- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Đây là lần cuối cùng

20 Tháng Giêng 201412:00 SA(Xem: 66268)
buingockhoi117
  Biệt Tháng Tư / Photo Blackscorpion

Nhớ về bạn cũ

- Đây là lần cuối cùng mình gặp nhau.
Thịnh nói với tôi như thế sau bữa cơm tối thanh đạm tại nhà hắn. Trong khi Hoa dọn chén dĩa xuống để rửa, tôi và người bạn thân từ thời trung học đi ra phòng khách nói chuyện. Khi nói câu đó, Thịnh gật gù đầu, mắt nhìn điếu thuốc kéo một hơi rồi há miệng nhưng không thổi khói thuốc ra mà để nó bay lơ lửng lên mặt rồi lim rim mắt giống như lần nào mười năm về trước. Tôi không hỏi Thịnh tại sao lại thốt ra câu đó. Tôi có cảm tưởng Thịnh muốn giải thích tại sao nhưng có gì chận lại, có gì bắt Thịnh tự kềm chế. Vả lại hỏi làm gì vì lần nào Thịnh nói xong câu bất hủ đó, tôi và Thịnh lại gặp lại nhau trong những trường hợp bất ngờ. Lần này bất ngờ hơn những lần trước. Tôi từ Montana về San Jose vài ngày thăm gia đình trong kỳ nghỉ hè trước khi vội trở lại trường học lớp hè. Từ nơi chỉ lác đác vài khuôn mặt vàng, về đây đi trên những con đường Thứ Nhì, Thứ Tư, Santa Clara ... với những cửa tiệm đồng hương san sát nhau mà lại không biết nhằm lễ gì mà tiệm nào cũng treo cờ vàng ba sọc đỏ và trên con đường này tôi gặp lại Thịnh. Hắn đang đứng ngoài tiệm bánh mì thịt nói chuyện với một nhóm người mặc đồng phục nâu.
 Tôi nhận ra người bạn cũ ngay, không biết vì mình có mắt tinh tế hay vì hắn trông không khác xưa mấy. Thịnh chào mấy người áo nâu xong kéo tôi vào một quán cà phê. Trong khi tôi hớn hở gặp lại bạn cũ ngỡ sẽ không bao giờ gặp lại sau 75 thì Thịnh tỉnh bơ như tôi và hắn đã gặp nhau ngày hôm qua. Nói chuyện một đỗi về những chuyện gì đâu đâu xong Thịnh cho tôi địa chỉ và số điện thoại bảo tối đến ăn cơm, bây giờ có việc phải đi. Tôi hơi thất vọng trước vẻ thiếu nhiệt thành của người bạn cũ nhưng vẫn nói tối sẽ đến.
Tối đó tôi đến nhà Thịnh. Thịnh giới thiệu vợ mình. Hoa nhỏ nhắn, xinh xắn, nói giọng Trung hơi khó nghe. Trong bữa cơm Thịnh mới bắt đầu kể về chuyện hắn từ ngày hắn và tôi gặp nhau lần cuối.
- Hình như là ngày 30 tháng Tư ở bến Bạch Đằng, Thịnh nói.
- Ừ, đúng thế và ông đã nói với tôi “đây là lần cuối cùng mình gặp nhau” khi tôi theo gia đình ông chú lên tàu hải quân đi.
Không đi được, Thịnh cởi bộ quân phục, tìm cách trốn về quê dưới Bình Dương nhưng bị công an bắt cho đi trại tập trung. Sau vài năm hắn được thả. Thịnh về quê sống với cha mẹ, gặp Hoa, cưới Hoa và vài năm sau xin đi Mỹ theo diện HO.
- Chuyện tôi chỉ có thế, Thịnh rót bia ra ly nói tiếp, sang đây tôi không đi học lại được như ông ... đầu óc mình nó lấn cấn sao đó, có cái gì cứ cản không cho mình nghĩ đến việc học.
- Thế còn việc làm?
- Cũng vậy nên chỉ làm mấy cái job nho nhỏ.
Nhìn quanh căn gác xép vợ chồng Thịnh thuê, tôi đánh giá gia đình bạn mình nghèo. May họ không có con nên đỡ xính vính. Tôi hỏi hắn chuyện con cái. Tôi thấy Hoa vội bỏ khăn lau bàn xuống rồi đi vội vào phòng trong.
Đăm chiêu, Thịnh đáp, giọng buồn, môi hơi mím.
