- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Chân Dung Trắng

23 Tháng Giêng 201412:00 SA(Xem: 62157)



chandung-nguyenyen-content

(Tranh Lê Thánh Thư) 

LTS: Khi nhận được những sáng tác của Nguyên Yên chúng tôi thật sự ngạc nhiên về nội lực của người viết nầy, đó là một sự đáng mừng. Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu những bài viết của Nguyên Yến đến quí độc giả và văn hữu như những mở đầu tốt đẹp trong năm 2014.

TCHL

(Tặng T & K – hai người bạn thân quý.)

Tôi sinh ra là con gái. Hay ít nhất, bà ngoại thường gọi tôi là Gái. Tôi lớn lên với ngoại, được bà nuôi ăn nuôi học dạy dỗ thành người. Thuở nhỏ tôi thường hỏi ngoại Ba Mẹ tôi là ai, bà thường nói mẹ là nàng tiên xinh đẹp bị trời đày xuống trần gian. Trong đêm đen định mệnh giữa lòng đại dương, mẹ ra đi theo giông tố biển cả để hai bà cháu được bình an. Tuy xa mẹ từ đó, nhưng những câu chuyện bà thường kể về mẹ khiến hình ảnh mẹ trong tôi rất thân quen, gần gũi. Khi ai hỏi tôi giống ai, tôi không ngần ngại trả lời tôi giống mẹ. Không hiểu sao tôi luôn biết rõ chân dung của mẹ, không chỉ cái hình dạng bên ngoài, mà từ cái buồn, cái lạc lõng, lối suy tư, tôi luôn biết mình là cái tượng đúc tạc từ chân dung của mẹ.

 

Còn bố? Tôi hoàn toàn mù tịt. Mỗi khi hỏi đến bố, bà ngoại thường giả lơ như không nghe. Tôi phải hỏi bà nhiều lần, bà chỉ ậm à ậm ừ cho qua chuyện, không bao giờ có câu trả lời nhất định. Một hôm tôi hỏi nhiều làm bà nỗi cáu, bà nói: “Ông ấy có nhiều bộ mặt, không có chân dung”. Từ nhiều mẩu, nhiều mảnh, tôi chắp nối, lắp ráp cho mình chân dung của ông, mờ nhạt, mơ hồ. Tôi để trí tưởng tượng và kiến thức mập mờ của mình tô vẽ ông. Không hiểu sao tôi cứ khăng khăng ông là chúa tể thế gian. Ông có địa vị, quyền hành. Tôi mơ thấy ông đứng giữa trời giông bão, mặt áo choàng đen, mắt ông đỏ khè như lò than của bà ngoại. Ông dương cao kiếm thần nổi sấm sét phù phép biến mất hai mẹ con trong đêm đen. Đó là hình ảnh tôi vẽ chân dung Ông.

 

Bà ngoại và tôi đặt chân đến Mỹ khi tôi mới tròn 5 tuổi. Bà bước vào tuổi 50. Tôi lớn lên với bà, không có ông ngoại, và cũng không có hình bóng người đàn ông nào trong nhà. Ông ngoại mất trong chiến tranh, bị Việt Cộng chôn sống ở đầu làng. Khi được đào lên đưa về nhà, ông đã yếu sức. Ông mất trong vòng tay của bà. Mỗi khi kể về ông ngoại, mắt bà sáng lên một thứ ánh sáng kỳ lạ. Vừa là ánh bình minh, mà cũng vừa là ánh chiều tà. Như bà vừa sống lại với ký ức, mà cũng vội vã rời xa nó. Bà thường nhắc ngày Mẹ tôi sinh ra đời, ông ngoại đãi cả làng. Ông không giống những người đàn ông cùng thời chỉ ăn mừng khi có con trai. Ông luôn gọi mẹ là nàng tiên giáng trần. Chỉ kể đến đó, mắt bà đã đỏ hoe. Tôi cũng đúc tạc cho mình chân dung ông ngoại với nụ cười hiền hoà, với trái tim thật to, vẽ thêm cho ông bộ râu phất phơ, tưởng tượng gió bay mái tóc chòm râu, như bức tranh tiên ông cỡi hạc bay về trời bà ngoại treo trên tường.

