- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

HOA CÚC QUỲ KHÔNG BAO GIỜ CHẾT

18 Tháng Bảy 201212:00 SA(Xem: 117723)

 phamphuong_2011_bw-content

 Phạm Phương (Hà Nội)

Tôi có thể kể một câu chuyện giống như diễn tiến tự nhiên của cuộc sống. Tất nhiên điều đó không có hại gì cho sự nghiệp văn chương của tôi. Trừ phi tôi muốn dây dưa bằng những thứ ì xèo người ta gọi là vạ miệng. Con chữ giết người. Sự sứt mẻ tinh thần đem đến những mớ bòng bòng rắc rối. Và họa vô đơn chí sẽ có một vài kẻ bắt vạ không lương thiện. Họ làm tổn thương tâm hồn nhà văn của tôi.

Tôi là một phóng viên có năng lực, ít ra là sự tự tin nói vậy. Hai mươi ba tuổi, với nhiều truyện ngắn đăng báo và vài cuốn sách được xuất bản, gắn mác nhà văn, tôi có chỗ đứng trong một tòa soạn tiếng tăm. Không người yêu, không gia đình, không cả hứng thú với cuộc sống, tôi đơn độc đối chọi với một cục người hàng ngày ăn uống ngủ nghỉ, chửi nhau, làm bậy, giết nhau, thậm chí chôn vùi nhau trong một đống bầy nhầy gọi là thành phố.

Tôi lặng lẽ chấp nhận.

Thành phố phồn hoa đã có thời quyến rũ tôi. Như cô học trò đôi chín choáng ngợp trước vẻ đẹp hiệp sĩ của thầy giáo, tôi háo hức từ quê đến thành phố để học đại học với những mơ tưởng viển vông về một thế giới khác, nơi người ta tự do hơn, có thể sẽ có một tình yêu trên chiếc xe đạp rách, những xóm trọ bốc mùi hôi thối nằm trong hang cùng ngõ hẻm với lời chửi bới ngoa ngoắt đến hài hước của bà già chủ nhà có hình dáng quỷ dạ xoa, chống nạnh, gầm gừ. Trước khi trở thành sinh viên, tôi ít khi nghĩ đến kết cục vinh quang với tấm bằng đỏ. Tôi dành nhiều thời gian để mơ ước một lối sống mới hơn. Sau khi tốt nghiệp, tôi dần biến đổi trở thành một kẻ vật vã kiếm tiền rồi vật vã tiêu tiền. Như một con bạc khát nước trong vòng quay xổ số của cuộc sống, có đêm tôi nằm mơ thấy mình là vua Mi – Đát, đang cầu xin thần Đi-ô-ni-dốt trên bờ biển toàn cát vàng lóng lánh. Tôi ghét màu vàng. Tôi yêu màu trắng hơn.

Chân dung phác họa của tôi cho đến bây giờ chỉ có vậy!

Tòa soạn của tôi nằm giữa một trung tâm thương mại lớn với một vòng xuyến xoay như xoáy nước trong nồi phở. Đứng trên tầng 8 nhìn xuống, cảm giác người qua kẻ lại là hành mỡ đang quyện vào nhau. Trong lớp kính đã mờ vì hơi sương trước mặt tôi có một hình bóng loang loáng, đổ vỡ. Tôi đưa ngón tay gạch chéo chữ X vào cái bóng rồi quay lưng bước đi về phía phòng làm việc của mình. Bây giờ đã là cuối mùa thu, sự nhức nhối trong từng lớp không khí làm cho mùi vị cuộc sống có vẻ tanh tưởi hơn bình thường. Lá đã bắt đầu phơi mục, trơ gân cứng, lớp diệp lục mành mành tan vào đất. Một sự tàn úa khủng khiếp đến tê dại nơi đầu các giác quan trễ nải của tôi. Cố quẳng một cái nhìn lạnh giá về phía thiên nhiên, tôi chui vào bàn làm việc – vốn là một cái ngăn gỗ nhân tạo với một chồng giấy má, máy tính, bút nhiều màu và vài thứ đồ hộp được dấu kĩ dưới ngăn kéo bàn.

Lịch công tác tháng này, xem nhé các tình yêu.

