi sống những ngày óng ả hồn nhiên với không một âu lo tư lự.  Nhìn bà tôi tóc bạc, da mồi, lưng ngày thêm còng xuống vì gánh nặng thời gian, tôi bồi hồi ao ước làm sao có phép, vươn vai thành người to lớn như ngài Phù Đổng, đỗ đạt vẻ vang để bà tôi được sung sướng thỏa nguyện trước khi nhắm mắt như bà thường bầy tỏ.

 

Nhưng than ôi, thời gian trôi chậm quá.  Tôi thủa ấy mới chỉ là đứa trẻ non dại, thỉnh thoảng vẫn còn đái dầm trong giấc ngủ và học hành cũng dốt tàn dốt tệ chứ giỏi giang gì mà bà yêu tôi, lúc nào cũng khen tấm tắc.  Bà bảo tôi học giỏi nhưng tôi tự biết rằng tôi học dốt.  Không dốt mà mãi đến năm lớp Nhất tôi vẫn còn mù tịt không biết làm tính chia số lẻ và chuyên môn cóp-pi toán động tử!...   Cũng bởi lý do tôi cứ bị chuyển trường xoành xoạch nên xáo trộn học trình.  Mỗi lần dọn nhà là một lần tôi phải đổi trường.  Từ trường Hàng Vôi – Nguyễn Du, đến Sinh Từ – Lý Thường Kiệt, rồi Ngô Sĩ Liên, rồi lại trở về Hàng Vôi…  Có năm giữa niên học tôi phải học trường tư nữa.

 

        Thành ra mãi tới cuối năm lớp Nhất, gần đến ngày thi Tiểu học, tôi mới “vỡ” ra, mới biết cách làm tính chia có nhớ!  Có gì đâu.  Một hôm ăn xôi lúa, tình cờ tôi vớ được tờ giấy gói xôi là tờ giấy xé ra từ sách dạy làm toán, bài tính chia có nhớ!  Tôi tẩn mẩn xem qua và hiểu ngay tút suỵt!…  Dễ ơi là dễ, thế mà bấy lâu cứ ù ù cạc cạc, tốn bao nhiêu tiền mua đồ ăn, đồ chơi cúng cho lũ bạn để được chúng nó cho cóp-pi toán đố!

 

Các anh em con chú con bác tôi đều ở Bạch Mai, học trường tư, “Dốt nát lêu lổng làm sao bằng thằng cháu này của bà được?”, bà tôi bảo thế.  Tôi nghe mà nở gan phồng ruột.  Hàng năm vào mỗi độ hè, tôi được theo bà về Bạch Mai một tháng trước khi trở lại Hà Nội học hè.  Tôi đem theo cả sách vở để vây vo, tất nhiên trừ sách toán!  Tôi chỉ đợi mỗi khi có khách lạ hay  những lúc nhà có đông người, làm như chăm chỉ văn bài, làm như hiếu học, lôi sách ra đọc ông ổng những bài Tập đọc, những bài học thuộc lòng trong quyển Tân Quốc Văn, những bài Sử ký…

 

        Thế nào cũng có người chú ý hỏi han, khen ngợi.  Ai khen tôi cũng khiến bà vui lòng hả dạ:

        -  Cháu nó học trên Hà Nội, thông minh đáo để.  Thầy giáo, cô giáo nào cũng khen sáng dạ, học giỏi.  Bác xem, thằng bé chịu khó thế đấy, về chơi mà còn đem theo sách vở để học…  Dễ có mấy đứa chăm chỉ như nó?

       

Tôi như mải mê sách vở không nghe câu chuyện nhưng thực tình vểnh tai nghe chẳng sót một câu, trong lòng khoan khoái.

 

        Tôi buồn cười mãi về chuyện bà tôi khoe với mọi người rằng tôi biết cả… tiếng Tây!  Bà đâu biết rằng tôi “chộ” bà.  Suốt niên trình năm ấy, tôi chỉ có mỗi một bài Việt sử trong đó nói đến một anh Tây mũi lõ: bài Giặc Cờ Đen đánh thành Hà Nội, giết chết Đại tá Henri Rivière ở ô Cầu Giấy.  Hôm đó cả lớp xôn xao.  Thầy viết bài trên bảng cho chúng tôi chép lại.  Cái tên Tây được thầy Doanh viết theo lối phiên âm rời “Hen-Ri Ri-Vi-E-Rơ”, chữ nào chữ nấy to tướng như con gà mái thế mà lũ học trò cứ giả vờ nhìn không rõ, lũ lượt nối đuôi nhau lên tận bảng đen nắn nót cóp từng chữ vào quyển vở, nhao nhao như ong vỡ tổ:

        -  Thưa Thầy chữ này đọc làm sao ạ?