 

Tôi chưa bao giờ nghĩ đến việc vẽ chân dung Bà Ngoại vì lòng tôi đã thuộc lòng từng nếp nhăn trên mặt Bà. Bà luôn ở bên cạnh tôi, ở trường, trong nhà, ngoài đường, trong lòng. Bà có tài hiện ra ở khắp nơi tôi có mặt, luôn sẵn sàng bảo bọc đứa cháu cưng. Vượt biển sang Mỹ tay không với đứa cháu, hành trang của Bà là nỗi đau chứng kiến cảnh con gái bị vuột khỏi vòng tay mình. Bà tự tranh đấu, cố gắng chôn sâu vết thương, siêng năng làm việc, vất vả một mình nuôi tôi ăn học. Bà dạy tôi theo lối suy nghĩ và quan niệm xưa cũ của bà. Cái định nghĩa về đàn bà con gái khi bà gọi tên tôi là Gái rất rõ rệt. Với bà, đàn bà rõ ràng là cái xương sườn của người đàn ông. Cần biết cứng cỏi. Cần biết mềm mại. Cần biết gập mình bé nhỏ lại khi cần tôn vinh chồng. 

 

Như sợ tôi không tự phân biệt mình là con gái, bà luôn luôn nhắc nhở. Khi tôi nghe nhạc nổi hứng huýt gió theo, bà rầy “con gái con đứa không được huýt gió”; khi tôi nghe kể chuyện hứng chí cười, bà nói “con gái không được cười to”; kể cả khi đã khôn lớn, trong các cuộc đối thoại, khi tôi có lời phê bình, bà mắng “con gái không nên có nhiều ý kiến”. Ngày tôi lấy chồng, bà dặn dò “Con gái phải biết nghe lời chồng, phải hiểu rõ sở thích, ý muốn của chồng mà lấy đó làm ý muốn của chính mình. Được vậy thì con mới có số phận khác với mẹ của con. Mới có hạnh phúc.” Tôi nghe bà dặn giật mình, từ lâu tôi vẫn tưởng rằng Mẹ nhu mì, hiền hoà và yếu đuối như bông hoa, ngọn cỏ. Đó là chân dung Mẹ trong tôi, trở thành bức hoạ của chính tôi. Đêm đó, tôi mơ thấy hình bóng Mẹ, gập ghềnh trên con sóng cao, Mẹ dặn, cuộc đời có nhiều cơn sóng, phải biết cách cưỡi sóng. Mắt mẹ cũng đỏ như mắt bố, chỉ có khác với Ông, mẹ không phù phép cho tôi biến mất. Mắt mẹ u uẩn, trút xuống những cơn mưa ào ạt, tràn ngập, ướt đẫm. Mưa từ mắt mẹ đổ thẳng vào lòng đại dương, cuộn mình theo từng cơn sóng tung cao lên trời, cao hơn cả mẹ. Những cơn sóng cao ngút cuốn Mẹ rời khỏi tôi.

 

Tôi tỉnh dậy bắt đầu cuộc đời làm vợ. Tôi rất hài lòng với chính mình, đã tìm được cho mình một người đàn ông thật sự bằng da bằng thịt, bằng tình yêu anh dành cho tôi, bằng tình yêu tôi dành cho anh. Người đàn ông có mặt mũi, có ánh mắt, có miệng cười, có cái uy nghiêm thần linh của bố, có chất hiền lành như ông tiên của ông ngoại. Từ đây, tôi sẽ nghe lời bà ngoại, sẽ học mọi điều về anh, sẽ nghe lời Mẹ, cưỡi theo cơn sóng trong lòng anh. Tôi sẽ làm cái việc mà từ nhỏ tôi đã ao ước, tôi sẽ vẽ được bức chân dung toàn diện đầu tiên của người đàn ông thật sự trong đời tôi, ngay bên cạnh tôi, không cần phải dùng trí tưởng tượng hay qua những mảng rời từ bà ngoại.

 

***

 

Anh tên là Phong. Ngày quen biết anh, tôi ghi chú trong đầu, à, chàng là ngọn gió, chàng biết bay. Sau đó, tôi còn nhận ra, chàng không chỉ biết bay, chàng biết dừng lại, biết vuốt ve, biết mơn trớn, biết thổi vào lòng tôi những mùi hương kỳ lạ. Tôi bày ra giấy mực, vẽ xuống mái tóc chàng, mái tóc bồng bềnh như cụm mây trời, lãng đãng băng ngang khu vườn tâm hồn tôi. Nhìn đám mây trôi, tôi nhủ lòng, trên trang giấy trắng này, sẽ có ngày tôi hoàn thành bức chân dung toàn diện của anh.

