- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

CHIÊM NGHIỆM TỪ ” ĐỔ TIẾNG CHUÔNG CHÙA” CỦA NHÀ VĂN VŨ ĐẢM

23 Tháng Tư 201312:00 SA(Xem: 73301)


bia_do_tieng_chuong_chua-content


Nhà văn VŨ ĐẢM vừa cho ra mắt tập truyện ngắn” Đổ tiếng chuông chùa” do NXB Thanh Niên ấn hành năm 2013. Tập truyện gồm 10 truyện ngắn đề cập đến nhân tình thế thái trong cái thời cuộc đang đầy biến động hiện nay. Không chỉ cái truyện ngắn” Đổ tiếng chuông chùa” lấy tên cho cả tập mà trong mỗi truyện, đọc xong ta như thấy ngân lên một hồi chuông do ai đó thỉnh lên để ta lắng nghe, chiêm nghiệm, lại như chính ta muốn thỉnh lên một hồi chuông để thức tỉnh chính ta.

 Ra ngõ gặp ba người, một truyện ngắn vừa đạt giải thưởng cuộc thi truyện ngắn của Báo Sài Gòn giải phóng và Hội nhà văn TP.HCM tổ chức năm 2012, truyện khá ngắn nhưng tư tưởng và tính triết luận lại ngân cao. Hạ Văn là một trí thức, đọc cả một bồ sách và cho rằng ta đây hiểu cái đạo ở đời, muốn giúp đời những điều to tát nhưng đời lại không hiểu mình nên suốt ngày chỉ chúi đầu vào đọc sách giải khuây, bỏ cả việc làm, bỏ cả chuyện vợ con. Rồi một ngày Hạ văn đi ra ngoài tìm thầy theo lời dạy của Khổng Tử, trong ba người gặp ngoài đường thế nào cũng có một người gặp ta. Hạ Văn đi, lúc đầu gặp một ông giáo sư, ông bảo có thể làm thầy Hạ Văn bằng cách hướng dẫn Hạ Văn làm luận án tiến sĩ; làm bằng tài năng sẽ thành nhà khoa học nhưng làm khoa học thì nghèo nên Hà Văn không theo. Còn làm tiến sĩ bằng tiền thì thể làm quan to nhưng làm quan mà dốt nát thì phải quỵ lụy ươn hèn nên Hạ Văn bỏ đi, không theo. Rồi Hạ Văn gặp một doanh nhân, bảo có thể làm thầy Hạ Văn bằng cách dạy cho Hạ Văn trở thành doanh nhân bằng nghệ thuật bán hàng, nói thách cao nhưng giảm giá lớn thì dân sẽ tham rẻ mà mua. Hạ Văn cho là lừa đảo nên bỏ đi. Rồi Hạ Văn về vùng quê, thấy cảnh sông nước yên bình lấy làm thích và nảy ra ý định về đây mua đất để thỉnh thoảng về về sống, câu cá sông, gối đầu lên cỏ mà đọc sách. Nhưng chợt nghĩ bọn dân quê vốn thất học, tham lam, lại sang vay tiền, lại sang mượn sách rồi không có giấy chùi đít lại chả tiện tay xé đi vài trang thì sao? Đúng lúc đó có đứa trẻ trâu đi qua, thấy Hạ Văn đeo nhiều vàng trên tay, trên cổ thì khuyên Hạ Văn hãy cất ngay đi kẻo lại thiệt thân. Hạ Văn cả cười bảo đến giáo sư, doanh dân còn chả làm được thầy ta chứ sá gì cái thằng nhãi ranh này? Rồi cứ thế thiu thiu ngủ, được một lúc vãi đái cả ra quần khi có hai tên cướp lăm lăm dao lột hết vàng, tiền bạc. Lúc hai tên cướp đi xa, hoàn hồn xong, Hạ Văn cắm đầu chạy vào làng, miệng lẩm bẩm:” Thầy ta, thầy ta!”. Thế đấy, đâu cứ giáo sư, tiến sĩ mới làm thầy được mà ngay một đứa trẻ trâu cũng có thể trở thành thầy ta ở trong một hoàn cảnh nào đấy!

