- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Mai Thảo, anh tôi

27 Tháng Tám 201412:00 SA(Xem: 58301)

web-maithao-cl
  Mai Thảo - ảnh Cao Lĩnh 88

Gia đình chúng tôi có mười bốn anh chị em, gồm năm anh em trai và chín chị em gái. Anh Mai Thảo là người thứ năm trong gia đình. Hai người chị và một người em gái mất sớm. Tới năm 1975, chúng tôi còn lại là mười một người. Tính theo anh em trai, anh là con trai thứ ba. Anh cả tôi là Nguyễn Đăng Thiện, anh kế là Nguyễn Đăng Viên rồi đến chị Tuyết là người chị gái đã mất vì bệnh thương hàn năm chị hai mươi tuổi. Tiếp đến là anh Mai Thảo. Sau đó là chị Mai, chị Oanh (đã mất), rồi đến tôi. Tiếp theo là Yến, Hồng (đã mất), Vân hiện còn ở Việt Nam, Loan và Thành. Thành là em trai út trong gia đình. Trên Thành là một em gái tên Phượng, mất lúc em mới một tuổi. Cha mẹ chúng tôi đều mất ở Việt Nam. Cha tôi qua đời năm 1977, mẹ tôi mất mười năm sau.

Mai Thảo sanh ngày mùng 8 tháng 6, năm 1927 tại làng Chợ Cồn, xã Quần Phương Hạ, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Nhưng sinh quán của tổ tiên tôi là làng Thổ Khối, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh. Thổ Khối là một làng nhỏ bên bờ sông Hồng Hà và cách Hà Nội chín cây số. Vì thế có nhiều người cho là văn anh Mai Thảo có hai nét đặc thù: một là của Nam Định, hai là trong tâm hồn đã ươm sẵn nền văn học Bắc Ninh, ở đó đã có nhiều nhân vật nổi tiếng trong lịch sử văn học. Đa số người làng Thổ Khối đều rời làng đi học hay đi làm phương xa. Cha mẹ tôi rời làng Thổ Khối lúc ngoài hai mươi tuổi và về lập nghiệp ở Nam Định.

Sau khi hết tiểu học, anh Mai Thảo lên học ở thành phố Nam Định, tôi không nhớ rõ đó là trường Saint Thomas hay trường Jules Ferry, và học cùng trường với anh Vũ Quang Ninh. Xong đệ nhất cấp trung học, anh lên Hà Nội. Lúc đó hai anh tôi là Nguyễn Đăng Thiện và Nguyễn Đăng Viên đang học ở Lycée Albert Sarraut. Anh Mai Thảo vào học ở trường trung học Đỗ Hữu Vị, sau này trở thành trường trung học Chu Văn An. Cha mẹ tôi mướn cho năm anh em tôi một căn nhà ở đường Đỗ Hữu Vị. Xế cửa trường Đỗ Hữu Vị. Mỗi sáng, anh Mai Thảo chỉ bước qua đường là tới trường. Hai anh Thiện và Viên đi học ở Albert Sarraut bằng xe đạp. Tôi đi bộ tới trường tôi là trường Saint Pierre, một trường của các bà sơ người Pháp ở gần nhà thờ Quan Thánh, Hà Nội. Trong suốt thời kỳ chiến tranh Pháp-Nhật, anh em chúng tôi ở căn nhà này và cha mẹ chúng tôi mướn bồi, bếp để lo vấn đề ăn uống cho chúng tôi. về sau, các trường đều phân tán ra khỏi Hà Nội để tránh máy bay đồng minh oanh tạc. Anh Mai Thảo theo trường về Hưng Yên. Khi chiến tranh Việt-Pháp bùng nổ, năm anh em trai chúng tôi lại di tản từ Hà Nội về căn nhà của gia đình ở Nam Định.