        -  Thưa Thầy chữ này phải viết hoa hay viết thường ạ?

        -  Thưa Thầy sao tiếng Tây gạch nối nhiều thế ạ?...

        Một đứa đưa ra câu trầm trồ ngớ ngẩn:

        -  Thưa Thầy, tiếng Tây… hay nhỉ?!

 

        Lớp học ồn hơn cái chợ.  Lũ nhóc tì chạy đi chạy lại dăm lần bẩy lượt từ bàn học tới bảng đen, chỉ tay, dí mắt vào từng chữ.  Đứa thì lẩm nhẩm đọc thầm, tay cầm quản bút hoa lên không khí như phù thủy vẽ bùa, mặt mũi đăm chiêu chỉ sợ về tới chỗ ngồi mấy cái chữ Tây rơi mất trước khi viết lên trang giấy.  Đứa thì giọng mũi đọc to ra vẻ Tây con, cãi nhau, đẩy nhau, kêu la chí chóe khiến thầy giáo phải đập rầm rầm thước kẻ trên bàn, quát tướng lên bắt về chỗ hết, bấy giờ mới yên đám giặc.

 

        Về nhà, tôi biểu diễn.  Lựa lúc Thầy tôi vui vẻ, tôi đem vở ra, vờ vịt hỏi Thầy tôi cách đọc rồi suốt mấy ngày trời, tôi cứ ra rả đọc đi đọc lại bài Việt sử đến đỗi Thầy tôi cáu sườn, gắt lên:

        -  Học với hành… ngu như con bò!  Có mỗi một bài ngắn vài câu mà lải nhải mãi không thuộc.  Tưởng thế là hay hớm, tưởng thế là thông thái lắm đấy?

 

        Tôi… tịt mít.  Thầy tôi thừa biết tôi vây vo chăng nhố làm tôi ngượng quá, không dám đọc thành tiếng nữa.  Bài học ấy cả lớp thuộc như cháo, đứa nào cũng dơ tay xin đọc bài để được điểm cao.  Thầy Doanh tủm tỉm cười:

        -  Giỏi lắm.  Bài nào các ông các bà cũng thuộc như bài này thì phúc đức cho tôi quá!

 

        Tôi đem bài sử cũ rích về Bạch Mai lòe thiên hạ.  Mỗi lần đọc đến đoạn có tên “Hen-Ri Ri-Vi-E-Rơ” là tôi uốn lưỡi đọc to hơn, ấp a ấp úng làm ra vẻ chữ Tây khó đọc và để ý xem có ai khâm phục tôi không.  Bà tôi trìu mến nhìn tôi.  Nhác thấy anh Hộ con bác Trưởng Văn lẩn quẩn gần đấy, Bà mắng:

        -  Mày xem nó đấy, không bằng một góc nó.  Nó là em, nó bé hơn, thế mà đã biết đọc cả tiếng Tây...  Không biết xấu hổ!  Ngữ này bé không học, lớn làm tướng cướp!

 

        Anh vẫn thường bị Bà tôi chê dốt, đâm ra ghét tôi.  Thấy Bà khen tôi, anh tức, trề môi tương vào mặt tôi một câu:

        -  Tây?...  Tây lai ăn khoai cả vỏ, ăn chó cả lông, ăn hồng cả hột!

 

        Tôi “chuế” quá, không thèm học nữa.  Tôi lôi trong cặp ra tập truyện bằng tranh “Trúc Mai” cắt từ báo Giang Sơn, mấy cuốn tạp chí Mickey, sách hình Zorro, Tarzan, những tập truyện Nhi đồng như “Ông Vua Tai Lừa”, “Hoàng Tử Tí Hon”, “ Cậu Bé Trong Bắp Cải”… bầy ra bàn, dở xem từng quyển.  Tôi gióng tiếng:

        -  Eo ơi ghê quá.  Con cá sấu ghê quá!...

 

        Tôi chỉ cho anh Thọ, chị Dậu từng hình vẽ, giảng giải.  Anh Hộ mới đầu còn làm cao, không thèm lại gần.  Anh lấy đồ chơi bầy ra phản, nói trổng:

        -  Đứa nào theo tao, tao cho cái này…

 

        Anh muốn dụ anh Thọ và chị Dậu bỏ tôi để chơi với anh.  Nhưng mấy cuốn sách hình của tôi quyến rũ hơn bộ khăng, dăm hòn bi đá, con quay tu, mấy đồng xèng…  Những thứ đồ chơi “nhà quê”…!