 Con chim lạ, một truyện ngắn lấy từ hình ảnh con chim cu gáy ở ngoài đời, loài con chim này có đặc tính khi gáy nó hay chúc đầu xuống, chổng đít lên. Một hình ảnh tự nhiên, đời thường của loài chim cu gáy nhưng nó đã được nhà văn Ký, nhân vật trong truyện biến thành vị cứu tinh cho ông B cán bộ tỉnh về hưu. Khi còn đương chức, ông B được nhiều người đến nhờ cậy, khom lưng, cúi lạy để ông ban phát cho bổng lộc dự án, cấp tiền ngân sách, thăng quan tiến chức nhưng đến khi ông về hưu rồi thì chả có ma nào đến lạy lục ông nữa. Đó là lẽ đương nhiên vì xưa kia họ đến lạy lục ông theo kiểu mua- bán sòng phẳng chứ không phải tình người giúp đỡ lẫn nhau cho nên ông về hưu chả ai đến mau ông nữa thế nhưng ông không hiểu điều này lại cho là thiện hạ ăn ở bạc bẽo với mình thế nên ông mắc chứng trầm uất, và mấy lầ toan tự tử. May sao bà vợ ông biết được nhà văn Ký có con chim cu gáy, nó không những hót hay mà còn có động tác cúi đầu chổng mông giống như hình ảnh nhiều kẻ đã quỳ lạy ông B ngày xưa. Bà vợ ông B hỏi mua con chim, giá trăm triệu cũng mua, nhà văn Ký không bán mà tặng bà. Quả nhiên khi bà vợ đem con chim cu gáy về treo trước của phòng ngủ của ông B, khi thấy nó vừa gáy vừa gập đầu, chổng đít, ông B đã phụ họa theo:

- Cúc cù cu, cu!

- Tuyệt, rất tuyệt!

 Đây không phải là âm thanh của tiếng chuông chùa, chỉ là tiếng đối thoại của chim và người nhưng nó xoáy sây, ngân nga không kém gì tiếng chuông trong tâm trí bạn đọc về cái bi, cài hài sâu sắc của những kẻ bị quyền lực ám ảnh, chi phối ngay cả khi đã bước khỏi chốn quan trường.

 Nếu trong truyện Con chim lạ, ông quan tỉnh B bị ám ảnh bởi sự lạy lục của kẻ dưới thì trong truyện ngắn Tây Thi tỉnh lẻ, ông quan huyện Hứa Bình lại bị sự ám ảnh, hành hạ trong từng bữa ăn, giấc ngủ về cặp vú của vợ mình. Xuất thân từ một gia đình bần nông nghèo khổ, nghe theo lời bố, ông Hứa Bình cưới con ông cán bộ xã giàu có, quyền thế, tất nhiên cô vợ ông rất xấu nên mới chấp nhận làm vợ một kẻ cùng đinh như ông. Cái mà ông Hứa Bình kỳ vọng nhất trên thân thể cô con gái ông cán bộ xã chính là đôi gò bồng căng mẩy của cô, chả là thủa bé, ông đã nhìn trộm ngực của một người đàn bà có cặp vú đẹp, trắng nên nó ám vào tâm trí ông. Thế nên đếm tôn hôn khi cô vợ cởi bỏ chiếc xu- chiêng cứng như mo lang ra để lộ cặp vú nhão nhoét vì bị mấy thằng chăn trâu hồi bé giày vò thì ông đã điên tiết tát cho cô một cái và đuổi về nhà bố mẹ. Chỉ một lúc sau, gia đình bố vợ đã cho giai nhân đến đè ông Hứa Bình ra đòi xẻo cái của quí của ông, ông sợ hãi xin tha lỗi và sang đón vợ về. Từ đó cho đến khi ông bước vào chốn quan trường rồi trở thành cán bộ chủ chốt của huyện nhưng sự ám ảnh bởi cặp vú của vợ vẫn mãi đeo bám ông, ông thèm khát được ngắm nhìn đôi gò bồng còn trinh nguyên căng cứng. Rồi cơ hội đó cũng đến khi mà huyện ông có cô Ái Linh là người trong huyện đã đạt giải Á khôi một cuộc thi hoa hậu. Nhìn thấy ảnh cô chụp trên trang bìa một tạp chí, có bộ ngực hở hang, đẹp hút hồn ông đã mê mẩn và ra lệnh cho Nguyễn Bâu là phó văn phòng tuyển cô về làm tạp vụ cho ông với ý đồ ông sẽ ngắm bằng được cặp vú trinh nguyên của cô để rồi chết ông cũng hả lòng hả dạ. Thế nhưng sau bao tháng chăm chút cô, đưa cô Ái Linh vào được khách sạn, ông Hứa Bình khóc nấc lên, quỳ xuống nói cho cô biết sự thật về nỗi ám ảnh cặp vú của vợ và nỗi thèm khát được một lần trong đời nhìn thấy cặp vú trinh trắng và xin cô cho ngắm đôi vú cô thì hỡi ôi hai vú cô đã thâm sì vì cô bị anh phó văn phòng Nguyễn Bâu lừa phỉnh làm cho cô có thai. Ông Hứa Bình ngã vật ra giường, đôi môi ông úp vào chiếc xê-chiêng trắng muốt của cô Ái Linh. Cái đoạn kết bằng hình ảnh úp mặt của ông Hứa Bình vào chiếc xê- chiêng của cô nhân viên đã lột tả lên được một hình ảnh của một người đàn ông làm quan cả đời chỉ đi tìm cái đẹp, ngắm được một lần thôi mà cũng không được. Thật là bi hài.