Anh Mai Thảo đặt tên căn nhà này là "Căn Nhà Vùng Nước Mặn", nơi đó chúng tôi đã sinh sống một thời niên thiếu đầy thương yên và hạnh phúc. Cái căn nhà đó ở làng Chợ Cồn, huyện Hải Hậu. Cả trăm năm về trước, Chợ Cồn là một vùng biển, dần dà đất bồi lên thành một bãi cồn. Một vị Thượng Thư triều Nguyễn đã xin chính phủ bảo hộ cho đắp một con đê ngăn chặn nước biển mặn để biến nó thành một vùng đất phì nhiêu. Hải Hậu là một huyện ở sau biển và là một trong những vùng trú phú nhất của Nam Định. Căn nhà chúng tôi ở là một dãy nhà gạch, mái ngói hai tầng, có cổng cao và tường gạch bao quanh nhà. Phía sau có kho chứa lúa gạo, kho chứa hàng, có nhà cho người giúp việc ở, có vườn cây ăn trái, và nhất là có một sân xi măng rất rộng. Vào dịp nghỉ hè, anh em chúng tôi dùng sân này để chơi quần vợt, đá banh hay bóng bàn. Tới mùa gặt lúa, sân dùng để phơi thóc. Những đêm trăng sáng, các tá điền đập lúa trên sân, vừa hát hay hò cho vui. Trước mặt và bên hông nhà là con sông đào, thuyền bè qua lại nhộn nhịp vào những ngày họp chợ. Cha tôi là một thương gia và là một địa chủ rất giàu có. Vì thế chúng tôi có một đời sống thơ ấu rất sung sướng, chỉ biết cắp sách đến trường không phải lo lắng chi cả về sinh kế. Lớn lên cả năm anh em chúng tôi đều xa nhà đi học ở Hà Nội, chỉ về thăm nhà vào những dịp Tết hay những kỳ nghỉ hè.

Khi kháng chiến bùng nổ, chúng tôi rời Hà Nội, về sống chung với nhau ở căn nhà vùng nước mặn. Dân làng đa số theo đạo Thiên Chúa. Gia đình chúng tôi theo Phật giáo, nhưng cha mẹ chúng tôi rất được kính trọng, không bị chính quyền cộng sản hay địa phương phiền hà gì. Tuy nhiên tình trạng ấy không thể kéo dài, bởi vì năm thanh niên như chúng tôi không thể không gia nhập các đoàn ngũ cộng sản được. Về sau, anh Thiện phải vào Thanh Hóa dạy học. Cha tôi và anh Viên dùng các ghe lớn của nhà để chuyển gạo và muối từ Nam Định lên bán ở các miền sơn cước. Anh Mai Thảo rời nhà để đi Thanh Hóa và gia nhập hàng ngũ kháng chiến. Một số bạn cùng học của anh Mai Thảo ở trường Đỗ Hưu Vị gia nhập Trung Đoàn Thủ Đô để bảo vệ Hà Nội. Một số khác ra hậu phương tham gia vào các đơn vị chiến đấu. Anh Mai Thảo gia nhập các đoàn văn nghệ đi khắp nơi, từ Liên Khu Ba, Liên Khu Tư tới chiến khu Việt Bắc. Sau này, Mai Thảo thấy một số bạn hữu chết trong cuộc chiến, một số khác bị cộng sản loại ra khỏi hàng ngũ kháng chiến, anh quyết định trở về thành. Sự nghiệp văn chương của anh bắt đầu một khúc quanh quan trọng từ đó.

Cha mẹ tôi muốn các con trai giống như anh trưởng chúng tôi là học Luật để đi vào con đường hoạn lộ, hoặc làm quan, hoặc làm với chính phủ. Anh Thiện đã theo đúng con đường đó, thay vì ra làm quan thì anh hành nghề luật sư. Anh thứ hai là anh Viên chỉ học năm thứ nhất trường Luật Hà Nội rồi bỏ và tham gia ngành hành chánh. Anh Viên làm tỉnh trưởng ở nhiều nơi Hưng Yên và Thái Bình. Khi anh làm tỉnh trưởng Hưng Yên, anh chưa tới 30 tuổi. Chỉ có một người duy nhất trong gia đình tôi theo đuổi sự nghiệp văn chương là anh Mai Thảo.

