- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,578,522

miên di đi mãi trong thơ

27 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 22027)


miendi
 miên di -2014


LTS: Sinh một năm sau chiến tranh Việt Nam, năm 1976, miên di là bút danh (không viết hoa) của Lê Xuân Hòa. Cái tên miên di không viết hoa là một đặc biệt, đặc biệt như tên và đặc biệt như thơ. Thơ của miên di rất gần gũi trong đời sống của chúng ta. Mời quí vị cùng chúng tôi đi vào thế giới thơ đặc biệt nầy…

 Tạp Chí Hợp Lưu

 

 

quạnh hiu


đười ươi lặng lẽ ngắm chiều
nỗi buồn tiến hóa thành điều quạnh hiu

 

miên di

 

 

bạn

nhiều lúc tưởng chẳng còn ai là bạn
loay hoay đành phải gọi chính tên mình

ừ thì sống ai mà chẳng khổ
kẻ khổ tiền
người khổ chuyện công danh
tai ương thăm người có báo trước ai đâu

mày có nhớ cái thằng hay ghẹo gái 
lấy cô bé tao yêu
giờ nằm lạnh lẽo trên đồi 
thương vợ nó mà tao không dám tới
sợ bạn mình sau cái chết vẫn còn đau

đời vậy đó !
dài bao nhiêu cũng ngắn
có thương nhau đôi lúc phải lạnh lòng
biết bạn khổ mà không đành giúp 
vì mẹ tao còn khổ gấp trăm lần

ừ vậy đó !
nhiều khi như người cụt 
dù hai tay vẫn quần quật với thường ngày
bạn bè vắng nhau cơn hoạn nạn
vì tối về còn phải bế con
vì phải sống như thằng chết nhát
vì phải hèn để tròn bổn phận làm cha

tao vẫn nhớ cái thằng nhiều khát vọng 
mớ ước mơ dễ phủ được thế thời
giờ phụ vợ bưng nỗi buồn trong góc bếp
thương cái nhìn vẫn khao khát như xưa

đám bạn mình cũng có đứa làm quan
cũng xông xênh 
cũng người đởi nể sợ
vậy mà vẫn thấy thương đời nó
bà Sáu, chú Tư ngày nào cũng chửi 
đồ đẽo lương tâm để vừa với chỗ ngồi

rồi có đứa anh hùng nộp thuế
bỗng hóa tội đồ khi lỡ chuyến kinh doanh
chết giữa chiến chinh có sử xanh làm bia mộ
chết giữa thương trường tù ngục ghi danh

*

nhiều lúc tưởng chẳng còn nhau là bạn
tao với mày chỉ là bữa cà phê
vài ly rượu dốc nỗi buồn cho cạn
không sao đâu !
mày hãy làm bạn với chính mày
tao cũng thế 
còn chính tao là bạn
hiểu cho nhau điều này
để còn là bạn của nhau

 

miên di

 

 

miền qua tay

 

cà phê như những lời kinh
đều đều rớt xuống từng tinh thể buồn

một mình tưởng niệm nụ hôn
chết trong bệnh viện tâm hồn không may
còn gì sau cuộc chia tay
tên ai đầy những cơn say rỗng người

tự dưng có một bật cười
nghe như tiếng vỡ của lời nói câm
yêu thương như một vết đâm
phủ lên ngày tháng mảnh khâm liệm nhàu

bởi vì trìu mến mà đau
liền da có phải vắng nhau là liền 
không đau nhói
không triền miên
không tên để gọi một miền qua tay

mai này gội tóc đã dài
em còn nhột cái vành tai vắng người

 

miên di



mỗi thức dậy gặp mình như câu hỏi


mỗi thức dậy 
gặp mình như câu hỏi
nghe trăm năm thấm thoắt bỏ đi 
những thằng bạn yên bình xây mộ sống 
trong mưu sinh nhạt nhẽo vật vờ

đứa làm thơ chết bằng bút mực
đứa làm ngơ sống sót lờ đờ
đứa làm quan cơ tim nhồi mưu kế 
đứa làm người không thể đầu thai

dẫu làm gì cũng chỉ là xong sống vậy thôi

mỗi thức dậy
gặp mình như chỗ vắng
cái yên vui của chiếc lá vàng
sống sót giữa chiều đợi rụng xuống đêm đen...