        Anh Thọ ghé vào tai tôi thì thầm:

        -  Tao thèm vào!  Tao chơi với mày thích hơn.

 

        Tôi ba hoa chích chòe lật những trang hình phụ đề chữ Pháp.  Chỉ xem rồi đoán mò giải nghĩa chứ tôi biết khỉ gì đâu mà anh Thọ với chị Dậu phục tôi sát đất.  Một lát sau, chơi một mình chán quá, anh Hộ mon men lại làm lành.  Tôi tỏ ra mình cao thượng, không chấp nhất chuyện vừa bị anh châm chọc, ngọt ngào nói với anh:

        -  Anh thích xem cuốn nào em cho mượn?  Rồi mai anh đi câu cá, cho em đi với nhá, anh Hộ nhá?…

 

        Chúng tôi quên cả giận hờn.  Những mái đầu xanh chụm lại, hể hả cười nói vang nhà.  Nhìn chúng tôi hòa thuận, bà tôi vui thích vô cùng.

 

&

&    &

 

        Hồi nhỏ, tuy ham chơi nhưng tôi rất mê đọc sách, đọc truyện.  Thầy tôi có cả một tủ sách lớn nhưng tôi không được phép đụng tới.  Thầy tôi bảo đó là những sách truyện dành cho người lớn, tôi chưa đến tuổi để đọc và hiểu.  Thầy tôi sợ tôi mải mê tiểu thuyết xao nhãng học hành…

        -  Cứ học cho giỏi đi, mai kia khôn lớn tha hồ mà đọc.  Chỉ sợ lúc ấy lại mê mẩn ăn chơi không thèm rờ tới sách! 

 

        Thầy tôi chỉ cho tôi xem các loại sách tuổi thơ lành mạnh, những loại Sách Hồng, Nhi Đồng Độc Bản, loại sách Măng Non, Tre Xanh, các truyện cổ tích bằng tranh, các truyện dã sử, phiêu lưu đường rừng… nặng tính chất giáo dục hoặc đôi khi là những tiểu thuyết phong tục, đồng quê, tiểu thuyết xã hội có thể văn nhẹ nhàng như tiểu thuyết của Ngọc Giao, Trần Tiêu, truyện loài vật của Tô Hoài, hay truyện của các nhà văn trong Tự Lực Văn Đoàn, vv…

 

        Vào những ngày nghỉ, Thầy tôi mở tủ lựa ra một hay hai cuốn phát cho tôi đọc, lần nào cũng dặn dò:

        -  Chỉ được đọc truyện sau khi đã học thuộc bài, làm xong bài thôi đấy nhé.  Sách gì cũng thế, phải giữ gìn cho cẩn thận, không được làm rách, không được bôi bẩn, không được làm quăn tai chó…  Học trò phải biết thương quý sách vở.

 

        Tôi nhất nhất vâng lời.  Thầy tôi bảo đọc sách là để mở mang trí tuệ, để học hỏi, để tăng vốn hiểu biết chứ không phải chỉ để giải trí mà thôi.  Thầy tôi cấm tuyệt không cho tôi đọc các sách truyện nhảm nhí vô bổ.  Có lần Thầy tôi cho tôi mượn hai bộ truyện dầy để đọc khiến tôi thích quá.  Đó là cuốn “Lá Huyết Thư” của Đồ Phồn và cuốn “Tiêu Sơn Tráng Sĩ” của Khái Hưng.  Tôi đọc ngấu nghiến chỉ vài ngày là hết.

 

        Truyện “nhảm nhí vô bổ” mà Thầy tôi nói đến, là những bộ truyện kiếm hiệp mà có một lần bắt quả tang tôi dấu trong áo chui vào chuồng xí đọc lén, Thầy tôi đã khện cho tôi một trận  nên thân rồi đem đốt hết.  Tôi nhớ trận đòn đau nhưng vẫn không chừa, vẫn lén đi mua bằng tiền nhịn ăn quà sáng, đi thuê, hay đi mượn bạn bè về đọc.