Tôi nghĩ anh Mai Thảo là người mang dòng máu thơ văn Bắc Ninh của mẹ tôi. Ông ngoại tôi là mộ đông y sĩ, rất giỏi về y, lý, số, thích nuôi và cưỡi ngựa. Ông ngoại tôi tới lập nghiệp ở Vĩnh Yên khi mẹ tôi còn nhỏ. Anh Mai Thảo đã viết một truyện ngắn rất hay về ông ngoại tôi, về Vĩnh Yên và vùng đồi Tam Đảo. Mẹ tôi không viết văn, không làm thơ nhưng bà rất yêu mến văn chương. Bà thuộc rất nhiều cổ văn: từ Truyện Kiều, Nhị Độ Mai, Tống Trân -Cúc Hoa, cho đến Tam Quốc Chí và giải thích từng chi tiết trong những bữa cơm gia đình. Mẹ tôi rất thích đọc báo Phong Hóa, Ngày Nay, đọc từ trang đầu đến trang cuối không bỏ một mục nào, kể cả rao vặt. Mẹ tôi thích bàn luận về thời cuộc chính trị, nói về Nguyễn Thái Học, Cô Giang, Cô Bắc, những anh hùng liệt nữ Việt Nam một cách tường tận. Mẹ tôi có một giọng nói dịu dàng và truyền cảm. Sau này, đôi khi nghe anh Mai Thảo nói chuyện về văn thơ tại các hội trường, tôi liên tưởng tới mẹ tôi. Anh cũng có lời nói dịu dàng và truyền cảm ấy, nhất là khi anh không say.

Trong thời gian đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, quân đội Pháp cố gắng nới rộng vùng kiểm soát ở Nam Định. Cuộc chiến ngày càng khốc liệt. Các đơn vị dân quân du kích, với vũ khí thô sơ, tìm mọi cách để ngăn chặn các cuộc hành quân càn quét của quân đội Pháp. Các chiến thuật táo bạo được áp dụng. Và các đội cảm tử ôm bom ba càng ra đời. Bom ba càng là một khối thuốc nổ hình nón, đầu nhọn gắn vào một cây gậy dài, đầu đáy hình nón gắn vào ba cọc sắt bằng ngón tay út và dài chừng 5cm, một đầu cọc sắt gắn liền với hạt nổ của trái bom. Khi lâm chiến, các cảm tử quân ôm bom ba càng, đợi chiến xa địch tới gần, lao mình vào chiến xa cùng với trái bom. Ba cọc sắt đập mạnh vào hạt nổ và trái bom nổ tung cùng với chiến xa và cảm tử quân. Chợ Cồn được chọn làm nơi trình diện đội cảm tử 12 người với đồng bào trước khi các Kinh Kha Việt Nam này lên đường hy sinh cho tổ quốc. Lúc ấy, mẹ tôi là Chủ Tịch Hội Phụ Nữ, và bà được đề cử đứng ra đọc bài diễn văn tiễn đưa các chiến sĩ bom ba càng "vị quốc vong thân". Trước hàng ngàn người im lặng, mẹ tôi ứng khẩu nói rất cảm động bày tỏ lòng tri ân của đồng bào hậu phương đối với các chiến sĩ hy sinh cứu nước và dựng nước. Cuối bài diễn từ, mẹ tôi ngâm hai câu thơ trong Truyện Kiều:

"Tiễn đưa là bữa hôm nay,

Ngày về xin đợi ngày rày năm sau."

Khi mẹ tôi dứt lời, mọi người đều òa khóc. Vì mọi người đều biết, chiến sĩ bom ba càng một đi là không trở lại, nói chi tới "ngày rày năm sau".