 

Cũng như tôi, anh lớn lên với bà nội. Bà nội gởi anh theo ông chú đi vượt biển sang Mỹ. Bố anh đi học tập cải tạo. Mẹ ở nhà bỏ đi lấy chồng. Anh không nhớ gì nhiều về Mẹ. Khác với tôi, anh không đeo bà, không mấy thần tượng Mẹ. Trong lòng anh có hình ảnh ông chú nghiêm khắc, có bức ảnh ông Bố được bà nội dúi vào túi áo ngày rời Việt Nam anh mang theo và giữ cho đến bây giờ. Khi tôi hỏi anh về bức chân dung của Bố anh, anh không hiểu, trả lời anh chỉ có tấm ảnh cũ của bố, không có bức vẽ chân dung. Tôi hỏi gặng: Em muốn hỏi khi nhớ đến Bố, anh nghĩ gì. Không cần suy nghĩ, anh nói: “Anh thấy mắt bố dõi theo anh trong từng bước đi, đợi chờ và đặt kỳ vọng vào anh.” “Kỳ vọng như thế nào? Anh ngập ngừng: “Bố muốn anh trở thành somebody”. Thành somebody để làm gì? Anh lúng túng: “Để em sẽ không bỏ anh như Mẹ đã bỏ Bố và anh”. Tôi thở phào, tưởng gì, điều này dễ ợt. Em đời nào lại bỏ anh. Tôi lấy giấy mực ra, vẽ ánh mắt sâu thẳm in hình bóng giấc mơ của anh. Tôi đắc ý pha thêm chút ánh mắt anh van nài.

 

Anh yêu tôi nhiều như anh yêu đời sống, bút sách, công việc. Anh nồng nhiệt đặt kế hoạch cho tương lai. Trong bảng vẽ phác hoạ cuộc đời của anh có ngày, có tháng, có con số, có mái nhà, có công việc, dĩ nhiên là có tôi. Thật không hời hợt như bức hoạ của tôi, chỉ có mỗi mình anh, mà cũng chỉ có vài nét nguệch ngoạc không có gì rõ ràng. Nhiệt tình của anh khiến tôi yêu anh nhiều hơn tôi yêu bảng nhạc, lời ca. Giá mà người ta có thể vẽ chân dung bằng những khúc nhạc đang reo trong lòng, thì tôi sẽ dễ dàng hoàn tất bức chân dung anh.

 

Ngày anh đỗ cử nhân, anh đến nhà xin hỏi cưới tôi. Mắt anh chân thành, quả quyết, háo thắng như tướng lãnh xuất trận. Bà ngoại gật đầu, tôi nghe lòng ấm áp. Tôi nghĩ đến bức tranh vẽ của anh. Mường tượng ra cả bầu trời. Có căn nhà cuối con đường dốc, có vườn cỏ xanh ngút ngàn, có tiếng gió, tiếng chim hót, tiếng cười trẻ thơ. Có anh cùng tôi bước hết đoạn đường.

 

Chúng tôi sống với nhau những ngày, những tháng, những năm. Anh vừa say mê làm việc vừa tiếp tục với đèn sách. Tôi vun xén đời sống, gieo hạt, rải mầm. Chúng tôi có những ngày trọn vẹn bên nhau. Tôi luôn bên cạnh anh như bình minh xung quanh mặt trời. Bức chân dung về anh trong tôi có thêm nhiều đường nét. Thế giới dường như chỉ có anh và tôi. Chúng tôi xây nhà, dệt mộng, quay cuồng trong vũ khúc tình yêu, khát vọng và ngông cuồng của tuổi trẻ.

 

Thời gian làm chính chắn khái niệm tình yêu chúng tôi dành cho nhau. Thời gian, dù là thời gian của cái “thuở ban đầu lưu luyến” khi vạn vật chỉ là trời xanh, là bóng mát, cũng khiến tôi hiểu ra nhiều điều về anh. Có ngày, tôi chợt nhận ra anh không hẳn luôn là ngọn gió. Có những lúc lá rừng rủ rê, anh nhất định không bay. Anh không thích tiếng xào xạc. Như hôm nay, anh khắt khe nhìn đám lá vàng rủ nhau lìa cành. Anh thờ ơ nhìn ánh hoàng hôn của ngày. Tôi nói trong sự từ giã có cái đẹp của sự từ giã. Ánh vàng cuối ngày là khởi điểm cho màn đêm bao dung. Anh không đồng ý, nói tôi vớ vẩn. Tôi giận, nhưng nghĩ đến lời dặn của bà ngoại, tôi nhận mình vớ vẩn. Sau đó lẻn vào bàn giấy lấy chân dung của anh ra, nhìn ngắm, tôi đặt bút sửa lại cho mái tóc anh bớt bồng bềnh.