- Tụi tôi đẻ được thằng con trai, chết ở quê nhà. Bệnh nặng nhưng vừa là con ngụy quân, cha mẹ là mại bản tài sản bị tịch biên, vừa dưới quê thì làm sao chữa. Khốn! Mang được sang đây thì giờ này nó cũng sáu bảy tuổi.
Bầu không khí chợt nặng nề. Không ai nói tiếp. Những câu hỏi tôi xắp sẵn trong đầu trước khi đến để hỏi Thịnh biến đi đâu hết. Tôi đứng lên kiếu ra về. Ra đến cửa, Thịnh đứng nhìn theo không nói gì nhưng khi tôi mở cửa xe thì hắn chạy lại chộp lấy tay tôi siết chặt, nói giọng nghẹn ngào “Đây là lần cuối cùng mình gặp nhau” xong quay phắt đi thẳng vào nhà đóng cửa lại.
Trên đường lái xe về, tôi thắc mắc về cái giọng nghẹn ngào của Thịnh. Những lần trước khi thốt ra câu đó bạn tôi nói với vẻ nghiêm trọng đến độ như là đóng kịch nhưng làm nghiêm để ra vẻ thật đấy, không đùa đâu, và tôi đã một lần phải bật cười trước cái nét nghiêm kịch của Thịnh. Nhưng lần này tôi đã không cười. Và lần này Thịnh đã thốt ra câu đó hai lần.
Những ngày sau đó bận việc gia đình nên tôi quên phứt là đã nói với Thịnh sẽ trở lại thăm hắn trước khi về lại Montana cho đến hôm trước ngày đi tôi mới sực nhớ. Tôi vội chạy lại nhà Thịnh thì hắn không có nhà. Hoa mở hé cửa nói Thịnh đi đâu cả ngày không biết khi nào về. Tôi định hỏi Hoa về bạn mình nhưng Hoa đã vội đóng cửa.
Hôm sau tôi lên máy bay về lại Billings.

*
Lần gặp lại người bạn cũ sau mười năm thật bất ngờ đó mà tôi ngỡ sẽ không bao giờ thấy lại và thái độ khác lạ của bạn lúc chia tay ám ảnh tôi một thời gian có lẽ khá lâu nếu không có những ngày bận học và kỳ thi giữa khóa. Vài lần tôi lấy điện thoại gọi cho Thịnh nhưng không ai trả lời, hắn không gắn máy nhắn. Một ngày cuối khóa đang ngồi học thi tôi nhận được cú điện thoại bên nhà gọi sang hỏi thăm. Khi em tôi gần gác máy thì tôi nhờ nó lúc nào rảnh ghé nhà Thịnh xem hắn còn ở đó không và nói gọi cho tôi. Vài ngày sau em tôi điện sang nói đã ghé nhà Thịnh nhưng không ai ra mở cửa. Thằng em đoảng cũng chả biết hỏi hàng xóm xem Thịnh và vợ còn ở đó không. Nếu không thì cái câu bất hủ “Đây là lần cuối cùng mình gặp nhau” sẽ đúng và có lẽ chỉ đúng một thời gian vì thể nào tôi và Thịnh sẽ gặp lại nhau như tiền định.
Năm 1964 tôi vào học lớp đệ Thất, bây giờ gọi là lớp sáu, một trường trung học tư thục ở Sài Gòn vì thi trượt mấy trường công lập. Hai năm sau lên đệ Ngũ thì tôi gặp Thịnh. Thịnh từ dưới Bình Dương lên, nơi cha mẹ buôn bán rất khá làm chủ nhà máy. Thịnh tính tình hiền lành, dễ làm thân và học cũng dở như tôi nên hai đứa chơi thân rất nhanh. Giữa năm đệ Tam mấy tuần lễ trước Tết, Thịnh nói sẽ về quê ăn Tết xong ra Giêng trở lại trường. Nói thế nhưng ngày cuối trước khi trường đóng cửa hai tuần, Thịnh nói không chắc sẽ trở lại. Sẵn có con trai về dưới đó gia đình muốn hắn gặp một người con gái ra mắt. Có lẽ ông bà già muốn Thịnh lấy vợ sớm đặng cùng cha quản trị nhà máy. Cha mẹ lớn tuổi, mấy đứa em còn nhỏ, chỉ có Thịnh mới đủ sức đứng ra cáng đáng mọi việc.