 

Những năm gần đây, ai cũng công nhận là anh Mai Thảo làm thơ rất hay, nhưng anh bắt đầu làm thơ từ bao giờ, thì ít người biết. Sự thực anh Mai Thảo khởi đầu sự nghiệp văn chương của anh bằng thơ. Anh đã viết thơ từ hồi anh học trung học, khoảng 18 tuổi trở đi. Anh yêu thích thơ, thuộc thơ, đọc thơ và viết rất nhiều thơ. Anh làm thơ dễ dàng. Những bài thơ đầu tay của anh rất dài, khoảng từ ba đến năm sáu trang giấy. Anh có thử viết kịch thơ như kịch thơ Hoàng Cầm. Anh làm thơ, thấy không vừa ý, xé đi, rồi viết tiếp. Anh chép tay trên giấy, nét chữ đẹp và đóng thơ thành tập. Hồi ấy, gia đình anh Văn Phụng tản cư về ở gần nhà chúng tôi. Anh Văn Phụng là em chú bác với anh rể tôi. Anh Văn Phụng viết chữ lớn và vẽ đẹp. Anh Mai Thảo bảo tôi đưa tập thơ đến anh Văn Phụng để anh Văn Phụng kẻ chữ và minh họa. Những hình vẽ của anh Văn Phụng thường là khuôn mặt thiếu nữ Việt Nam với suối tóc dài. Một vài ngày sau tôi trở lại lấy tập thơ đưa về cho anh Mai Thảo. Không biết anh Mai Thảo có giữ những tập thơ này không, và nếu có, bây giờ thất lạc ở đâu? Anh Nguyễn Hưng Quốc nói "ít thấy ai yêu thơ như Mai Thảo". Nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng thích Mai Thảo nói chuyện về thơ, sau khi đã "ngà ngà". Phải là người yêu thích thơ, nghiên cứu về thơ, làm thơ từ nhiều năm mới có một tâm hồn thơ phong phú như Mai Thảo.

Bề ngoài Mai Thảo là một người cô độc, không gia đình, không vợ con. Những người trong gia đình tôi, ai cũng yêu mến anh. Anh rất tình cảm, rất thẳng thắn và thực tình. Về mặt riêng tư, anh giữ kín cho anh đời sống của riêng mình, không hề thố lộ tâm tình với ai kể cả những người rất thân. Cho nên không ai biết được tình cảm của anh dành cho gia đình như thế nào. Mai Thảo muốn có một đời sống tự do, dưới mọi hình thức. Anh viết:

"Tôi tự do phơi phới một đời

Sao từng lúc lòng còn nhỏ lệ..."

Có một lần trong gia đình tôi có giỗ. Cha mẹ tôi bảo đi gặp anh Mai Thảo và nhắc anh ngày mai nhà có giỗ, anh nhớ về. Tôi lên tòa báo gặp anh, nói cho anh biết, cha mẹ muốn anh về để cùng họp mặt. Ngày hôm sau, cả nhà đợi hoài từ trưa cho đến chiều đến tối, hết cả ngày cũng không thấy anh về. Thế là cả nhà làm giỗ không có anh. Ngày kế tôi lên quán Chiều Tím hỏi anh:

"Sao hôm qua cả nhà đợi mà không thấy anh về?"

Tôi nhớ, lúc đó, một buổi chiều Sài Gòn, anh ngồi nhìn qua cửa sổ trong căn phóng phía trên quán Chiều Tím, anh nói:

"Tôi nghĩ là tôi cũng bậy quá. Chiều qua, lúc về tới nhà, tôi say quá. Đến khi tôi tỉnh dậy thì đã trễ rồi. Tôi chỉ mong cha mẹ và gia đình coi tôi như chiếc lá đã lìa cành, chim đã ra khỏi tổ rồi. Khi lá lìa cành, chim ra tổ, không có nghĩa là lá đã quên cành, chim không nhớ tổ. Nhưng mà cái lá đã quen phương trời của nó rồi, con chim có thương có nhớ tổ cũng đành mà thôi. Gia đình cũng hiểu là tôi còn có bạn bè, còn có sự nghiệp của tôi mà tôi không muốn đời sống và sinh hoạt của tôi bị ràng buộc. Sống với bạn bè, nhiều khi tôi vắng nhà cả hai ba tuần. Vì thế, nếp sống ngăn nắp của gia đình không thể giữ tôi lại được."