 

Tôi sanh bé Nhi vào đầu thu. Khi bác sĩ chúc mừng chúng tôi có con gái, tôi nuốt xuống cái nghẹn bất chợt dâng lên trong cổ khi nhận thấy nỗi thất vọng lộ liễu trong mắt anh. Chiều hôm đó, nằm trong phòng bệnh viện nhìn xuống con đường tràn ngập đám lá vàng, nghe bước chân anh đạp trên những ngọn lá khô, tôi nghe như tiếng dẫm trong tim. Ngày hôm sau anh đón tôi và bé Nhi về nhà, tôi im lặng suốt ngày. Tôi không cầm được lòng lại lấy bảng vẽ ra sửa lại nụ cười của anh cho bớt giống nụ cười ông ngoại. Bà ngoại đến, tôi thì thầm với bà, anh không giống ông Ngoại. Bà nhìn tôi chăm chú không hiểu tôi có ý gì. Tôi làm thinh không giải thích. Lần đầu tiên trong đời, tôi đối diện với một nỗi cô đơn kỳ lạ. Như thể thế giới này chỉ đơn độc mình tôi. Cả bà ngoại vạn năng cũng không thể lọt vào trong tâm hồn tôi nữa.

 

Cuộc sống của chúng tôi qua nhanh. Lúc nắng, lúc mưa, lúc ngọt, lúc đắng. Chàng thanh niên nhẹ nhàng như ngọn gió trong anh đã lột xác thành người đàn ông của cây cổ thụ, chọn vùng đất cố định đâm sâu gốc rễ, hình thành những tàn cây dài rộng phủ bóng xác định bóng mát cho riêng mình. Tôi cũng đem lại cho anh nhiều bóng mát. Ngày tôi sanh thằng Cu, tôi gặp lại bầu trời mênh mang trong mắt anh, nghe tiếng gió reo trong lòng anh. Lòng tôi lẫn lộn vui buồn, không biết mình đang cưỡi cơn sóng của Mẹ hay đang sống với định nghĩa đàn bà của Ngoại. Tôi thấy anh mở ví ra nhìn tấm hình của Bố anh. Tôi cảm động, dặn lòng mình sẽ tiếp tục vẽ bức chân dung của anh.

 

Đời sống và công việc chúng tôi suông sẻ. Bản tính làm việc tới nơi tới chốn và những đam mê xây dựng của anh cùng với sự hỗ trợ của tôi khiến chúng tôi lập nghiệp dễ dàng. Khi bé Nhi lên 6 tuổi, ngày sinh nhật con, như để chuộc tội với mẹ con tôi, anh tặng bé Nhi căn nhà kính be bé, rồi anh bất ngờ có quà cho tôi. Anh mở cặp táp đưa cho tôi tấm ảnh căn nhà kính khung sắt cao lồng lộng ngay sát bờ biển, và giấy tờ anh mới ký giấy mua căn nhà. Tôi chưng hửng không xác định được cảm xúc, thấy cái cảm giác ngộp đang dâng lên trong lồng ngực, như đang bị ai đó nhận chìm. Hồi chọn căn nhà trên dốc núi, tôi có nói với anh tôi muốn ở thật cao, thật xa biển, xa những cơn ác mộng. Tôi chưa kịp phản ứng, anh đã có vẻ giận thấy tôi không mừng rỡ.

 

Ngày tạm biệt căn nhà cuối con dốc, tôi cố nấn ná chờ đợi tia nắng vàng cuối ngày. Gió rung cành phong già trước nhà gần như đã trần trụi. Đám cành cây rùng mình rủ bỏ những ngọn lá cuối cùng chuẩn bị đón mùa đông. Lòng tôi rưng rưng chuyển mùa. Sự lưu luyến, bịn rịn của tôi làm anh cáu tiết, anh nhấn gas phóng xe vù khỏi con dốc, để lại những đám bụi mù tung theo đám lá khô. Tự cảm thấy mình có lỗi, tôi nuốt xuống cái mặn chát trong cổ, tựa đầu vào vai anh làm huề. Tôi tự nhủ sẽ nghe lời Ngoại, sẽ học yêu ý thích của anh, yêu căn nhà kính đen khung thép màu chì anh tự quyết định dọn chúng tôi vào.