 Nhà văn Vũ Đảm thường có những kết của truyện rất ấn tượng và để lại trong tâm trí bạn đọc một sự khắc khoải, suy ngẫm nối tiếp cái tư tưởng của nhà văn. Trong truyện Tiến sĩ tập đếm cũng có cái kết độc đáo như vậy. Một tiến sĩ trẻ- xưng tôi trong truyện, bỗng nhiên vào một ngày đẹp trời được ông viện trưởng nhấc lên ghế viện phó để bồi dưỡng tài năng trẻ kế cận vì ông vừa đưa cháu vào thăm Văn Miếu- Quốc tử giám và ông đã đến tấm bia khắc lời của tiến sĩ Thân Nhân Trung, triều Lê:” Hiền tài là nguyên khí quốc gia...”. Ông muốn học tập cha ông, trọng dụng nhân tài, quyết định bổ nhiệm đã được ông ký cho tiến sĩ trẻ, có tài có đức nhưng đợi mãi chả thấy vị tiến sĩ này có thái độ gì nên cuối cùng ông viện trưởng đã bổ nhiệm cho một ông sắp về hưu, dốt nát nhưng lại có tiền. Vị tiến sĩ trẻ lên phòng tổ chức, chất vấn ông trưởng phòng tại sao lại không trao quyết định cho anh mà lại trao cho ông sắp về hưu thì được ông trưởng phòng nói rằng dến đứa cháu ngoại của ông muốn vào được trường Mần non điểm cũng phải cạnh tranh biết đếm bằng tiếng Anh nữa là. Anh tiến sĩ đi ra ngoài rồi chả hiểu sao anh lại đếm bậc cầu thang:” Một bậc, hai bậc, ba bậc”. Có vẻ như ngây thơ nhưng đằng sau bước chân đếm cầu thang của anh tiến sĩ là hồi chuông buồn về tệ nạn mua quan bán chức hiện nay. Dù anh có tài, có đức nhưng không có ô dù, không có tiền thì cũng đừng hòng mơ đến một chức vụ quan trọng nào đó để cống hiến, để phụng sự nhân dân.

 Cõi người, ôi cõi người mênh mông, phức tạp, nhân văn lắm nhưng độc ác cũng không ít đẩy con người vào vòng xoáy của cuộc sống mưu sinh nhọc nhằn. Cõi người trong truyện ngắn Cõi người của nhà văn Vũ Đảm đã được đẩy đến đỉnh điểm về sự mưu mô, ham hố danh vọng, mê tín đến mù quáng của những kẻ lắm tiền; và cả bi kịch của những người nghèo. Kẻ lắm tiền, trọc phú muốn có danh với đời đã nghe theo lời một tay thầy địa lý xui mua đất của vợ một người nông dân nghèo rồi đặt mộ mẹ mình vào đất ấy thì sẽ trở thành người nổi tiếng hoặc làm quan to. Việc thi nhau xây mộ người thân thật to, thật đẹp; việc nhờ thầy tìm đất đặt mộ để phát quan phát lộc đang là cái mốt thời thượng. Người nông dân nghèo đã buộc phải bán chỗ đất với giá cao như đất mặt phố đang là nơi an nghỉ của vợ để chuyển mộ vợ ra chỗ khác, lấy tiền cho con trai ở Hà Nội mua nhà. Và để che mắt được dân làng, ông đã giả điên vì mồ mả bị động. Cả họ ông sợ đàn ông trong họ bị điên như ông đã hô hào con cháu trong họ di dời mộ ông ra chỗ trũng gần bờ sông. Thật đau lòng, xót xa và cõi người chỉ ấm áp lại khi hình ảnh nén hương trên ngội mộ mới của vợ người đàn ông bùng cháy như muốn nói rằng người vợ sẽ phù hộ cho chồng cho con về việc làm khổ tâm của mình.