Ra ngoài cổng trường, Thịnh nói “Đây là lần cuối cùng mình gặp nhau” xong nhẩy lên xe đạp đạp đi để tôi đứng một mình đó ngẩn ngơ nghĩ về những ngày sau Tết đi học lại không có bạn. Hết Tết trở lại trường, tôi bước vào lớp vừa vui vừa giật mình thấy Thịnh đã ngồi đó. Hắn giải thích “ông già tôi không thích cha con nhỏ đó vì phách lối” nên dẹp chuyện cưới hỏi. Tôi cười cái lo lắng vớ vẩn của mình. Hẳn Thịnh đã đùa với tôi chứ làm gì có chuyện mới học đệ Tam đã lập gia đình.
Tôi và Thịnh học chung chơi chung cùng trường lên đến lớp 12, trước kia là đệ Nhất. Chiến tranh Nam Bắc Quốc Cộng ngày càng khốc liệt. Bộ Quốc Phòng ra lệnh đôn quân để tiếp thêm cho chiến trường. Tôi và Thịnh đậu tú tài nhưng vì lớn hơn tôi hai tuổi đúng vào tuổi đôn quân nên bạn tôi nhận giấy gọi nhập ngũ. Thịnh đạp xe đến nhà tôi, đưa cho tôi xem tờ lệnh gọi trình diện trung tâm 3. Trước hôm Thịnh đi trình diện, hai đứa rủ nhau ra quán cà phê Duyên trên đường Đinh Tiên Hoàng mà tôi và bạn thường đến.
Suốt cả giờ đồng hồ tôi và Thịnh ngồi nhâm nhi cà phê đốt thuốc. Sau cùng Thịnh chợt thốt câu “Đây là lần cuối cùng mình gặp nhau” xong kéo một hơi rồi há miệng nhưng không thổi khói thuốc ra mà để nó bay lơ lửng lên mặt rồi lim rim mắt. Nhìn cái mồm Thịnh há hốc đầu gật gù tôi phải bật cười. Hắn nheo mắt nhìn tôi như thể không hiểu tại sao tôi diễu cợt câu nói đó. Không muốn Thịnh hiểu lầm là tôi đã không thấy sự quan trọng của việc hắn lên đường nhập ngũ, tôi vội giải thích “Làm gì bi đát hoá thế, mai mốt đi phép vài ngày thì mình lại ra đây ngồi chứ có gì”.
Rồi Thịnh đi trình diện và tôi trở lại cuộc sống sinh viên. Tôi vào Luật. Tôi cô đơn vì không quen ai. Tôi nhớ bạn thì ít mà nhớ những ngày tôi và bạn học chung chơi chung thì nhiều. Tôi nhớ những ngày trung học, những ngày tôi xách chiếc Mobilette lại nhà bạn học chung, tối thức khuya pha hai phin cà phê kéo mấy điếu Bastos, nhớ những buổi chiều mưa chở nhau đi xi nê thường trực ngồi cho đến tối, những đêm lành lạnh gần Giáng Sinh dẫn nhau đi tìm bum lậu để lén vào nhẩy … nhiều kỷ niệm. Tại sao mình không ngừng thời gian lại được mà phải tiến tới để mất đi những gì quý báu.
Ngày lại ngày tôi đến trường với một cảm giác mất mát. Tôi nhìn quanh tìm có ai quen để trò chuyện có ai có cảm tình để làm quen. Hình như mọi người ai nấy đã vào nhóm nào và không có nhóm nào còn chỗ cho tôi. Cái cảm giác mất mát lẫn lạc lõng cứ bám lấy tôi, không tha. Tôi mường tượng nếu Thịnh cũng học Luật với mình thì sự thể sẽ ra thế nào, có còn lang thang những nơi thường lai vãng, có còn làm những trò hai đứa thích làm không hay nay là “người lớn” sẽ làm những chuyện khác sẽ đi những nơi khác. Xong tôi tưởng tượng ra hình ảnh Thịnh tại quân trường, tóc cắt ngắn, da xạm nắng, mồ hôi nhễ nhại cầm súng chạy quanh sân băng đồng. Gần một năm sau tôi gặp lại Thịnh bất ngờ.
Thịnh lại tìm tôi tại nhà khi tôi vừa ăn cơm tối xong sắp sửa lên lầu đọc sách.
- Anh Thịnh đến kìa, thằng em tôi ra mở cổng rồi vào nói.