 

***

 

Từ ngày dọn về căn nhà sát bờ biển, chân dung của Bố thường xuyên đến trong giấc mộng hằng đêm. Có lần, tôi mơ thấy Bố Mẹ và hai bà cháu cùng đang ở trên thuyền dưới bầu trời mênh mông ngút bờ. Trời nổi cơn giông tố, Ông nổi giận quẳng mẹ xuống biển. Bà ngoại ôm chặt tôi vào lòng. Trong trận cuồng phong, hình ảnh anh xuất hiện, mờ ảo... Tôi thức dậy không dám trở về với giấc ngủ. Tâm thần tôi ngày càng bất ổn. Còn anh, gió biển bốc anh lên cao ngút trời, như cánh diều lướt theo hướng gió, anh hứng khởi tung bay. 

 

Ngày thằng Út chào đời hai năm sau, anh đang ở Á Châu lo mở rộng công việc làm ăn. Độ này, anh ít khi ở nhà, hơn nửa thời gian ở nước ngoài, nửa còn lại anh bận rộn công việc. Anh không có thì giờ với sách vở, nói gì đến thời giờ cho mấy mẹ con. Bà Ngoại tỏ ý lo ngại, còn tôi, lẫn lộn với cảm xúc, tôi cố gắng phớt lờ tập trung vào con cái, nhà cửa, thỉnh thoảng giúp công ty lo công việc sổ sách, giấy tờ. Cuộc sống của chúng tôi ngày càng lạt lẽo. Anh giận dữ thấy tôi không biết vui với niềm vui của anh. Tôi khổ sở nhìn chân dung anh mỗi ngày mỗi xa lạ.

 

Đời sống chung của chúng tôi là hai đời sống hoàn toàn riêng biệt. Mọi gắn bó đều không còn. Anh đi, anh về, anh ngủ, anh thức, anh ăn uống, anh nói điện thoại, anh cười, anh xem truyền hình... tất cả đều không liên quan đến tôi. Thoạt đầu tôi hờn tủi, quay quắt, ghen tuông, giận dữ, rồi sau đó làm hoà với anh, đúng hơn là làm hoà với chính mình. Tình cảm có thể nguội lạnh, nhưng sao có thể bỏ cuộc, làm sao có thể để cơn sóng nhận chìm? Tôi cảm giác có lỗi khi nhận ra sự thờ ơ, bàng quang trong tình cảm của chính mình. Nhưng khi tôi nhẹ nhàng hơn, anh lại thân thiện hơn. Chúng tôi sống bên nhau không có hơi thở của hiện tại, sống bằng dư vị của tình yêu ngày cũ với hy vọng hàn gắn cho ngày sắp tới.

 

Chân dung của anh mỗi ngày mỗi mạnh mẽ. Chưa đến tuổi 40, anh đã là ông chủ của một công ty trên trăm nhân viên, có văn phòng ở Á Châu và Âu Châu. Anh cường tráng từ thể xác đến cái đầu, với kinh nghiệm dày dặn, kiến thức ngày càng xa rộng. Chỉ có ngọn lửa thôi thúc vào đời ngày nào hình như đã tắt ngúm, thay vào đó là một nụ cười tự mãn. Tôi gắng đến mấy cũng không làm sao vui với niềm tự mãn của anh. Anh đã đạt đến đích trở thành “somebody”? Tôi đã chẳng có lần hứa với anh ước mơ của anh là ước mơ của tôi đó sao?

 

Băn khoăn, khó chịu, dày vò, thật ra, tôi biết mình đang ở trong trạng thái phủ nhận. Tôi biết rõ cái nguyên nhân đẩy anh ra xa tôi. Biết rằng đơn vị cân đo sự thành công của anh và tôi đã nằm ở hai đầu thái cực. Anh đo bằng cây thước phù phép của Bố; tôi cân bằng cán cân tình yêu và hạnh phúc trong lòng ông ngoại. Cho nên từ bao năm nay, tôi không dám lấy bức chân dung dở dang của anh ra, dù chỉ để nhìn ngắm, e sợ sẽ thấy chân dung Bố ẩn hiện.

 

***

 

Buổi sáng mùa hè, biển hiền hoà bình lặng, từng con sóng lấp lánh tiếp nối nhau nhẹ nhàng ôm lấy bờ. Bé Nhi và hai thằng Cu lăng xăng rượt nhau trên cát. Tôi nghe tiếng cười dòn của các con. Mặt trời thả tia nắng ấm áp vào lòng. Lần đầu tiên tôi cảm được cái mặn cái nồng của làn gió biển.

 

Mới sáng nay, khi đáp máy bay từ Thái Lan về, anh gọi từ phi trường hẹn chiều nay sẽ về đưa tôi đi ăn tối. Tôi hỏi hờn ăn mừng điều gì mà nghe lòng rung động. Cái cảm giác máu dồn nhịp tim thời mới quen nhau. Có thật là anh nhớ kỷ niệm 20 năm ngày cưới?