Tiếng nói của ai từ góc nào đó trong văn phòng đập vào tai tôi. Một tờ giấy được ấn xuống trước mặt tôi từ một ngón tay đàn ông sạch đến từng cái móng. Những cái móng bị viêm nhìn như móng giả lướt đi một cách ẻo lả và ngu ngốc, dí ngược từng dòng chữ đen đậm trên đó vào mắt tôi. Tháng này đi Tây Nguyên à, tôi lẩm bẩm, chết tiệt thật! 

Vùng đất cao nguyên vẫn luôn đem đến cho tôi một ấn tượng không tốt. Từ bao giờ, tôi luôn chạy trốn khỏi nó như một con ma chạy trốn địa ngục, hoặc cũng có thể là giống như một con người chạy trốn trái đất của mình. Mặc định phiêu du và tự do luôn ám vào nó chăng nữa, khao khát của tôi dành cho những ý muốn trong lòng vẫn trở nên trơ lì trước sự căm ghét dường như ăn sâu vào máu dành cho miền đất vô tội ấy.

Lén lút vò vún tờ lịch công tác lại rồi vất dưới ngăn bàn. Một hành động vô học của một đứa con hoang vẫn tồn tại trong không gian đầy chất trí thức này. Tôi nhìn sang bàn bên cạnh, thấy khuôn mặt đồng nghiệp cúi gằm xuống tờ bảng biểu ép Plastic. Trong tấm nhựa ép bóng loáng ấy là cái bóng của khuôn mặt hắn. Một điệu cười nhếch mép và một đôi mắt quả ớt nham hiểm đến rụng rời.

Cái làng ma ấy cũng hấp dẫn đấy chứ. Ông bố quân nhân của cô lại là chúa đất ở đấy. Một con ma cúc quỳ chứ vài chục cũng phải nghe lời ông ấy thôi.

Tôi im lặng dần rồi từ từ chìm nghỉm trong không gian cô đơn đầy những bóng khí ép chết nhau. Con ma cúc quỳ ở ngôi làng Jrai đó, cái thứ có hình dung được mô tả như một dị nhân luôn để lại một bông cúc quỳ sau khi ăn thịt động vật. Cái xác của con vật bị giết bị gặm nham nhở. Những vết cắn man rợ đẫm máu, đôi mắt bị moi ra theo những dây máu đông. Nhìn vẻ đau đớn của con vật là biết ngay nó bị giết khi đang còn cố giãy giụa. Đôi khi là chó, lợn, thậm chí gần đây còn có cả người. Nghĩ đến đây, sợ hãi dán chặt vào người tôi dính lớp nhớp. 

Tôi đi Tây Nguyên vào đầu tuần. Bầu trời Hà Nội lúc tôi ra đi ngồn ngộn mây đen. Một kiểu thời tiết ấm ức thô tục, bất lực. Đón tôi ở sân bay Pleiku là một người thanh niên mặc quân phục có điệu cười như tượng thần trong các đền đài Ăng-co-vát, môi dày, mắt hơi lồi, nước da nhám đá. Anh ta cầm tấm biển ghi tên tôi đầy đủ đến từng chức danh, đứng nhấp nhổm nơi phòng chờ. Tôi định quay bước hoặc lờ anh ta đi. Có lẽ đã có kẻ nào đấy chơi xấu tôi, gọi điện cho Người ấy, báo cho người ấy biết tôi đã vào Tây Nguyên. Tôi đến trước mặt người thanh niên, anh ta cười bẽn lẽn với tôi. Thật tức cười khi pho tượng thần phương Đông đẹp đẽ và huyền bí ấy lại đang ngại ngùng trước con bé đến từ thành phố dáng hình yếu ớt và đôi mắt lạnh lùng. Như một con rắn trắng đang quan sát con mồi, tôi cố gắng không thè lưỡi. Tình trạng kịch tính và không được lãng mạn cho lắm. Không muốn bị tưởng tượng ru ngủ, tôi nhanh chóng trèo lên chiếc xe U Oắt xanh rêu đã tróc sơn thành từng vảy sắt han gỉ da cá sấu, đất đỏ bám trên đó khô cứng, rụng tơi bời như hoa hồng quế mùa đông. Chiếc xe bon bon trên con đường trải nhựa - những đồ thị hình sin đang vẽ trên một hệ quy chiếu xanh ướt cây và đỏ rực bazan. Người thanh niên chăm chú lái xe, vận tốc có khi lên đến hơn trăm cây số một giờ. Bên ngoài, khung cảnh nhảy múa. Tôi đang đứng giữa tâm của một hình tròn để xua đi ảo giác, trước mắt chỉ còn cây, đất và những bóng hình của người đi đường vun vút ở lại sau từng khắc thời gian đổ bóng xuống suy nghĩ của tôi.