Tụi tôi ra lại quán Duyên. Khá lâu không gặp lại, bạn tôi trông không khác gì hình ảnh tôi mường tượng. Tóc húi cua, da rám nắng, người cứng cỏi, quân phục cổ đeo lon chuẩn úy. Suốt buổi tối ngồi quán Thịnh ít nói chuyện quân ngũ, đúng ra là ít nói, trầm ngầm nhấp cà phê rít thuốc. Sau cùng Thịnh nhìn đồng hồ rồi nói đã đến giờ phải trở vào trại.
- Sáng sớm mai tôi đi trình diện quân đoàn 1. Ông ở lại cố lên lớp khỏi đi lính ... Đây là lần cuối cùng mình gặp nhau.
Tôi nghe có gì buồn trong giọng nói của bạn, tôi không cười được. Với những tin tức hàng ngày về các trận đánh đẫm máu ngoài Trung, tôi có linh cảm đây thật sự là lần cuối cùng gặp Thịnh. Nhìn bạn lên xe phóng đi, tôi cảm thấy một nỗi buồn rười rượi trong lòng. Lần này là vĩnh biệt. Tôi sau cùng đành phải nhận không có gì là vĩnh cửu, những gì của ngày xưa để đi qua, níu kéo vô ích. Nếu có gặp lại bạn cũ chưa hẳn còn như xưa. Những thay đổi thời cuộc thay đổi con người cả trong lẫn ngoài. Và tôi cố gắng quên đi những chuyện xưa, nhìn về tương lai, cố lấy cái bằng cử nhân luật. Tôi chơi thân hơn với những người mà đến nay chỉ hỏi han xã giao, giờ hẹn hò với họ, đi những nơi họ đi, nghe nhạc họ nghe, nói năng theo kiểu họ nói.
1973, tôi leo lên được năm thứ ba Luật, học ngành tư pháp. Tình hình kinh tế khó khăn theo chiến sự khốc liệt. Thấy cha mẹ lo lắng tần tảo làm ăn nuôi mình và lũ em, tôi đâm đầu học quên đi mọi chuyện khác, kể cả Thịnh nhưng dường như người bạn xưa đã không cho tôi quên hắn.
Một tối đi chơi với cô bạn gái mới quen về, tôi thấy Thịnh đã đứng trước cửa nhà chờ. Hai năm không gặp, Thịnh giờ trông khác xưa, gầy ốm hơn, đen hơn. Ngoài ra, cái lon chuẩn úy đã được thay thế bằng hai bông mai vàng. Tôi đưa tay lên chào theo kiểu lính “Chào trung úy”.
Tụi tôi trở ra quán Duyên.
- Ông được thuyên chuyển về đây luôn? Tôi thắc mắc.
- Không, tại tôi bị thương ngoài kia, nhẹ thôi nên được đi nghỉ phép nhưng mai phải trở ra lại.
Tôi hỏi về trường hợp bị thương nhưng Thịnh lắc đầu nói chả có gì để kể. Rồi tôi và Thịnh im lặng như là không ai có gì để kể cho người kia sau mấy năm không gặp. Đúng là thay đổi thời cuộc thay đổi con người. Bức tường vô hình nào giữa tôi và bạn quá cao để lời và ý tưởng không vượt qua được để đến với nhau, quá dầy không đập đổ được. Tôi đứng bên này nhìn xuyên tường qua bên kia thấy một khuôn mặt xa lạ nào. Bạn tôi đó, không phải bạn tôi. Hay vẫn là bạn thưở nào nhưng giờ là của một thế giới khác. Tôi thầm nghĩ câu “Đây là lần cuối cùng mình gặp nhau” là đúng nếu mình nói về tâm tưởng tình cảm và nếu điều đó thật sự đúng thì lần cuối cùng tôi và Thịnh gặp là vào ba năm trước cũng tại nơi này, cái đêm trước khi hắn đi Trung Tâm 3.
Cũng như lần đó, Thịnh nhìn đồng hồ rồi nói phải vào trại vì sáng sớm mai lên máy bay trở ra quân khu 1.
- Ngoài đó đánh dữ lắm. Tôi không biết là ... Thôi, đây là lần cuối cùng mình gặp nhau.
Rồi Thịnh chìa tay ra, lần đầu tiên trong đời tôi và Thịnh bắt tay. Dù nghĩ rằng mình đã mất bạn từ lâu, người bạn của hình ảnh ngày xưa, nhưng nhìn Thịnh từ từ lái xe đi, tôi vẫn cảm thấy buồn rười rượi trong lòng. Lần ra đi này của Thịnh không làm tôi bị giao động như kỳ trước và tôi không còn nghĩ về người bạn nhiều như trước. Cho đến ngày 30 tháng Tư.