 

Mai Thảo có một vẻ lạnh lùng, một dáng điệu chừng mực, nhưng thật ra anh là một người rất giàu tình cảm thương quý gia đình và nhất là đối với anh em, các cháu. Đọc những truyện ngắn, truyện dài của anh, những truyện hay nhất vẫn là những truyện anh viết về gia đình. Ở đó, tuy không nhắc tới tên, nhưng anh em chúng tôi đọc và biết rõ là anh đang nói đến ai. Anh viết rất nhiều về gia đình tôi, về căn nhà ở vùng nước mặn, về những ông bác, những người cháu, những đứa em của anh. Viết với một ngòi bút sâu sắc và tình cảm.

Trong căn phòng số 209 của anh ở đường Bolsa có cây đèn ở đầu giường. Tôi lên dọn phòng, thấy cây đèn đã cũ và chụp đèn bị vỡ, tôi đòi vứt đi và mua cho anh cây đèn khác. Anh bảo tôi:

"Cậu để đấy cho tôi. Cây đèn này là của cháu Dung (con gái lớn của tôi) cho tôi đã nhiều năm và tôi muốn giữ để làm kỷ niệm. Tôi yêu thích cây đèn này, dù chụp đèn vỡ, nhưng cứ để đó, đừng vứt đi."

Cả khối gia đình chúng tôi yêu quý anh. Chị Kiều Chinh đã thấy điều đó trong khoảng thời gian anh Mai Thảo lâm trọng bệnh. Các cháu, các con lúc nào cũng sẵn sàng túc trực bên anh, ngày cũng như đêm, chỉ mong sao sức khỏe của anh, của bác được trở lại bình thường. Anh Mai Thảo có gia đình theo cái nghĩa gia đình của một người nghệ sĩ, chứ không phải trong một trật tự gia đình bình thường. Cha mẹ tôi cũng hiểu điều đó, nên dù cái lá đã lìa cành, chim đã bay ra khỏi tổ, nhưng lá vẫn là của cành và chim vẫn nhớ hoài về tổ. Chúng tôi tôn trọng tự do của anh và để anh được sống riêng với nếp sống nghệ sĩ của anh.

 

Về vấn đề gia đình anh Mai Thảo đã nói nhiều lần với cha mẹ tôi và với cả chính tôi. Anh quan niệm đời sống của nghệ sĩ không thể ràng buộc với gia đình. Anh kính trọng đàn bà, nhưng anh nghĩ, không người đàn bà nào có thể chịu đựng được một người chồng cứ nay đây mai đó. Anh nói: "Chiều nay tôi về nhà, ngày mai tôi có thể đi một nơi khác. Tôi có thể qua Âu châu, tôi có thể đến nhà một người bạn và ở lại mấy tuần. Không một gia đình nào có thể chịu đựng được một người chủ gia đình, một người chồng như vậy. Nên tôi chấp nhận đời sống độc thân." Có một lần, trong thời kháng chiến, cha mẹ tôi đã đi hỏi vợ cho anh, nhưng vì chiến cuộc, lần đi hỏi vợ này không thành. Từ đó, anh không còn đề cập việc lập gia đình với cha mẹ tôi nữa.

Mai Thảo đã dành cả cuộc đời anh cho văn học nghệ thuật và bạn hữu. Khi anh vượt thoát khỏi Việt Nam, tôi là người bảo lãnh cho anh. Lúc đó gia đình tôi còn ở Syracuse, một thành phố của các trường đại học thuộc tiểu bang New York, gần biên giới Canada. Tôi còn nhớ ngày đầu tiên, buổi sáng gia đình tôi đón anh ở phi trường về, buổi chiều tôi đưa anh tới một kho rượu. Anh thích lắm vì ngoài cửa kho nó treo tấm bảng với hàng chữ: Chúng tôi không sản xuất rượu, nhưng chúng tôi có sẵn trên sáu triệu chai rượu ở khắp nơi trên thế giới để cung ứng nhu cầu của quý vị. Chúng tôi bước vào kho rượu và thấy họ đã nói đúng. Anh Mai Thảo ngạc nhiên vì nó đã không thiếu bất cứ một thứ rượu gì mà anh biết cả. Anh mua rượu, một số các fromages anh thích, và một số đồ hộp. Về nhà anh nói với vợ chồng tôi:

"Sau những năm bị Cộng sản truy nã ở Sài Gòn và sau những lần chiến tranh ở Việt Nam tôi không còn thấy ham muốn gì nữa. Tôi sẽ ở lại với gia đình Khánh, và tôi sẽ không đi nữa."