 

        Tôi là thân chủ của nhà sách phố Hàng Dầu, của nhà xuất bản Văn Hồng Thịnh, của nhà sách Thế Giới.  Truyện kiếm hiệp in từng tập mỏng, phát hành hàng tuần, bán mỗi tập một đồng bạc.  Một đồng bạc hồi ấy là bữa quà sáng linh đình của tôi, mua được một ổ bánh mì ba-tê súc xích tiêu muối thơm lừng, hay một đĩa xôi lạp xưởng ngon lành béo ngậy.  Mấy đứa bạn cũng mê kiếm hiệp như tôi, hôm nào vào lớp cũng đem các tình tiết gay cấn võ hiệp kỳ tình để bàn với nhau, cãi nhau ỏm tỏi về những ước đoán diễn tiến của hồi kế tiếp.  Truyện đọc dở dang tức anh ách.  Chúng tôi chỉ lăm le đợi ngày phát hành, hoặc đi học sớm, hoặc chờ tan học là ba chân bốn cẳng chuồn ra, trước khi hồi trống tan trường chấm dứt, trốn lễ hạ kỳ, chạy thẳng tới nhà sách mua kiếm hiệp.  Sách mới ra lò, chưa ráo mực in, mỗi đứa mua một tập khác nhau như đã thỏa thuận, đem về ngấu nghiến đọc cho xong đêm đó để sáng mai trao đổi.  Có đứa mê quá, vừa đi vừa đọc lắm khi đụng cả vào cột đèn hay bộ hành, hàng quán bên vỉa hè.

 

        Tôi tuy nôn nả nhưng không dám lang thang đọc truyện ngoài đường, nhỡ có ai trông thấy về mách; hoặc Thầy tôi đi làm về tình cờ bắt gặp là ốm đòn.  Những trận đòn thừa sống thiếu chết của Thầy tôi  thật đáng sợ, nhưng cái ham mê của tuổi thơ vẫn mãnh liệt hơn nỗi sợ hãi bị đòn và tôi vẫn chứng nào tật ấy.  Hình ảnh những tay giang hồ hiệp sĩ võ nghệ cao cường biết thuật phi hành, biết phun kiếm quang phì phì ra lỗ mũi trong các bộ Bồng Lai Hiệp Khách, Giao Trì Hiệp Nữ, hay Long Hình Quái Khách… là những thần tượng của chúng tôi.  Quả thật ông Đại tá Hen-Ri Ri-Vi-E-Rơ là ông nào, mặt mũi ra sao, tôi không biết.  Nhưng hỏi tôi về “Thần Hành Thái Bảo” Vạn Nhân Địch, về “Quái Kiệt” Thường Ngộ Xuân, về Ngọc Kỳ Lân, Kim Hồ Điệp, cùng hai chị em Bạch Mẫu Đơn, Hồng Khởi Phượng… là tôi biết hết, quen hết, thân như bè bạn…!

 

        Truyện võ hiệp tôi chỉ đem tán phét với bạn bè trong lớp.  Còn với bà tôi, kho tàng truyện cổ tích của bà toàn những Thần, Tiên, Phật, Bụt hiền lành.  Những con Tấm, con Cám, những anh học trò nhà nghèo hiếu học thi đỗ làm quan.  Những người hóa cóc, người lấy tiên, những thằng Bờm, chú Cuội, Thạch Sanh, Lý Thông, Trương Chi, Mỵ Nương…  Chao ơi, truyện kể của bà đầy những gương hiếu thảo, lễ nhân trung tín ở đời và bao giờ bà tôi cũng mở đầu bằng hai tiếng “Ngày xưa…” và kết thúc bằng câu răn dạy: 

        -  Chúng mày nhớ lấy để mà ăn ở sao cho có nhân có đức, có thủy có chung.  Ở hiền gặp lành, ở ác gặp ác…  Ai như cái thằng Lý Thông, như cái con Cám ấy?  Chúng nó ăn ở bạc bẽo gian ác thế nào cũng bị Trời Phật ra tai giáng họa cho đáng đời đáng kiếp chúng nó.

 

        Ở Bạch Mai, mỗi lần dưới Mơ có phiên chợ, Bà đưa tiền cho tôi theo chị Vy đi mua những truyện bằng thơ về đọc cho bà nghe rồi bà trả công.  Công khó của tôi được bà đền bù bằng dăm hào bạc, bằng cái bánh đa, củ khoai bột, kẹo lạc, kẹo vừng, rổ ngô rang, hay quả na, quả ổi… ăn vào ngọt lịm, thơm bùi, ngát nồng những vị thương yêu đằm thắm của bà.  Những sách truyện bằng thơ của nhà Tân Việt, của Bình Dân Thư Quán ở cuối chợ Đồng Xuân mỏng dính in trên giấy bản, bìa vẽ ngô nghê, văn chương mộc mạc quê mùa nhưng chứa đựng cả một kho tàng luân lý bây giờ không thể tìm thấy ở đâu và chính những trang sách xưa của thời thơ ấu ấy đã mở trí khai tâm cho tôi biết thế nào là trung hiếu lễ nhân của đạo đức con người.