Cả gia đình tôi theo lời chú tôi dắt díu nhau ra bến Bạch Đằng lên tàu hải quân đi Phi. Tôi thấy Thịnh đứng đó trong bộ quân phục nhầu nhò dơ bẩn bỏ ngoài quần, đầu trần, hai thay buông thõng. Thịnh nhìn tôi rồi nhìn chiếc tàu. Tôi không biết Thịnh đang nghĩ gì. Muốn tôi giúp hắn lên tàu đi? Nguyền rủa tôi là thằng hèn bỏ chạy? Mặc kệ cha mắng mẹ van, tôi bỏ mọi người chạy lại Thịnh.
- Đi theo tụi này không? Để tôi hỏi chú tôi xem sao. Tôi hổn hển nói.
Nụ cười héo trên môi Thịnh.
- Tôi phải về Bình Dương, đâu bỏ ông bà già và lũ em được. Ông đi đi, nhà đang chờ kìa. Thôi, đây là lần cuối cùng mình gặp nhau.
Rồi Thịnh chìa tay ra. “Đây là lần cuối mình bắt tay nhau”, tôi nghĩ thầm. Trước khi quay đi, tôi thấy cái lon trung úy không còn trên cổ áo Thịnh.
Suốt mấy ngày lênh đênh trên biển, tôi đã nghĩ nhiều về người bạn. Tôi mường tượng ra những cảnh ruồng bắt, đánh đập, thậm chí hành hình. Chưa bao giờ ở với cộng sản một ngày, tôi cố nhớ lại những cảnh trong phim “Chúng tôi muốn sống” và suy diễn ra những gì xảy đến cho Thịnh. Tự nhiên tôi thấy lo vô cùng. Đến Subic Bay, sau những ngày đầu trên đất lạ và trải qua những thủ tục rườm rà, nhà tôi được đưa qua đảo Guam chờ ngày đi Mỹ. Thời gian trên đảo Guam mỗi ngày tôi ra bãi biển nhìn về hướng tây nơi những gì kinh hoàng có thể đang xảy ra cho những người thân còn ở lại trong số đó có Thịnh, tôi vẫn còn bị ám ảnh bởi hình ảnh cuối cùng của Thịnh đứng trên bến tàu nhìn chiếc chiến hạm rời bến. Thịnh đứng đó thật lâu rồi quay lưng bỏ đi, dáng thất thểu. Không biết khi đó Thịnh đang có cảm giác gì, căm, lo, hãi, nản? Thấy tôi không vui chơi như những lũ thanh niên cùng tuổi, nhởn nhơ hàng ngày dắt nhau đi tắm biển, mẹ tôi biết tôi đang lo nghĩ về Thịnh. Bà nghĩ ra những chuyện bắt tôi làm để quên đi, bắt tôi đi học lớp anh ngữ, làm việc tình nguyện, vân vân.
Chuyển về trại tị nạn trên đất liền, tìm được nhóm bảo trợ, xuất trại, gia đình tôi tái định cư trên miền Bắc nước Mỹ, tuyết phủ. Lạ đất lạ người lạ cảnh, lạ hết, bỡ ngỡ, những lo lắng về người bạn xưa hoàn toàn bị thay thế bởi các lo lắng khác. Rồi Thịnh dần quên lãng đi trong đầu óc tôi. Không chịu được cái lạnh cắt da, cha mẹ tôi dẫn lũ em về bắc Cali. Tôi còn đang học đại học tại đây với học bổng nên đành ở lại học cho hết.

*
Tết Rắn 1989, mùa đông năm nay lạnh ngay cả trên những con phố San Jose. Mặt trời cứ lẩn quẩn sau những cụm mây xám lơ lửng chờ mùa xuân. Tôi cười thầm khi thấy dân chúng khoác jacket, coat, đầu mũ len ngay giữa trưa. Cái lạnh nơi này thấm gì với cái lạnh nơi tôi vừa giã từ về đây sinh sống với gia đình nhưng có lẽ sau một hai năm ở đây tôi cũng sẽ như họ thôi. Tôi bẻ bánh lái cho xe đi vào bãi đậu trước một tiệm phở có tiếng để ăn một tô xong trở về sở.
Giương dù lên che đầu, tôi đi vội đến cửa.
- Chú mua báo cho cháu.