 

Lùa đám nhóc vào nhà, cái vali của anh nằm chắn ngay phía trước. Thằng Cu vấp chân đá cái vali tung toé. Thu nhặt xếp gọn vào vali trở lại, một tấm ảnh lớn nằm áp sàn nhà. Tôi nhặt lên, nhìn sững vào tấm ảnh mà nhìn thấy toàn cảnh phía bên kia bờ đại dương. Cũng trời xanh, cũng nắng vàng, cũng bờ cát trắng, hình ảnh anh ôm vai cô gái nhỏ nhắn có màu da muối mặn, hai bên là hai đứa bé trạc tuổi thằng Út giống anh như khuôn đúc, đang lôi tay hai người. Gió thổi mái tóc anh bồng bềnh. Chỉ khác là tôi thấy trên mặt anh có nụ cười tươi. Mắt anh có bầu trời, có mặt hồ in bóng, lung linh ánh lửa anh nhen nhúm ở bên kia bờ.

 

Tôi xếp gọn mọi thứ, trả tấm ảnh ngay ngắn vào vali. Tối hôm đó, anh ngọt ngào đến lạ lùng. Anh đưa tôi đến quán vỉa hè ngày xưa hai đứa thường hẹn hò. Trong men rượu, anh cầm tay tôi nói lời xin lỗi. Anh xin lỗi đã đánh mất “bọn mình”, đã đánh mất chính anh. Anh xin lỗi đã không giữ lời hò hẹn, đã không gieo cho tôi hạnh phúc. Anh hứa sẽ để tôi có dịp vẽ nốt bức chân dung của anh. Anh nói rất nhiều, tôi nhận ra cơn gió sôi nổi ngày nào. Tôi gặp lại ngọn lửa trong mắt anh dành cho tôi. Cũng ngay trong khoảnh khắc đó, ngọn lửa trong tôi chợt nguội lạnh. Bức họa chân dung anh bỗng mờ nhạt, trắng xoá. Tôi chợt nghe và hiểu lời bà ngoại nói ngày nào: “Ông ấy có nhiều bộ mặt, nhưng không có chân dung.”

 

Đêm đó, trăng lên đưa thuỷ triều lên cao.Trăng sáng cả vùng trời, tôi thấy khuôn mặt anh nhẹ nhàng, hiền hoà trong giấc ngủ. Có lẽ anh đang thật sự gặp lại giấc mơ ngày xưa. Lần đầu tiên trong đời, tôi thấy mình tỉnh thức, hiểu rõ hơn bao giờ, từ bao năm nay, tôi đã không giống mẹ dám cưỡi cơn sóng cao. Tôi ngồi dậy lấy tấm chân dung dở dang của anh ra ngắm nhìn lần cuối. Và tôi bắt đầu bôi xoá...