 

        Nhiều khi chỉ có hai bà cháu, vào những ngày hè oi bức, hay những chiều đông ủ dột có mưa phùn buồn sũng không gian, bà nấu chè đậu ván, bà ủ ngô rang để tôi vừa nhấm nháp ăn vừa đọc truyện cho bà.  Bà tôi mua nhiều truyện lắm.  Ngoài mấy bộ kinh Phật và quyển “Sấm Trạng Trình” bà để riêng trên một góc bàn thờ, tất cả sách truyện bà đựng trong một cái thùng gỗ ngay dưới đầu giường bà nằm, trong đó toàn là sách truyện bằng thơ như Kim Vân Kiều, Nhị Độ Mai, Bích Câu Kỳ Ngộ, Nữ Tú Tài, Bần Nữ Thán, truyện Phan Trần, Trinh Thử, Trê Cóc, Phạm Công Cúc Hoa, Tống Chân Cúc Hoa, Phạm Tải Ngọc Hoa, truyện Hoàng Trừu, Chiêu Quân Cống Hồ, Đồng Tiền Vạn Lịch, Gái Khuyên Chồng, Trai Khuyên Vợ, Lý Thị Vọng Phu, Cây Thịt Đội Đèn… ôi thôi kể ra không hết.  Truyện nào tôi cũng đọc đi đọc lại bao nhiêu lần mà bà tôi vẫn thích nghe, trong khi nhiều lúc chán quá, tôi ăn gian bà, đọc bỏ đoạn…

 

        Tưởng bà lim dim ngủ không biết thằng cháu ăn gian nhưng tôi lầm!  Bà tôi thuộc từ đầu chí cuối từng pho truyện, không thiếu một câu, chẳng sai một chữ.  Bà biết ngay chỗ nào tôi đọc sai, quãng nào tôi đọc láo, đoạn nào tôi đọc nhẩy.  Bà mở mắt nhìn tôi, cười độ lượng:

        -  Cha bố thằng lười, mày dám đánh lừa bà nhá!...  Hết câu đó phải tới câu này chứ?...

 

        Rồi bà đằng hắng lấy giọng, ngâm nga cái đoạn mà tôi bỏ qua không đọc.  Tôi bẽn lẽn nhìn bà:

        -  Cháu tưởng Bà biết rồi nên cháu không đọc.  Bà thuộc rồi mà?

        Bà tôi lại cười, tát khẽ vào má tôi:

        -  Bà thuộc đã đành, nhưng mày không được lừa bà.  Những đứa “đi dối cha, về nhà dối chú” hư lắm biết không?  Bà muốn cháu cũng thuộc như bà, bà thích nghe cháu đọc cơ.  Cháu tốt giọng, đọc nghe hay lắm!...

 

        Tôi nghe bà khen tôi tốt giọng, sướng quá, đỏ cả mặt.  Bà tôi khuyên dạy chúng tôi về những điều nghĩa lý bằng các câu chuyện cổ, bằng những câu thơ, các vần điệu ca dao, các câu tục ngữ…  Lúc nào bà cũng nhắc nhở con cháu phải ăn ở hiền lành, tu nhân tích đức.  Anh em trong nhà phải hòa thuận, phải hiếu thảo, phải biết trên kính dưới nhường, thương yêu giúp đỡ người nghèo khó, đối xử tử tế với kẻ ăn người ở trong nhà…

 

        Tôi nhớ những lần đọc truyện “Nữ Tú Tài Di Hoa Tiếp Mộc” cho Bà tôi nghe.  Đến cái đoạn nàng Tuấn Khanh vào ngục thăm cha là Văn Tham Tướng bị vu cáo hàm oan, về cải nam trang lên kinh dâng sớ giải oan cho thân phụ.  Nàng e thân gái dặm trường, ngỏ ý muốn có vợ chồng nô bộc Văn Long theo hầu:

                Ta là thân gái bọt bèo

                Vì cha nên phải quyết liều mình đi

                Quan san nghìn dặm quản chi

                Nhưng hiềm thiếu kẻ nữ nhi theo đòi

                Phiền ngươi kiếm lấy một người

                Trá hình nam tử với ngươi theo cùng…

 