Nhìn sang, tôi thấy một khuôn mặt con gái rất trẻ, chắc chưa đến hai chục. Cô bé mặc áo nâu quần vàng, mái tóc dài xuống bờ vai, một xập báo trên tay. Cô bé chìa ra một tờ mời mọc. Tôi liếc nhanh lên trang bìa, “Phục Quốc”. Lấy tờ năm đô trong túi ra, tôi đưa cho cô bé, cầm lấy tờ báo gập đôi đi vào trong tiệm, tai thoáng nghe “Cám ơn chú” thật nhẹ sau lưng.
Gọi tô phở xong tôi nhìn quanh. Tiệm hôm nay khá đông. Trên vài bàn có tờ báo giống tờ tôi mới mua. Trong một góc phòng ăn, năm sáu thanh niên ăn mặc giống như cô bé bán báo ngoài cửa ngồi tụm với nhau thì thầm nói chuyện. Một người dở tờ báo ra rồi chỉ vào những tấm ảnh đen trắng trên trang. Tôi chợt tò mò xem có gì hay trong tờ báo tôi vừa mới mua năm đô. Trang đầu chạy tít lớn “Lễ truy điệu các phục quốc quân hy sinh vì Tổ quốc”. Tôi lơ đãng mở các trang trong. Những tấm ảnh đen trắng với khuôn mặt của các phục quốc quân tử trận trong nước cùng với vị thủ lãnh của họ. Một cái ảnh đập vào mắt tôi. Trời! Thịnh đó, ảnh Thịnh. Trong ảnh Thịnh trông giống Thịnh lần cuối tôi gặp hắn. Tôi mở mắt thật to nhìn cho kỹ, đọc cái tên dưới tấm ảnh, Nguyễn Quốc Thịnh. Đích thị. Tôi đọc vội sơ qua những cột tin về cuộc đụng độ cuối cùng trong vùng tam biên. Tô phở bưng ra, tôi chợt không thấy đói, không nuốt gì được.
Đặt tiền lên bàn tôi cầm tờ báo đi ra.
Bùi Ngọc Khôi
Thu 2012
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
13 Tháng Năm 20154:22 SA(Xem: 53442)
LTS:Cận cái chết, nhìn cái chết ... một tâm trạng đau buồn, ray rứt. Những ra đi vĩnh viễn, mất mát và bấu víu vào mất mát. Nuối tiếc. Trịnh Duy Kỳ đến với Hợp Lưu lần đầu với 28,5 với những cái trên. Xin giới thiệu đến độc giả.
13 Tháng Năm 20154:18 SA(Xem: 56528)
Mấy tay bạn trai của Nga nhiều lúc cũng âm mưu, đưa Nga vào những chỗ nhạy cảm, rồi đòi hỏi này nọ, nhưng Nga cương quyết từ chối. Không phải là Nga không thèm muốn. Thì thịt da ai chả là người. Nhiều lúc ở bên các chàng chuyện trò tâm sự. Rồi chân tay đụng chạm, ôm ấp hôn hít, cũng rực hết người lên. Những muốn mặc kệ cái sự đời…
13 Tháng Năm 20154:12 SA(Xem: 58259)
Tin nhắn chú Tư e không qua khỏi đêm nay làm Nhiên đờ đẫn. Nhiên đóng cửa phòng mạch, chạy chẳng kịp chào ai. Đường vào nhà chú ngoằn nghèo rắc rối tựa ma trận. Sau rốt Nhiên vẫn đến được theo quán tính. Sự âm u lạnh lẽo cô buồn bàng bạc khắp nhà. Một vùng cấm mấy chục năm nay không hề có bóng đàn bà. Chú cấm tiệt. Cấm luôn thằng con trai duy nhất, không được có bạn gái.
13 Tháng Năm 20154:03 SA(Xem: 60254)
Không ngủ được. là khi không được ngủ Mở hai mắt ngó chằm chặm quanh mình Ngủ không được có vì tờ mộng rách Dạ thưa nường đồi núi chợt rung rinh
13 Tháng Năm 20153:58 SA(Xem: 59861)
Tháng tư đá dựng mờ sương khói Những chiến trường xưa đất bạc màu Anh hùng rót mật tràn gan phổi Đồng đội dồn lên đỏ chiến hào
13 Tháng Năm 20153:53 SA(Xem: 55859)
Đám đông đã chia thành hai phe và tranh cãi rất quyết liệt. Cuộc tranh cãi có khi đổ máu đã kéo dài suốt 40 năm. Sự tranh cãi ấy bắt đầu từ những thứ tài sản cướp được của những người chạy trốn. Đôi lúc, qua những khe cửa rất nhỏ từ xa, có những ánh mắt nhìn về phía họ mà sợ hãi. “Lạy trời, lạy thánh, cho chúng ôm hết về mà im tiếng ngay đi”. Đó là bọn đĩ điếm và quân ăn cướp.