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 201512:51 SA(Xem: 65621)
LTS: Cuối tháng 8, Hợp Lưu nhận được chùm thơ gởi từ Nguyễn Nhựt Hùng, một người làm thơ hiện đang sinh sống tại Vũng Tàu. Mặc dầu còn rất trẻ, anh sinh năm 1989. Nhưng thơ anh mênh mang như sóng biển của thành phố anh đang ở. Chúng tôi hân hạnh gởi đến quí văn hữu và độc giả những thi phẩm của Nguyễn Nhựt Hùng
01 Tháng Chín 201512:41 SA(Xem: 63491)
Con gái tròn 24 rồi, Má biết không Đã qua thuở thì ngồi đan chiếc khăn dài hơn nỗi nhớ Đã qua cái tuổi cam đoan rằng yêu là hạnh phúc Đã biết len lén nhìn, rồi lặng im
30 Tháng Tám 201511:39 CH(Xem: 59195)
LTS: Lần đầu cộng tác cùng Hợp Lưu, Lưu Mêlan là bút hiệu của Nguyễn Thị Nguyệt, sinh năm 1989. hiện sống tại Sài Gòn. Chúng tôi hân hạnh giới thiệu những thi phẩm của Lưu Mêlan cùng quí văn hữu và đọc giả Tạp chí Hợp Lưu.
28 Tháng Tám 201511:15 CH(Xem: 68443)
Mùa Thu, năm 1994, chúng tôi trở lại Hà-nội sau 40 năm xa cách. Một trong mục đích của chuyến đi này là đề gặp ông Nguyễn Hữu Đang, người đứng đầu trong nhóm Nhân Văn, sau khi đọc bài của Phùng Quán viết về chuyến đi thăm ông. Ông đã bị giam tại trại Cổng Trời gần 20 năm, đến đó là chỉ chờ chết, khó có thể trở về được.
27 Tháng Tám 20158:59 SA(Xem: 63054)
Năm 1972, Nguyễn Bắc Sơn in tập thơ “ Chiến tranh Việt nam và tôi”, lập tức được giới văn nghệ và đặc biệt lính chiến sài gòn yêu thích vì lối viết phóng túng, giang hồ ...
27 Tháng Tám 20158:41 SA(Xem: 60932)
Thần hồn son phấn thốt lời Xót thương bạc mệnh một đời giai nhân Văn chương vô mệnh trong ngần Cớ sao lụy đến thư tàn chưa phai
22 Tháng Tám 20155:48 CH(Xem: 49487)
Sau hai tập thơ đã ấn hành (Sinh Nhật Của Một Người Không Còn Trẻ, NXB Văn Mới, Califorina, 2009 - Những Giấc Mơ Tôi, NXB Văn Mới, California, 2013), cuối tháng 7.2015 vừa qua, nhà thơ Lữ Quỳnh đã ấn hành tiếp tập thơ thứ 3, "Mây Trong Những Giấc Mơ", với một tâm thức nhẹ nhàng, thanh thoát như Mây và một cảm xúc sâu lắng, nhưng rất an nhiên tự tại...
20 Tháng Tám 201512:50 SA(Xem: 58075)
Bùi Nhật Tiến, bút hiệu Nhật Tiến sinh ngày 24-8-1936 tại Hà Nội. Năm 1946 mới 10 tuổi Nhật Tiến đã phải theo gia đình rời Hà Nội đi tản cư qua những tỉnh như Sơn Tây, Việt Trì, Hưng Hoá, Phú Thọ
19 Tháng Tám 20158:04 CH(Xem: 62435)
Chuyến hành trình của tôi bắt đầu vào một ngày lộng gió, một buổi chiều mà sắc vàng của nắng nhạt chìm ngâp khắp thế gian. Như mọi ngày sau khi tan học tôi đạp xe song song với thằng bạn thân của mình. Người Lạ là cách tôi gọi nó, đó không phải tên thật, nhưng một ngày nọ nó đã quyết định là từ nay tôi phải gọi nó là Người Lạ, như cách nó vẫn trân trọng thông báo về mình.
18 Tháng Tám 20152:21 SA(Xem: 58453)
“ Nói về Nhục Cảm, thì có thể biểu đạt như một cảm giác hưởng thụ.” Cô bạn tôi, sau khi cái miệng xinh đã thỏa mãn chừng vài thỏi chocolate, liền phán tiếp, “ Miếng Chocolate đầu tiên là Thiên đàng, miếng thứ tư thì vẫn còn ngon, nhưng đến miếng thứ mười lăm thì có thể gần như vô vị.
16 Tháng Tám 2025(Xem: 10396)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17209)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16251)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16726)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 549)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
26 Tháng Sáu 20265:05 CH(Xem: 1418)
anh nằm ôm huế sượng trân / bởi tóc em buộc phù vân giữa lòng / huế mình chừ mãi long đong / nên trăng trong nội vẫn không chịu về
26 Tháng Sáu 20263:01 CH(Xem: 1437)
Có những thứ tưởng chừng phai hết thảy / Đến cuối đời vẫn thổn thức không nguôi / Như chiếc lá rơi qua mùa rất cũ / Chạm tim người một tiếng động xa xôi.
18 Tháng Sáu 20262:22 CH(Xem: 2175)
Có những bài thơ được viết ra để xuất bản ngay. Có những bài thơ lại chọn cách ngủ yên rất lâu trong ngăn kéo thời gian. Những Ngày Chủ Nhật của Nguyễn Chí Trung thuộc về trường hợp thứ hai. Được viết từ năm 2000, bài trường thi này phải đợi đến 26 năm sau mới đến với bạn đọc Hợp Lưu. Trong quãng lặng dài ấy, thời gian đã đổi thay nhiều điều, nhưng những câu hỏi mà thi sĩ đặt ra về nỗi buồn, sự hiện hữu, ký ức, cô đơn và hành trình làm người dường như vẫn còn nguyên tính thời sự. Chúng tôi xin giới thiệu tác phẩm như một món quà nhỏ gửi đến những độc giả yêu thơ Nguyễn Chí Trung — những người vẫn tin rằng có những tiếng nói thi ca không thuộc về một thời điểm, mà thuộc về nhiều thế hệ cùng chia sẻ một nỗi băn khoăn trước đời sống. TẠP CHÍ HỢP LƯU