        Tuấn Khanh là tên hiệu của nàng Phi Nga, con gái quan Tham tướng Văn Sác, cưỡi ngựa bắn cung giỏi từ nhỏ.  Nàng giận vì triều đình nhà Tống lúc bấy giờ trọng văn khinh võ nên bèn cải nam trang theo nghề nghiên bút và kết bạn rất thân với Đỗ Tử Trung và Ngụy Soạn Chi.  Ba người cùng thi đỗ Tú tài trong một khoa Hương.  Cả hai chàng Đỗ, Ngụy đều là trang anh tuấn tài kiêm văn võ, Tuấn Khanh khó bề chọn lựa nên nàng lấy cung bắn sẻ để bói xem ai nhặt được thì lấy làm chồng.  Cái trớ trêu của cuộc tình duyên bắt đầu từ trò bắn sẻ này.  Tử Trung nhặt được mũi tên có khắc chữ ký của Phi Nga, nhưng vội trở về bèn giao cho Soạn Chi.  Họ Ngụy hỏi chuyện Tuấn Khanh, cứ yên trí Phi Nga nào đó là chị Tuấn Khanh nên nhờ trao ngọc trang để đính hôn.  Tuấn Khanh thì cũng đinh ninh Soạn Chi là anh chàng bắt được tên, cho là số trời đã định, nhận giữ ngọc trang và định bụng sau khi thi Hội xong sẽ thành hôn cùng họ Ngụy.

 

        Nhưng Tuấn Khanh không đi thi vì sợ bị lộ chân tướng.  Trong khi đó Văn Tham tướng bị tên Binh Đạo vu cáo, vua bắt giam, tịch biên gia sản, cả họ liên lụy nhưng chỉ có Tuấn Khanh được miễn vì là văn nhân.  Nàng vào ngục thăm cha rồi lên kinh dâng sớ khiếu oan.  Tới kinh, vào quán trọ, Tuấn Khanh gặp Cảnh tiểu thư thấy “chàng” nho nhã phong lưu, đem lòng yêu, nằng nặc năn nỉ ông ngoại sang ngỏ lời xin lấy.  Tuấn Khanh từ chối không được, liền đem ngọc trang của Ngụy Soạn Chi gửi cho Phi Nga khi trước, trao cho Cảnh tiểu thư để đính ước, hẹn ẩu rằng sau khi xong việc trở về sẽ làm lễ nghênh tân.

 

        Bấy giờ thi Hội vừa xong, Đỗ Tử Trung đậu Trạng nguyên, Ngụy Soạn Chi đỗ Thám hoa nhưng đã trở về quê.  Tuấn Khanh tìm đến chỗ trọ của Tử Trung nhờ tiễn dẫn vào triều dâng sớ tấu.  Tử Trung xem trộm văn sớ mới khám phá ra Tuấn Khanh chính là Phi Nga giả trai, nên nhất định làm cho lộ chân tướng. Tuấn Khanh biết không thể dấu diếm được, phải thú thực và nói cho Tử Trung hay mình đã lỡ đính hôn với Soạn Chi.  Tử Trung té ngửa, vội phân trần rằng chính chàng là người bắt được mũi tên nhưng đưa cho Soạn Chi mới thành cớ sự…

 

        Hai người thành vợ chồng và sau đó Văn Tham tướng được minh oan, phục chức cũ.  Còn Soạn Chi, anh cu này hí hửng đến chực làm lễ thân nghênh Phi Nga nhưng khi ngã ngũ ra Phi Nga chính là Tuấn Khanh và đã bị Tử Trung phỗng tay trên, bèn biểu diễn màn Tarzan nổi giận!  Để giải quyết, Tuấn Khanh cùng Tử Trung đến thành đô nói sự thực cho Cảnh tiểu thư và làm mối em này cho anh Ngụy Soạn Chi.  Hai bên trả lại của tin cho nhau và bốn họ Đỗ, Ngụy, Cảnh, Văn cùng vinh quy một đoàn náo nhiệt…

 

        Truyện Nữ Tú Tài tình tiết éo le, đủ điều gay cấn, thế mà Bà tôi lần nào cũng chỉ để ý đến những đoạn tầm thường, như đoạn nói về lòng trung nghĩa của vợ chồng Văn Long khi đáp lại ý muốn của cô thiếu chủ:

                Vợ chồng Long mới bảo nhau

                Rằng trong nghĩa nặng, ân sâu chưa đền

                Bây giờ người mắc oan khiên

                Không dưng ai có cần phiền đến ai?