mỗi thức dậy nghe chuyện xưa đỏ ngực 
chỉ thầm thì như cổ tích xa xôi 
như âm hồn của những người lính trẻ 
ra đi rồi còn để lại bài thơ
để lại sự thờ ơ vạn lần đáng nhớ 
1974 dưới đáy biển âm thầm
và câu hỏi 
ai người cúng giỗ ?

mỗi thức dậy 
gặp mình như câu hỏi
nghe trăm năm rồi sẽ bỏ đi 
những sống sót như tôi và nhiều người khác nữa
trăm năm không biết để làm gì ?

câu hỏi đó đem ra bỏ biển
biển lặng câm bằng những trận bão gào
câu hỏi đó đem lên gác núi
núi bơ vơ khóc nhem nhuốc đỏ bùn
câu hỏi đó đặt vào công sở
câu trả lời vô nghĩa tháng ngày trôi

mỗi thức dậy gặp mình như câu hỏi
trăm năm không biết để làm gì 
những anh hùng đành khoác áo đi tu
gươm giáo chỉ là câu kinh thảm não

chiều lịch sử 
chiều không tiếng súng
đám chim muông tao tác điều gì ?

là cái thời sống và chết như nhau
bên trong tóc những đầu lâu chưa chết
nếu đại thụ có thể nào bất diệt
lá hoa kia đã chẳng rụng bao giờ

miên di

 

 

thử

 

một ngày thấu hiểu mây trôi
cao xanh cũng chứa tả tơi trong lòng

thử làm một chuyến xe đông
đi không để đến và không để về
thử làm thú giữa hoang khê
động tình tru thót cơn mê kiếp người


thử bỏ mình lại ven trời
như đôi dép kẻ trầm trôi xuống dòng

thử vào bệnh viện ngày đông
để nhìn vào cuộc chưa xong giật mình
một vài mầm khóc sơ sinh
dăm ba tiếng cú tâm linh gọi về
ngổn ngang thân thể gây tê
còn bao người sống hôn mê ngoài đời

thử nghe một tiếng chuông rơi
ngày như tiếng mõ rã rời chậm mau
ai cười rách cả cơn đau
câu kinh an lạc mà sâu thẳm buồn

thử dừng một nhịp luôn luôn
thử quên cho lạc con đường đã quen
thử làm một kẻ bệnh hen
để bên hơi thở như bên món quà
nẻo người gần quá hóa xa
quen đi lối khóc ngại qua ngõ cười
đôi khi hạnh phúc cũng lười
đôi khi chưa đếm đến mười đã trăm
bồng lai tiên cảnh xa xăm
trời cao chắc cũng âm thầm xanh thôi
bên trong cái sự mười mươi
vài con sâu nhỏ nằm cười héo hon

 

kén lòng nhấm cải đắng non
có buồn cũng phải buồn ngon mới buồn

thử mang cả chợ bán buôn
vào tu một chốc nghe chuông cõi thiền
thử cảm ân đấng vô biên
ban cho thức ngủ còn liền vào da
còn ai trong giấc mộng ma
ta là thân thể hay là vong linh

mệt không đuổi kịp chính mình
hai con mắt mở vô minh ra nhìn

miên di

 

 

tâm hồn mã vạch

có lần gặp Chúa trong siêu thị
bên cạnh đức tin có giá tiền

 

thời cảm xúc kim loại
tổ ấm hợp kim

thiên nhiên đóng hộp

mẹ còng lưng trên cánh đồng ký tự

cha cày dưới nắng neon

 

tôi và em
tâm hồn mã vạch
tìm nhau trong tương thích mắt dò

 

quầy tôn giáo

ngổn ngang nhu yếu phẩm tín ngưỡng
có thể chọn món đức tin quá đát, xài rồi
thời hạnh phúc thặng dư hay nỗi buồn khủng hoảng

từng con dế bị cầm tù trong hộp diêm thế sự

đấng quyền năng lạ hoắc sáng tạo trần gian bằng những vuông đắt đỏ

từng vỏ người mang khuôn mặt iphon

 

 

miên di

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 1038)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1124)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 1812)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 5841)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 5821)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13169)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 30052)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81162)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20227)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
18 Tháng Chín 20215:41 CH(Xem: 203)
hai người trò chuyện / hơi ấm mặt trời mơn trớn / cửa bên trong người đàn bà hé mở / miền đất từ lâu không dung nạp sự sống / dòng nước chảy ngang nảy hạt / cong về ánh sáng quên lòng đất tối