 Đổ tiếng chuông chùa, truyện ngắn lấy tên cho cả tập là một truyện rất hiện thực trong đời sống hiện nay. Một ông cục trưởng tên Hộ có quyền lực, giàu có luôn luôn được các đối tác săn đón để được ông ban bố ngân sách, các dự án làm ăn béo bở. Họ quà cáp, lại quả cho ông bằng nhiều triệu đô la, bằng những bữa tiệc sang trọng và bằng cả những cô chân dài xinh đẹp. Trong một lần, cục trưởng được một đối tác dâng cho người đẹp gạo trắng nước trong miền sông nước còn trinh tiết với mục đích cái” ngàn vàng” của người đẹp sẽ đổi lấy mảnh đất ngàn vàng ở tỉnh nọ để làm khu du lịch cao cấp. Nào ngờ bị bọn Tú Bà dâng hàng rởm, người đẹp đã vá lại cái ngàn vàng của mình năm lần. Vì nạo thai nhiều lần, bác sĩ cảnh báo nếu cô nạo thai thêm một lần nữa sẽ vĩnh viễn không có con nên trước khi ân ái, người đẹp bắt cục trưởng phải viết giấy cam đoan, có thai sẽ bỏ vợ để cưới cô. Bị sắc đẹp trong trắng hút hồn, cục trưởng viết mấy chữ cam đoan. Người đẹp có thai, cục trưởng định dùng tiền mua chuộc cô nạo thai nhưng cô bay từ TP.HCM ra tận phòng làm việc của cục trưởng ở Hà Nội, bắt ông quỳ gối hứa bỏ vợ ngay để cưới cô nếu không cô sẽ mở cửa phòng làm việc, vạch váy cho thiên hạ biết cái thai trong bụng cô là tác giả của ông. Thật là khủng khiếp, cục trưởng Hộ đã quỳ gối, thỏa hiệp. Ngay sau đó ông đã quỳ gối van xin vợ cho ly hôn. Bà vợ vì chồng vì con đã đồng ý ly hôn và bỏ vào một ngôi chùa hoang ở ngoại thành để tu hành. Cục trưởng sau đó lên được chức thứ trưởng nhưng cô vợ trẻ đã cuỗm hết tiền bỏ đi với nhân tình, bỏ lại hai đứa con trai sinh đôi cho ông, và đau đớn hơn là để lại cho ông cả căn bệnh thế kỷ HIV. Cục trưởng đã đến chùa, van xin vợ quay về nuôi hai đứa con cho ông, may mà chúng không bị HIV, ông quỳ gối cầu Phật trong tiếng chuông chùa mà vợ ông vừa thỉnh. Tiếng chuông chùa ngân vang, thức tỉnh trong ông thứ trưởng sự ăn năn , hối cải muộn màng. Tiếng chuông chùa cũng cảnh tỉnh nhân gian về sự tha hóa của đạo đức, sự xuống cấp của văn hóa trong cuộc sống chốn quan trường hôm nay.