                Con người quốc sắc nữ tài

                Còn liều chẳng nghĩ dặm dài xông pha

                Huống chi hai kẻ chúng ta

                Mình đừng e ngại đường xa nỗi gần

                Hễ lòng ta ở có nhân

                Ắt là thiên địa đền ân sau này

                Vợ Long người cũng ngoan thay

                Nghe lời chồng bảo, bước ngay vào nhà

                Đổi thay quần áo đàn bà

                Mặc đồ nam tử bước ra tức thì…

 

        Bao giờ bà tôi cũng bắt ngưng ở đoạn này.  Bà ôn tồn giảng giải cho chúng tôi về tình phụ tử, nghĩa phu phụ xướng tùy, lòng trung với chủ…

        -  Chúng mày xem đấy để mà làm gương.  Vợ chồng Văn Long là phận con hầu đầy tớ thế mà cũng biết đạo nghĩa thủy chung với chủ, cư xử đúng lẽ cương thường…  Chúng mày học chữ thánh hiền, phải nên bắt chước, làm sao cho khỏi thua kém những đứa tôi đòi ít học.

 

        Chúng tôi ngoan ngoãn nghe lời bà khuyên dạy.  Lời bà như những búng cơm dẻo ngọt, như bầu sữa mẹ thơm lành cho chúng tôi bú mớm.  Lời bà là chất dưỡng sinh, thấm nhuần, chảy mạnh, nuôi nấng tuổi thơ tôi lớn dậy, nên người, cho đến cuối đời, tôi cũng không sao quên được…

 