 Tôi và Tượng-Thần đều im lặng. Nóng rẫy cảm giác. Nước da rám nắng ấy cuối cùng cũng tìm được điểm tương đồng với cảm quan thẩm mỹ của tôi. Tôi bắt đầu nghĩ anh ta đẹp trai. Nơi tôi đến là một doanh trại quân đội, vài người lính trẻ măng nhìn tôi với đôi mắt ngây thơ như mắt nai rừng. Tôi cố cười thân thiện, cúi người chào hỏi. Bước vào gian phòng còn nồng mùi băng phiến, tôi nằm xuống chiếc giường phẳng phiu đến từng mm với ga giường màu trắng đục. Một người đàn ông bước vào. Quân hàm đại tá rung rinh trên cầu vai đã gần trễ xuống vì tuổi tác. Tiếng nói đơn độc như những bông hoa cúc quỳ xấu xí sau bếp của bà nội ngày xưa. Nơi đó mẹ vẫn thường đứng nhìn rồi chảy nước mắt. Mẹ chết, cây cúc quỳ cũng chết khô. 

Đói chưa? – Người đàn ông hỏi tôi.

Tôi không nói gì, trở mình quay lưng vào tường, cố nhắm mắt ngủ, cảm giác có bàn tay ai đó kéo chiếc chăn chiên đắp lên người mình.

Tỉnh dậy lúc trời đã xế chiều. Giờ tôi mới để ý thấy bầu trời ở Tây Nguyên không có mây đen. Buổi chiều muộn luôn vàng rực nắng quái hoàng hôn và trời sập tối rất nhanh. Trong chút đơn côi của trời đất có từng bóng nắng đu đưa vẫy gọi nhau, ríu rít như hồn lịch sử bí ẩn đang làm tình, thì thầm, rên rỉ, miên man, mải miết, bồi hồi...

Trong bữa cơm, mùi lá sắn trong món cá sông Sê San luộc chát sít đến tận cổ họng.

Con cần vào làng để lấy tin viết bài... – Tôi nói.

Con ăn đi, mai bố sẽ cho người lấy tin cho con.

Con muốn tự đi...

Con không được đến làng đó – Bố nói như ra lệnh.

Con là một nhà báo, con muốn tự do tác nghiệp...

Nhưng con là con gái bố, đừng có bướng... – Bố quát

Con gái bố ư? – Tôi nói với giọng hơi mỉa mai.

Khuôn mặt bố tôi méo xệch như người trúng tên. Tôi hả hê...

Hoa cúc quỳ ở Tây Nguyên hình như là loài hoa không bao giờ chết. Nếu dùng một hình ảnh nào đó để so sánh với nó thì đó chỉ có thể là hình ảnh những thiếu nữ Tây Nguyên ngực trần, mắt sáng rực như sao. Những bông hoa cúc quỳ ở bên nhau nên vàng lại càng vàng. Từng rặng, từng rặng vươn lên về phía mặt trời đôi khi thành những lũy hoa. Cánh hoa mong manh nhưng mạnh mẽ như những loài hoa dại khác. Màu vàng hòa hợp của nắng và thời gian. Loài hoa đẹp đẽ, trong nỗi lòng khép kín của tôi vẫn luôn có một chỗ đứng không thể từ bỏ được. Người mẹ hay cười, ít nói chỉ còn lờ mờ trong trí óc. Hình ảnh ấy đứng lại trong khung tranh truyền thần đặt trên bàn thờ, viền tranh trang trí hoa cúc quỳ theo ước muốn của mẹ. Người mẹ lạ lùng, luôn thích cởi trần đi lại trong gian phòng nhỏ của hai mẹ con. Bầu vú căng mọng tung tẩy theo từng nhịp đi. Mẹ hay vẽ những hình hài nhỏ bé, méo mó trên giấy, lúc thì một cánh chim, lúc lại là một bông hoa. Mẹ kể về thảo nguyên, những con đường đất đỏ vàng rực hoa cúc quỳ. Loài hoa ấy trong một ngôn ngữ khác còn có tên là Po-Nga-Phí.