(Xem: 129)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
(Xem: 459)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
(Xem: 1372)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
(Xem: 1229)
Tôi không sống bằng nghề báo nhưng luôn dành cho nghề báo một sự yêu quý đặc biệt. Dù công việc chính là một nghề khác, thỉnh thoảng tôi vẫn cộng tác với một vài tờ báo, có bài được đăng và nhận nhuận bút. Vì thế, tôi có cơ hội quan sát báo chí từ một khoảng cách vừa đủ gần để thấy những giá trị đáng trân trọng, đồng thời cũng nhận ra không ít vấn đề tồn tại.
08 Tháng Bảy 20267:19 CH(Xem: 570)
LTS: "Khi anh đi không người đưa đón – Khi anh về tám chín người khiêng" là một truyện ngắn lay động về sự phản bội, sự trả giá và lòng vị tha. Không lên án gay gắt, nhà văn Hoàng Thị Bích Hà để chính số phận nhân vật cất lên bài học về nhân quả và giá trị của nghĩa tình tào khang. TCHL
27 Tháng Sáu 20269:11 SA(Xem: 1405)
Tôi về căn nhà xây xong bỏ trống chưa bán được vì Covit 19 của ông con, căn nhà trống trơn không nước nóng đi vội tôi không mang theo bất cứ thứ gì ngoài vài gói mì gói, không muỗng nĩa, không khăn tắm tôi đi như người Tị nạn chạy trối chết ra khỏi nhà với vết răng cắn trên tay, một vết cắn nhá lửa của hiền thê nhớ đời, bắt đầu viết về Exodus của dân Do thái Việt Nam gia đình tôi lủng cũng vì chuyện viết lách của tôi, khi bà xã phát giác ra cái quá khứ lẫy lừng gái gú của tôi bà không vui nói tôi chỉ sống mộng mơ với quá khứ không biết sống với hiện tại và quý những gì mình đang có, một trận cãi nhau kịch liệt vợ hiền nổi giận biến thành bà La sát xuất chiêu cho tôi một vết cắn...
26 Tháng Sáu 20264:21 CH(Xem: 1285)
Âm bản & Dương bản (Négatif & Positif) – khái niệm có gốc từ điện ảnh phim nhựa, còn gọi là phim điện ảnh hoặc phim chiếu rạp, liên quan đến quy trình sản xuất phim có từ buổi sơ sinh của Nghệ thuật Thứ Bảy - Nàng Tiên Út từ cuối thế kỷ XIX (hiện phim nhựa và các loại máy quay máy chiếu phim nhựa đã được đưa vào các Bảo tàng Điện ảnh), cái quy trình mà nếu ai đó muốn tìm hiểu trên Google sẽ không bao giờ có được thông tin đầy đủ… Nhưng, cuốn sách này không đi sâu vào công nghệ Điện ảnh, chỉ mượn khái niệm Âm bản & Dương bản như một cánh cửa ban đầu, một ký hiệu nghệ thuật nhỏ để phác họa hành trình tinh thần của tác giả, cùng đôi ba lát cắt tự sự về nghề qua đó hé lộ giúp người đọc đôi chút về đời sống của những người làm phim Việt qua mấy thế hệ, ở xứ sở Lắm người nhiều ma …
26 Tháng Sáu 20263:59 CH(Xem: 1287)
“Là con dân của một đất nước mà lịch sử là một chuỗi tranh đấu không ngừng để được tồn tại, NQ thiết nghĩ “Hội Thề Đông Quan” là một chiến thắng đáng suy ngẫm. Sau 10 năm nếm mật nằm gai, chứng kiến đất nước và dân mình chịu bao tang tóc dưới ách bạo tàn của nhà Minh. Thế mà cha ông chúng ta đã mở đường hiếu sinh cho hàng vạn hàng binh, và còn cấp thuyền, cấp ngựa cho họ trở về nước. Sự bao dung đã biến một chiến thắng quân sự thành khúc khải hoàn của lòng nhân ái và đem lại bình yên cho người dân của đôi bờ bờ cõi.” (Nguyệt Quỳnh)
11 Tháng Bảy 2026(Xem: 190)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3018)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2876)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3332)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 2095)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 13912)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 30042)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 36096)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 11543)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 13036)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 2803)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 3978)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 3961)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 4475)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 5007)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 8273)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 7656)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 10604)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.