13 Tháng Năm 20153:43 SA(Xem: 54805)
Từ nhà tạm cư ở Merang, Trăng-ga-nu, đúng chữ là Terrenganu, Cao Ủy đã đưa 38 người của tàu SS0682 nhập trại Bidong, chỉ riêng anh Huân bị đứt một lóng tay và Bố ói ra máu đòi vào nhà thương nên Cao ủy bảo ở lại đất liền. Chớp mắt Ngà thành thông dịch viên đi theo vì dường như đó là điều hợp lý (!) và làm cho người đi kẻ ở được an tâm.
26 Tháng Tư 20151:48 SA(Xem: 57413)
Trước và sau thời 1954-75 ở Miền Nam, không thấy ở nơi nào khác trên đất nước ta, văn học được phát triển trong tinh thần tự do và cởi mở như vậy. [Võ Phiến nói chuyện với Đặng Tiến 28-10-1998] Có thể nói Võ Phiến là một trong số các tác giả được viết và nhắc tới nhiều nhất. Trước khi quen biết nhà văn Võ Phiến, tôi đã rất thân quen với những nhân vật tiểu thuyết của ông như anh Ba Thê đồng thời, anh Bốn thôi, ông Năm tản, ông tú Từ lâm, chị Bốn chìa vôi từ các tác phẩm Giã từ, Lại Thư nhà, Một mình...
20 Tháng Tư 201512:22 SA(Xem: 57749)
Ngày 30-4, ngày nếu có một triệu người vui, cũng là ngày có một triệu người buồn. Câu nói trong quá khứ của ông Võ Văn Kiệt, nguyên Thủ Tướng chủ trương chính sách Đổi Mới, được lập đi nhắc lại nhưng liệu có còn chính xác với tình thế hiện tại của đất nước ? Ngày nay, kinh tế tụt hậu, hàng xuất là lao động giá bèo, cái đinh vít cũng không làm được mà nhập hàng ngoại tuốt tuột, nợ chồng chất. Rồi tham nhũng lên đỉnh cao, đạo đức xã hội xuống cấp...
13 Tháng Tư 20154:11 CH(Xem: 61843)
Cho tôi quá giang qua mùa nắng hạ Bỏ mặc phố trôi về phía thật xa Cho tôi quá giang về nỗi buồn hôm bữa Có còn người với góc phố chậm đưa?
16 Tháng Tám 2025(Xem: 10406)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17223)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16271)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16747)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 705)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
26 Tháng Sáu 20265:05 CH(Xem: 1459)
anh nằm ôm huế sượng trân / bởi tóc em buộc phù vân giữa lòng / huế mình chừ mãi long đong / nên trăng trong nội vẫn không chịu về
26 Tháng Sáu 20263:01 CH(Xem: 1486)
Có những thứ tưởng chừng phai hết thảy / Đến cuối đời vẫn thổn thức không nguôi / Như chiếc lá rơi qua mùa rất cũ / Chạm tim người một tiếng động xa xôi.
18 Tháng Sáu 20262:22 CH(Xem: 2231)
Có những bài thơ được viết ra để xuất bản ngay. Có những bài thơ lại chọn cách ngủ yên rất lâu trong ngăn kéo thời gian. Những Ngày Chủ Nhật của Nguyễn Chí Trung thuộc về trường hợp thứ hai. Được viết từ năm 2000, bài trường thi này phải đợi đến 26 năm sau mới đến với bạn đọc Hợp Lưu. Trong quãng lặng dài ấy, thời gian đã đổi thay nhiều điều, nhưng những câu hỏi mà thi sĩ đặt ra về nỗi buồn, sự hiện hữu, ký ức, cô đơn và hành trình làm người dường như vẫn còn nguyên tính thời sự. Chúng tôi xin giới thiệu tác phẩm như một món quà nhỏ gửi đến những độc giả yêu thơ Nguyễn Chí Trung — những người vẫn tin rằng có những tiếng nói thi ca không thuộc về một thời điểm, mà thuộc về nhiều thế hệ cùng chia sẻ một nỗi băn khoăn trước đời sống. TẠP CHÍ HỢP LƯU
(Xem: 174)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
(Xem: 600)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
(Xem: 1403)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
(Xem: 1261)
Tôi không sống bằng nghề báo nhưng luôn dành cho nghề báo một sự yêu quý đặc biệt. Dù công việc chính là một nghề khác, thỉnh thoảng tôi vẫn cộng tác với một vài tờ báo, có bài được đăng và nhận nhuận bút. Vì thế, tôi có cơ hội quan sát báo chí từ một khoảng cách vừa đủ gần để thấy những giá trị đáng trân trọng, đồng thời cũng nhận ra không ít vấn đề tồn tại.