Trước cửa phòng bố tại đơn vị có trồng một hàng cúc quỳ. Không phải đất hoang, những bông hoa vẫn sống, ra hoa nhưng gầy yếu, se sắt. Thỉnh thoảng có đôi mắt nâu đen lờ mờ đâu đây bẽn lẽn. Trong chớp mắt, tất cả những ưu tư, bức bối trở thành quẩn quanh đến ngượng ngập như lối mòn dẫn vào rừng. “Con muốn vào rừng”, tôi nói. Bố lờ tôi đi bằng thái độ cam chịu. Tôi đồng ý với đôi mắt đen nâu lúc này đang nhìn chăm chăm vào tôi qua cửa sổ như muốn nói, “anh sẽ dẫn em đi”. Tôi ngước mắt lên nhìn rồi chợt cảm thấy đồng tử của mình dãn ra, bối rối.

Con đường vào ngôi làng sau núi là một con đường đất đỏ gập ghềnh đáng sợ, lởm chởm đá dăm và dấu vết của những con nước xói mòn đất thành những dòng chảy cứng ngắc, ngập ngừng vươn đến những đoạn dốc có khi dựng đứng. Tượng-Thần đi trước tôi, đeo một ba lô lớn. Tượng-Thần thỉnh thoảng quay lại đưa tay kéo tôi qua nhưng chỗ khó đi. Có khi tôi ngã dúi dụi vào khuôn ngực vạm vỡ sau lớp áo xanh thì lập tức nước da rám nắng đỏ lựng như quả cà chua chín. Trong thâm tôi như dội lên những suy nghĩ mông lung khó tả về một thời điểm nào đó hơn 23 năm về trước, cũng có một người đàn ông dắt một người đàn bà đi trên con đường này. Người đàn bà Jrai da nâu, mắt sáng, đẹp đẽ như nàng Hơ Bí, Hơ Nhí trong trường ca Đăm San. Người đàn ông áo xanh, bóng dáng mạnh mẽ, với cầu vai đeo quân hàm trễ nải. Từng tấc đất reo ca, cây rừng im lìm mê đắm. Đứa con của anh bộ đội và cô gái Jrai sinh ra sau một trận mưa rừng... Một đứa con gái mắt nâu, tóc lơ thơ, nước da trắng và khóc oa oa như tiếng thác đổ lúc chiều xuống.

Vượt qua hơn 10 km đường đất như vậy, làng Po-Nga-Phí hiện ra trước mặt tôi. Giống như cái tên của nó, ngôi làng bao quanh bởi rừng hoa cúc quỳ vàng rực đã tan tác sau cơn mưa.Tất cả dường như chỉ là hoa cúc quỳ và màu vàng đến mờ nhạt, khét nắng. Cổng làng cách khu nhà ở rất xa. Đứng ở đó chỉ có thể nhìn thấy mờ mờ bóng một cây nêu cao lớn dựng đứng, kiêu hãnh đối diện cửa nhà Rông, mái như lưỡi Rìu bổ lên trời. Không một bóng người nơi ấy, cảm giác cô liêu bám vào những ảm đạm trong không khí khiến tôi thấy mình như cánh bướm đang đậu lại trên một hạt sương. Trách nào những kẻ rỗi hơi ở thành phố lại quá tò mò về nó, gọi nó là ngôi làng ma hấp dẫn nhất trong năm. Tôi là kẻ được phái đến với lý do săn tin. Liệu có phải mình là con cọp đang rình mò cái làng này không, tôi tự nhủ rồi cùng Tượng-Thần đi sâu vào làng, con đường đất đỏ lầy lội, bùn nhão dính chặt chân tôi.

Giàng ơi...

Trước mặt tôi là một bà già móm mém, nhăn nheo như một con dộc cái, mặt ngắn choằn, cái miệng há hốc rú lên kinh ngạc.

Giàng ơi, H’Pía về rồi!

Tiếp sau đó một toán người chạy ra đứng cạnh bà già nhăn nheo nọ. Tất cả họ đều nhỏ bé, da đen như đồng hun, ánh mắt hoang dại. Một lúc sau cả làng đã vây quanh chúng tôi. Trẻ con, người già, tất cả họ đều có mặt đầy đủ. Không ai tỏ ra dữ dằn, nhưng Tượng-Thần kéo tôi nép vào người mình.

H’Pía, Giàng thả mày về rồi à? – Bà già vẫn chưa hết hoảng loạn – Giàng bắt tội mày quên cả tiếng Jrai rồi!