Trần Văn


Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
26 Tháng Hai 20154:33 SA(Xem: 57115)
Nah có nghĩa là Không, và em bảo em đã đi hết vòng tròn của chữ không trong đạo phật rồi. Đối với tôi, em là một loài chim lạ, con chim tuyết trong bài hát Snowbird của ca nhạc sĩ xứ Quebec, Gene MacLellan.
26 Tháng Hai 20154:17 SA(Xem: 56145)
Hôm nay, chúng tôi trở về thăm lại nền nhà xưa của nội. Ngày ba sống đã từng ao ước sẽ dẫn đàn con trở về thăm quê cũ. Bây giờ nếu ba còn sống, chắc ông sẽ hạnh phúc lắm. Khu vườn của nội cây chằng chịt, nền đất cũ hoang tàn, ngôi nhà tranh vách đất của nữa thế kỷ trước vẫn đứng im lìm trong nắng sớm. Cây cổ thụ có một tổ ong to đang làm mật. Chu vi khuôn viên đã bị lấn chiếm nhiều.
26 Tháng Hai 20153:55 SA(Xem: 57442)
“Khu rừng này sẽ cho chúng tự do, vậy tại sao chúng vẫn muốn bay khỏi đó. Ông nói với tôi ghét sự trói buộc, vậy tại sao ông không tìm một con dao để cắt những sợi dây đó ra. Hay là…Ông vẫn muốn đứng ở một chỗ để mơ mộng tự do.”
26 Tháng Hai 20151:15 SA(Xem: 61314)
coi phim khiêu dâm một chặp đầu óc bỗng sáng ra đùi. vú và mông có gì lấn cấn nơi câu chữ à phải rồi thơ không đáy tưng bừng chói lọi như gương
18 Tháng Hai 201510:22 SA(Xem: 66074)
Mùa xuân mộng mơ về người yêu đầu Sao không nói với anh về người yêu sau cuối Chợt mắt chiều rất lạ Năm tháng có bao giờ lập lại hôm qua
18 Tháng Hai 201510:16 SA(Xem: 60895)
Ngày ấy mẹ sinh em ra ở làng Hương Hồ bên bờ sông Bạch Yến. Không có con sông nào lặng lờ nước biếc xanh như dòng Bạch Yến, một nhánh của sông Hương tẻ ngang uốn lượn loanh quanh bên làng quê nhỏ nhu mì hiền lành của vùng Hương hồ, tưới mát hết hai triền bờ xanh um, trước khi xuôi về Bao Vinh nhập mình trở lại vào dòng Hương.
18 Tháng Hai 20159:45 SA(Xem: 67052)
Vậy mà đã 40 năm qua đi 1975-2015, với đời người như một cơn gió thoảng, với lịch sử chỉ là một chớp mắt, nhưng lại là một chặng đường rất dài trải nghiệm những tang thương. Thêm một chớp mắt nữa, thế hệ những người cầm bút 1954-1975 đều trở về với cát bụi, một số có thể còn được nhắc tới qua tác phẩm nhưng rồi cũng phải kể tới cuộc sống đầy đoạ và cả những cái chết tức tưởi của họ. Nói tới Văn Học Miền Nam, không thể không có một “cuốn sách trắng/ livre blanc” về thời kỳ đó, một Wikipedia mở, như một “bộ nhớ” cho các thế hệ Việt Nam tương lai.
18 Tháng Hai 20159:32 SA(Xem: 66626)
Anh không về, hèn chi hôm qua, hôm kia, hôm kia kia nữa Con hẻm quen tự dưng nỗi chứng gập ghềnh Bầu trời đêm nay chẳng thắp nổi vì sao Mây cũng giận, khóc oà như trẻ con lạc mẹ
18 Tháng Hai 20159:25 SA(Xem: 61527)
Nắng tô vàng mái hiên chùa Sư về giũ áo gọi mùa xuân lai Nữa đêm rót bát trăng đầy Đánh chuông bát nhã một chày kình thiên
18 Tháng Hai 20159:17 SA(Xem: 62240)
những giây phút đầu của năm thứ bốn mươi hãy nói gì đi em với những thinh lặng bủa vây để rồi tự thương xót thân thể mình đã xanh rêu ký ức nhưng chúng ta đừng minh chứng cho một điều sợ hãi
16 Tháng Tám 2025(Xem: 10489)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17317)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16383)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16848)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 1503)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
26 Tháng Sáu 20265:05 CH(Xem: 1978)
anh nằm ôm huế sượng trân / bởi tóc em buộc phù vân giữa lòng / huế mình chừ mãi long đong / nên trăng trong nội vẫn không chịu về
26 Tháng Sáu 20263:01 CH(Xem: 1962)
Có những thứ tưởng chừng phai hết thảy / Đến cuối đời vẫn thổn thức không nguôi / Như chiếc lá rơi qua mùa rất cũ / Chạm tim người một tiếng động xa xôi.
18 Tháng Sáu 20262:22 CH(Xem: 2744)
Có những bài thơ được viết ra để xuất bản ngay. Có những bài thơ lại chọn cách ngủ yên rất lâu trong ngăn kéo thời gian. Những Ngày Chủ Nhật của Nguyễn Chí Trung thuộc về trường hợp thứ hai. Được viết từ năm 2000, bài trường thi này phải đợi đến 26 năm sau mới đến với bạn đọc Hợp Lưu. Trong quãng lặng dài ấy, thời gian đã đổi thay nhiều điều, nhưng những câu hỏi mà thi sĩ đặt ra về nỗi buồn, sự hiện hữu, ký ức, cô đơn và hành trình làm người dường như vẫn còn nguyên tính thời sự. Chúng tôi xin giới thiệu tác phẩm như một món quà nhỏ gửi đến những độc giả yêu thơ Nguyễn Chí Trung — những người vẫn tin rằng có những tiếng nói thi ca không thuộc về một thời điểm, mà thuộc về nhiều thế hệ cùng chia sẻ một nỗi băn khoăn trước đời sống. TẠP CHÍ HỢP LƯU