Đào Vũ Anh Hùng 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
13 Tháng Tư 20154:11 CH(Xem: 60853)
Cho tôi quá giang qua mùa nắng hạ Bỏ mặc phố trôi về phía thật xa Cho tôi quá giang về nỗi buồn hôm bữa Có còn người với góc phố chậm đưa?
12 Tháng Tư 20154:32 SA(Xem: 58664)
Bất ngờ, chị đến gần la lớn. Chào, ông thiếu úy đồn trưởng. Người xe thồ giựt mình sém phun cọng mì, mắt nhìn lấm la lấm lét xung quanh. Tám năm trong tù ra, giờ mới có người gọi ông là thiếu úy. Lạy chị, đừng gọi tôi như rứa. Tôi mới được…từ trại cải tạo về…trả quyền công dân thôi.
09 Tháng Tư 20154:54 CH(Xem: 62744)
Người đàn ông cán sự xã hội rất nhanh nhẹn và hoạt bát, thao thao bất tuyệt với giọng Bắc nhưng vẫn là âm gốc Huế. Anh dí dỏm kết luận bài học công dân đầu tiên: "Xin nhớ cho đây không còn là ở Việt Nam nữa, quý vị bây giờ đang ở trên đất Hoa Kỳ, đã có hoàn toàn tự do, kể cả tự do phê bình tổng thống hay quốc hội, nhưng - anh ta ngưng lại một chút như để tự tán thưởng bằng một nụ cười riêng thú vị: nhưng quý vị sẽ không có tự do trốn thuế. Trốn thuế ở Mỹ thì chỉ có ở tù và được coi là tội nặng nhất..."
09 Tháng Tư 20154:07 CH(Xem: 61959)
Chúng ta đang trên đường đi về phía những ước mơ Nên câu thơ mãi xanh tươi dưới vòm trời khái niệm Mang theo hành trang tình yêu Nào dám nghĩ đó là viên kẹo ngậm Nên sự chỉ định nào cũng đều tối nghĩa phải không em?
09 Tháng Tư 20153:54 SA(Xem: 61312)
Tôi ngồi nhìn thằng bạn chơi games trong căn phòng của nó, một buổi trưa nóng bức, hơi nóng hầm hập nằm bên ngoài ô cửa kính đóng chặt, khung cửa thỉnh thoảng rung lên vì gió. Trong phòng máy lạnh chạy đều đều mang theo một làn hơi mát có tác dụng phụ khiến người ta khô mũi. Ngày chủ nhật, hai thằng con trai chẳng có gì làm ngoài việc nhìn nhau chơi games.
09 Tháng Tư 20153:19 SA(Xem: 57508)
Ới cha ơi, sao nhà cao cửa rộng cha không ở, cha lại bỏ con bỏ cháu mà đi, ới cha ơi! - Ới cha ơi chúng con ăn ở với cha như bát nước đầy sao cha lỡ bỏ chúng con mà đi cha ơi! Phướn, người con thứ hai phủ phục xuống quan tài cha khóc nức nở, tiếng khóc không lâm li nhưng cũng đủ làm cho lòng người đến viếng đám ma xao động mà thêm thương tiếc cho ông Phượng
09 Tháng Tư 20152:57 SA(Xem: 59391)
Dì Cúc nê cái bụng bầu bảy tháng lặt lè chăm vườn hoa cúc trắng. Chỉ có Dì mới được sờ vào hoa, bất kể ngày đau ốm. Hai hàng hoa cúc trắng tạo thành lối đi zích zắc, rắc rối như cuộc đời của dì, chạy từ ngõ tận hiên nhà. Bây giờ chòm xóm đã quen dần cái bụng lúp xúp của dì. Dăm tháng trước, tin dì có bầu chấn động cả thị trấn nhỏ bé có duy nhất một con lộ. Dì không có chồng lẫn bạn trai mà có bầu...
09 Tháng Tư 20152:43 SA(Xem: 61846)
hắn chờ vờ chàng vàng một hồi cũng nặn ra hình tượng những con chữ. mặt. cắt không còn một hột máu
09 Tháng Tư 20152:34 SA(Xem: 59199)
Nếu cụ Nam Cao còn sống, cụ sẽ bình là đôi lứa xứng đôi. Ở nước Việt mình bây giờ, đại gia và người đẹp chân dài luôn là một cặp phạm trù gắn bó hữu cơ. Không phân biệt đâu là chủ thể, đâu là khách thể.
26 Tháng Ba 20153:34 SA(Xem: 57211)
Ngôi nhà ấy tuổi đã hơn 100 năm, đó là tất cả những ký ức thuộc về người xưa: ông cố, ông nội và ba hắn. Nơi ấy vẫn còn lưu giữ những kỷ niệm phai mòn như con ngựa gỗ cũ được ông nội gọt đẽo từ thứ gỗ gụ đen cứng. Thời gian đã đã phủ một lớp bụi mờ trắng mỏng trên những đường vân gỗ, từng cái kèo cột, cả bộ ngựa ba mảnh đặt cạnh gian giữa nhà trên.
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9478)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16347)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15289)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15665)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 1879)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 1955)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 1991)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
23 Tháng Tư 20269:06 CH(Xem: 2344)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 4400)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 6211)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 5536)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
(Xem: 6131)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 1643)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 1862)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
23 Tháng Tư 20262:19 CH(Xem: 2064)
Xe lăn bánh, bụi mù mịt xóm Chùa. Tôi nhìn theo cái xe biển xanh của Thuận, vừa buồn cười vừa thấy lòng nhẹ nhõm. Thuận có làm đến bộ trưởng thì cái tính khôn lỏi, dỗi dai và cái kiểu "anh anh em em" nửa đùa nửa thật để rồi dúi vào tay người khác cái chổi quét nhà, con dao băm bèo, thái khoai chắc cũng chẳng bao giờ bỏ được. Mà thôi, cái làng Đá này nếu thiếu một thằng Thuận cứ thích bĩu môi, thích mắng người khác là "ngu lắm cơ" rồi nguây nguẩy cái mông quay mặt đi cười thầm thì chắc cũng chẳng còn chuyện hay ho gì để mà kể.
19 Tháng Tư 202611:05 CH(Xem: 1929)
Biển Nha Trang có những ngày lặng gió. Nước trong xanh. Nhưng cái lặng ấy không phải lúc nào cũng bình yên. Có những cơn sóng được giấu rất sâu. Cuộc đời Thục Nhi cũng vậy.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1730)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1558)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1738)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 1723)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 12503)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 28704)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35249)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
07 Tháng Năm 2021(Xem: 35115)
...một thập kỷ gian nan của nông dân Dương Nội qua cuộc trò chuyện với anh Trịnh Bá Phương - một trong những người có mặt từ đầu - đã góp phần không nhỏ trong nỗ lực xây dựng sự đoàn kết đấu tranh dai dẳng của bà con. Mong rằng chúng ta sẽ học được nhiều điều từ họ, những người mà nhà thơ Hồng Nguyên gọi là “Áo vải chân không đi lùng giặc đánh”.
(Xem: 10035)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 12089)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 1374)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 1955)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 2344)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 2482)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 2878)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 7140)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 6561)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 8598)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.