Anh nói thì tôi cũng chỉ biết vậy thôi. Tôi mừng, vì có lẽ anh nói đúng. Sau những khủng hoảng chiến tranh, đây là lúc anh cần nghỉ ngơi, rồi mọi việc nó sẽ ổn định. Sau bữa ăn sáng, vợ chồng chúng tôi đi làm, các cháu đi học, anh ở trong căn phòng dành riêng cho anh. Buổi trưa anh đi bộ ra quán ăn người Ý ở gần nhà, ngồi uống rượu, cà phê. Mọi việc trôi chảy như thế được một tháng. Sau đó, bắt đầu có thư từ mọi nơi gởi về. Mỗi sáng, anh nhận được từng cọc thư dầy cộm và điện thoại từ các nơi gọi về. Cho tới tháng thứ ba thì tôi thấy anh thường ngồi trong phòng nhìn ra ngoài vùng tuyết phủ. Anh viết thư cho bạn bè và thư từ, điện thoại ngày một nhiều hơn. Tôi có cảm tưởng là tôi không giữ anh Mai Thảo ở lại với Syracuse được bao lâu nữa. Và một buổi chiều, anh đã tần ngần khi nói với vộ chồng tôi:

"Khi mới tới Mỹ, sống một đời sống đầy đủ với gia đình Khánh, tôi không còn nhu cầu gì nữa. Nhưng bây giờ, tôi thấy điều tôi nghĩ trước, không còn đúng nữa. Tôi sống cần phải có bạn bè. Tôi không thể sống không có bạn bè được. Ở đây tôi không thiếu bất cứ một thứ gì, nhưng bạn bè tôi ở các nơi khác, tôi cần tới với họ. Vợ chồng Khánh để tôi qua các tiểu bang miền Tây. Sau một thời gian đi thăm bạn bè, nếu tôi thấy muốn trở lại đây thì tôi sẽ trở lại và chắc chắn lúc ấy tôi sẽ không đi đâu nữa. Nhưng bây giờ, Khánh và Linh nên để cho tôi tới gặp bạn bè và sinh hoạt với họ đã."

Gia đình tôi tiễn anh ra phi trường Syracuse. Anh tới California ở lại một thời gian ngắn, sau đó anh đi Seattle cộng tác với tờ Đất Mới. Cuối năm 79 chúng tôi cũng rời Syracuse dọn về California. Anh Mai Thảo từ Seattle trở về ở chung với gia đình chúng tôi được sáu năm, trong căn nhà gần khu Bolsa. Tôi đã được gặp hầu hết các bạn thân, sơ của anh tại căn nhà này. Sau đó, vì các cháu đã lớn, gia đình tôi cần một chỗ ở rộng rãi hơn, nên chúng tôi dọn về phía Nam quận Cam, cách xa khu Bolsa. Vì bất tiện cho việc làm báo nên anh Mai Thảo ở lại với Bolsa, không dọn theo chúng tôi. Các bạn hữu của anh ngạc nhiên vì Mai Thảo không thể ở với ai được hơn sáu ngày thế mà anh đã sống chung với gia đình tôi được hơn sáu năm. Có lẽ vì chúng tôi tôn trọng đời sống tự do và bạn bè của anh.

Theo tôi, Mai Thảo là một người tốt. Tốt với gia đình, tốt với bạn bè, tốt với tất cả mọi người. Anh không nói xấu ai sau lưng. Nếu anh giận, anh không vừa lòng, anh nói trước mặt người đó, bất luận người đó là ai. Nhưng sau cơn giận, anh trở lại với bản tính dễ thương của anh. Nhiều lần đọc báo thấy người ta mạt sát anh thậm tệ, tôi nóng ruột tới hỏi anh:

"Tại sao người ta chỉ trích anh nặng nề như thế mà anh không lên tiếng?"