(Xem: 1236)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
(Xem: 1339)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
(Xem: 1795)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
(Xem: 1539)
Tôi không sống bằng nghề báo nhưng luôn dành cho nghề báo một sự yêu quý đặc biệt. Dù công việc chính là một nghề khác, thỉnh thoảng tôi vẫn cộng tác với một vài tờ báo, có bài được đăng và nhận nhuận bút. Vì thế, tôi có cơ hội quan sát báo chí từ một khoảng cách vừa đủ gần để thấy những giá trị đáng trân trọng, đồng thời cũng nhận ra không ít vấn đề tồn tại.
14 Tháng Bảy 202612:37 SA(Xem: 1073)
Bích Lan sinh trưởng ở Đồng Nai, tính tình hiền lành và có ngoại hình dễ nhìn. Năm nay bốn mươi tuổi. Ở cái tuổi mà nhiều người phụ nữ đã có con vào đại học, cô trở về căn hộ của mình mỗi chiều với một chùm chìa khóa và sự im lặng. Từ ban công tầng mười sáu nhìn xuống, thành phố đêm nào cũng sáng rực. Xe cộ vẫn xuôi ngược, những ô cửa vẫn hắt ra ánh đèn vàng ấm áp. Chỉ có căn hộ của Lan, nhiều lúc rộng đến mức nghe rõ tiếng dép của chính mình trên nền gạch. Sự nghiệp làm ăn thì thuận tiện nhưng về đường tình duyên thì có phần lận đận.
08 Tháng Bảy 20267:19 CH(Xem: 1446)
LTS: "Khi anh đi không người đưa đón – Khi anh về tám chín người khiêng" là một truyện ngắn lay động về sự phản bội, sự trả giá và lòng vị tha. Không lên án gay gắt, nhà văn Hoàng Thị Bích Hà để chính số phận nhân vật cất lên bài học về nhân quả và giá trị của nghĩa tình tào khang. TCHL
27 Tháng Sáu 20269:11 SA(Xem: 1905)
Tôi về căn nhà xây xong bỏ trống chưa bán được vì Covit 19 của ông con, căn nhà trống trơn không nước nóng đi vội tôi không mang theo bất cứ thứ gì ngoài vài gói mì gói, không muỗng nĩa, không khăn tắm tôi đi như người Tị nạn chạy trối chết ra khỏi nhà với vết răng cắn trên tay, một vết cắn nhá lửa của hiền thê nhớ đời, bắt đầu viết về Exodus của dân Do thái Việt Nam gia đình tôi lủng cũng vì chuyện viết lách của tôi, khi bà xã phát giác ra cái quá khứ lẫy lừng gái gú của tôi bà không vui nói tôi chỉ sống mộng mơ với quá khứ không biết sống với hiện tại và quý những gì mình đang có, một trận cãi nhau kịch liệt vợ hiền nổi giận biến thành bà La sát xuất chiêu cho tôi một vết cắn...
26 Tháng Sáu 20264:21 CH(Xem: 1786)
Âm bản & Dương bản (Négatif & Positif) – khái niệm có gốc từ điện ảnh phim nhựa, còn gọi là phim điện ảnh hoặc phim chiếu rạp, liên quan đến quy trình sản xuất phim có từ buổi sơ sinh của Nghệ thuật Thứ Bảy - Nàng Tiên Út từ cuối thế kỷ XIX (hiện phim nhựa và các loại máy quay máy chiếu phim nhựa đã được đưa vào các Bảo tàng Điện ảnh), cái quy trình mà nếu ai đó muốn tìm hiểu trên Google sẽ không bao giờ có được thông tin đầy đủ… Nhưng, cuốn sách này không đi sâu vào công nghệ Điện ảnh, chỉ mượn khái niệm Âm bản & Dương bản như một cánh cửa ban đầu, một ký hiệu nghệ thuật nhỏ để phác họa hành trình tinh thần của tác giả, cùng đôi ba lát cắt tự sự về nghề qua đó hé lộ giúp người đọc đôi chút về đời sống của những người làm phim Việt qua mấy thế hệ, ở xứ sở Lắm người nhiều ma …
11 Tháng Bảy 2026(Xem: 1137)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3258)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3244)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3811)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 2358)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 14009)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 30120)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 36243)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 11740)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 13135)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 3034)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 4349)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 4289)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 4794)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 5373)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 8462)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 7865)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 10781)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.