08 Tháng Bảy 20267:19 CH(Xem: 678)
LTS: "Khi anh đi không người đưa đón – Khi anh về tám chín người khiêng" là một truyện ngắn lay động về sự phản bội, sự trả giá và lòng vị tha. Không lên án gay gắt, nhà văn Hoàng Thị Bích Hà để chính số phận nhân vật cất lên bài học về nhân quả và giá trị của nghĩa tình tào khang. TCHL
27 Tháng Sáu 20269:11 SA(Xem: 1479)
Tôi về căn nhà xây xong bỏ trống chưa bán được vì Covit 19 của ông con, căn nhà trống trơn không nước nóng đi vội tôi không mang theo bất cứ thứ gì ngoài vài gói mì gói, không muỗng nĩa, không khăn tắm tôi đi như người Tị nạn chạy trối chết ra khỏi nhà với vết răng cắn trên tay, một vết cắn nhá lửa của hiền thê nhớ đời, bắt đầu viết về Exodus của dân Do thái Việt Nam gia đình tôi lủng cũng vì chuyện viết lách của tôi, khi bà xã phát giác ra cái quá khứ lẫy lừng gái gú của tôi bà không vui nói tôi chỉ sống mộng mơ với quá khứ không biết sống với hiện tại và quý những gì mình đang có, một trận cãi nhau kịch liệt vợ hiền nổi giận biến thành bà La sát xuất chiêu cho tôi một vết cắn...
26 Tháng Sáu 20264:21 CH(Xem: 1343)
Âm bản & Dương bản (Négatif & Positif) – khái niệm có gốc từ điện ảnh phim nhựa, còn gọi là phim điện ảnh hoặc phim chiếu rạp, liên quan đến quy trình sản xuất phim có từ buổi sơ sinh của Nghệ thuật Thứ Bảy - Nàng Tiên Út từ cuối thế kỷ XIX (hiện phim nhựa và các loại máy quay máy chiếu phim nhựa đã được đưa vào các Bảo tàng Điện ảnh), cái quy trình mà nếu ai đó muốn tìm hiểu trên Google sẽ không bao giờ có được thông tin đầy đủ… Nhưng, cuốn sách này không đi sâu vào công nghệ Điện ảnh, chỉ mượn khái niệm Âm bản & Dương bản như một cánh cửa ban đầu, một ký hiệu nghệ thuật nhỏ để phác họa hành trình tinh thần của tác giả, cùng đôi ba lát cắt tự sự về nghề qua đó hé lộ giúp người đọc đôi chút về đời sống của những người làm phim Việt qua mấy thế hệ, ở xứ sở Lắm người nhiều ma …
26 Tháng Sáu 20263:59 CH(Xem: 1327)
“Là con dân của một đất nước mà lịch sử là một chuỗi tranh đấu không ngừng để được tồn tại, NQ thiết nghĩ “Hội Thề Đông Quan” là một chiến thắng đáng suy ngẫm. Sau 10 năm nếm mật nằm gai, chứng kiến đất nước và dân mình chịu bao tang tóc dưới ách bạo tàn của nhà Minh. Thế mà cha ông chúng ta đã mở đường hiếu sinh cho hàng vạn hàng binh, và còn cấp thuyền, cấp ngựa cho họ trở về nước. Sự bao dung đã biến một chiến thắng quân sự thành khúc khải hoàn của lòng nhân ái và đem lại bình yên cho người dân của đôi bờ bờ cõi.” (Nguyệt Quỳnh)
11 Tháng Bảy 2026(Xem: 224)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3046)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2944)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3413)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 2116)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 13922)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 30048)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 36107)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 11572)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 13048)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 2838)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 4002)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 3985)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 4496)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 5034)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 8283)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 7665)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 10617)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.