Anh nói:

"Sống với người, với đời, phải có lòng. Tấm lòng ở đây là la bonté. Con người không có la bonté là vứt đi. Phải sống thành thật với người, với đời. Vì thế nên tôi không bao giờ dùng ngòi bút của tôi để phê phán, chỉ trích hay nói một điều xấu về ai hoặc để trả lời lại những kẻ mạt sát tôi. Người ta muốn chỉ trích, muốn nói xấu tôi, cứ nói. Khánh thấy người ta chỉ trích tôi trên báo chí vì họ muốn độc giả thấy tên họ đứng trên cùng một trang báo với Mai Thảo. Họ thích như vậy, cứ để cho họ làm, tôi sẽ không bao giờ viết lại."

Tại sao anh lại chọn bút hiệu Mai Thảo, chính gia đình tôi cũng chưa hỏi anh điều này. Anh muốn mọi người gọi anh là Mai Thảo. Anh còn một bút hiệu nữa mà anh ít dùng là Nguyễn Đăng. Nguyễn Đăng là tên dòng họ gia đình tôi. Điểm đặc biệt của dòng họ Nguyễn Đăng là không bao giờ thay đổi tên đệm. Anh Mai Thảo chỉ thỉnh thoảng dùng bút hiệu Nguyễn Đăng khi anh viết cho tờ Điện Ảnh và Kịch Ảnh ở Sài Gòn. Tôi nghĩ, có lẽ căn nhà vùng đất mặn của gia đình tôi ở Nam Định đã gợi ý cho anh chọn bút hiệu Mai Thảo. Căn nhà đó ở bên bờ một con sông đào. Từ cửa sổ trên lầu hai nhìn qua bên kia sông là một vùng ruộng lúa bao la xanh mát tới tận chân trời. Mỗi bình minh, nắng vàng rực rỡ, cây cỏ hoa lá nở mầm tươi tốt. Như trong Tháng Giêng Cỏ Non.

Nhiều nhà phê bình văn học đã viết về văn thơ, về cuộc đời Mai Thảo, nhưng tôi chưa thấy ai đề cập đến mối quan tâm và lòng yêu mến của Mai Thảo đối với thế hệ tương ai và tuổi trẻ. Có một thời ở Sài Gòn, người ta gắn liền Mai Thảo với Sáng Tạo và thuyết Hiện Sinh. Lúc ấy, tôi làm việc ở Huế và là sinh viên Luật khoa Huế. Gia đình tôi mướn phòng trên lầu Hotel Morin - sau này trở thành Viện Đại Học Huế. Thỉnh thoảng anh Mai Thảo ra thăm Huế và ở chơi với chúng tôi. Bạn thân của anh là anh Vũ Quang Ninh, làm Giám đốc đài Phát thanh Huế. Một buổi sáng, đứng trên lầu nhìn xuống, tôi thấy sinh viên tụ tập dưới sân, mỗi người cầm trên tay một cuốn sách. Thấy lạ, tôi xuống sân hỏi một sinh viên:

"Anh cầm sách gì mà thấy anh nào cũng cầm một cuốn?"

Anh sinh viên trả lời:

"Đây là cuốn sách gối đầu giường của tụi tôi."

Tò mò, tôi mượn coi thì đó là tờ Sáng Tạo. Tôi không nói với anh bạn kia tôi là em của chủ nhiệm Sáng Tạo. Tôi chỉ hỏi tiếp:

"Tại sao các anh thích đọc báo này?"

Anh nói:

"Anh không đọc Sáng Tạo tôi cũng hơi ngạc nhiên. Tất cả sinh viên trong trường này đều đọc Sáng Tạo. Tạp chí này đem đến cho chúng tôi một nhân sinh quan mới, một luồng gió mới cho thanh niên và thế hệ trẻ. Nhà văn Mai Thảo thỉnh thoảng có ra Huế nói chuyện với sinh viên. Chừng nào có, anh nên đi nghe."

Một lần, anh Mai Thảo ra Huế, tôi hỏi anh:

"Chiều nay anh ăn cơm ở nhà hay anh đi đâu?"

Mai Thảo trả lời:

"Tôi có một cuộc họp mặt với sinh viên ở đây. Tôi ra đây là để nói chuyện với họ."

"Tại sao anh lại nói chuyện với sinh viên ở đây?"

"Họ rất đáng yêu!"

"Mỗi lần họp với sinh viên, anh nói với họ những gì? Và thường thường những buổi họp đó diễn ra như thế nào?"

"Tại một đại giảng đường nào đó, sinh viên và tôi cùng ngồi với nhau dưới đất và tôi nói với những người trẻ đó về mọi vấn đề, và tôi nghe họ nói về các ước vọng của họ."

"Trong những buổi nói chuyện đó, anh thấy phản ứng của sinh viên ra sao?"

"Tôi rất vui và mừng khi thấy các sinh viên bây giờ họ trưởng thành và có nhiều ý kiến rất tốt, rất xây dựng. Họ là niềm hy vọng của một Việt Nam trên đà tiến triển rất xa về văn hóa, văn học nghệ thuật và kỹ thuật. Hệ thống đại học bây giờ rất tuyệt. Tôi đã nói chuyện với họ nhiều lần và sẽ còn nói chuyện với họ nhiều lần nữa."

Đó là thời điểm thập niên 60. Và những sinh viên nói về Mai Thảo và Sáng Tạo ở trên là những nhân vật được mô tả sau này trong Mùa Biển Động của nhà văn Nguyễn Mộng Giác.

Nguyễn Đăng Khánh

(Văn, số đặc biệt Tưởng mộ Mai Thảo, tháng 2/1998)
(HỢP LƯU số 100, Mai Thảo, tháng 4&5 năm 2008)
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 1546)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20262:56 SA(Xem: 1200)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 1720)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 1528)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 1831)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 1784)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
23 Tháng Tư 202611:15 CH(Xem: 1675)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 202610:39 CH(Xem: 1498)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 20269:06 CH(Xem: 2173)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
23 Tháng Tư 20264:50 CH(Xem: 2325)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9441)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16245)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15256)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15606)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 1543)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 1719)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 1831)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
23 Tháng Tư 20269:06 CH(Xem: 2172)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 4288)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 6093)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 5459)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
(Xem: 6054)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 1528)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 1783)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
23 Tháng Tư 20262:19 CH(Xem: 1989)
Xe lăn bánh, bụi mù mịt xóm Chùa. Tôi nhìn theo cái xe biển xanh của Thuận, vừa buồn cười vừa thấy lòng nhẹ nhõm. Thuận có làm đến bộ trưởng thì cái tính khôn lỏi, dỗi dai và cái kiểu "anh anh em em" nửa đùa nửa thật để rồi dúi vào tay người khác cái chổi quét nhà, con dao băm bèo, thái khoai chắc cũng chẳng bao giờ bỏ được. Mà thôi, cái làng Đá này nếu thiếu một thằng Thuận cứ thích bĩu môi, thích mắng người khác là "ngu lắm cơ" rồi nguây nguẩy cái mông quay mặt đi cười thầm thì chắc cũng chẳng còn chuyện hay ho gì để mà kể.
19 Tháng Tư 202611:05 CH(Xem: 1872)
Biển Nha Trang có những ngày lặng gió. Nước trong xanh. Nhưng cái lặng ấy không phải lúc nào cũng bình yên. Có những cơn sóng được giấu rất sâu. Cuộc đời Thục Nhi cũng vậy.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1675)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1498)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1676)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 1684)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 12426)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 28671)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35208)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
07 Tháng Năm 2021(Xem: 35077)
...một thập kỷ gian nan của nông dân Dương Nội qua cuộc trò chuyện với anh Trịnh Bá Phương - một trong những người có mặt từ đầu - đã góp phần không nhỏ trong nỗ lực xây dựng sự đoàn kết đấu tranh dai dẳng của bà con. Mong rằng chúng ta sẽ học được nhiều điều từ họ, những người mà nhà thơ Hồng Nguyên gọi là “Áo vải chân không đi lùng giặc đánh”.
(Xem: 9953)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 12053)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 1200)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 1719)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 2172)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 2325)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 2688)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 7086)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 6505)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 8487)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.