Bà ta nói bằng tiếng Jrai, tôi không hiểu nghĩa. Tượng-Thần khẽ dịch nghĩa cho tôi. Bỗng khuôn mặt của bà già căng lên dữ tợn, nói một điều gì đó như hét. Tiếng hét hay tiếng gào thét của rừng?! Mọi người sấn tới ôm lấy bà ta rồi kéo về chiếc cột lớn trước cửa nhà Rông, trói nghiến lại.

Sau đó họ đứng quây quần lại quanh cái cột, mặt ai cũng u ám. Không ai nhìn về phía người đàn bà đang lảm nhảm nói nữa. Tượng-Thần nhìn về phía tôi trấn an rồi cùng đứng đối diện với người đàn ông già nhất, có lẽ là già làng. Ông ta bắt đầu nói chuyện với tôi bằng thứ tiếng Kinh trọ trẹ.

Từ khi Mày theo cái thằng bộ đội đó. H’Du bị con ma điên bắt. Cha mẹ mày chết hết rồi, cái nhà lạnh lẽo, bếp lửa không ai thắp, ruộng rẫy không ai làm.

Nó thành ma của người Kinh rồi – người đàn bà có hình dung con dộc lại nói xen vào – Da nó trắng như mắt con hổ, nó không còn là người Jrai mình đâu... – Nhưng không ai để ý đến bà ta.

H’Du ...– già làng ngậm ngùi.

Sau mỗi tiếng nói của ông già là một cảm giác sầu thảm ghê gớm, Tượng-Thần càng lo lắng, lúc nào cũng trong tư thế kéo tôi bỏ chạy.

Tôi không phải H’Pía... – Tôi lắp bắp.

Nó dẫn thằng bộ đội đến. Nó là ma người Kinh... – Bà H’Du vẫn gào.

Người đàn ông già nhìn thằng vào tôi, cái nhìn sắc lạnh như nước suối lúc nửa đêm. Sau đó ông thở dài:

Ừm, nếu mày là H’Pía thì cũng phải già bằng H’Du. Mày không phải H’Pía rồi.

Sau sự kết luận của ông ta, mọi người lục tục bỏ về nhà mình. Người đàn bà già vẫn bị trói ở giữa cột, mồm liên tục gào. Tượng-Thần khẽ rùng mình, nói thầm vào tai tôi:

Bà ta nói muốn giết chúng ta.

Tôi định lại gần nhưng Tượng-Thần đã kéo tôi đi nhanh về phía làng.

Làng Po-Nga-Phí có lẽ là ngôi làng của người dân tộc nguyên bản nhất mà tôi đã từng gặp. Một ngôi nhà Rông lợp lá Som đã cũ, mái chảy dài vệt của mưa nắng, dính bết lại như sơn. Một bếp lửa lập lòe trong ráng chiều bí ẩn và hoang sơ, lấp ló sau những vách gỗ nhà sàn. Bầu trời ở đây dường như đẹp hơn. Con trai đóng khố, con gái ngực trần... đâu đó lại vang lên tiếng đàn réo rắt như tiếng thì thầm:

Ta luyến ta thương

Cái đất nước ông bà

Cái nơi làm rẫy

Cái bến nước ăn

Cái làng cũ, cái nhà xưa

Nơi bãi cỏ xanh xanh

Có con trâu con bò gặm cỏ

Ta luyến ta thương

Dòng suối nước trong

Và rừng ta đi về lấy cây suốt cá

Rừng ta đẹp chim bay về làm tổ

Nước ta trong bờ suối nở hoa rừng

Trong hương thơm đất và trời, men say chết người của cảm giác khiến tôi đờ đẫn, ngây dại. Tiếng đàn T’rưng hay Klông-pút cất lên, dập dìu nấp sau kẽ lá, nhành hoa, từng hạt đất đỏ hoặc một đôi chân trần ngây thơ đang dẫm đất bước đi. Ngôi làng là một thế giới hoàn toàn khác với bên ngoài, một thế giới dường như tách biệt khỏi những vương vấn rất không thật trong đời thực. Tôi thấy hoa cúc quỳ nghiêng ngả, say sưa trong tiếng gọi của đại ngàn, gió núi và nước mắt kỉ niệm, tình yêu và đơn độc. Mẹ ơi!

Trong làng không có người trưởng thành, chỉ có người già và trẻ con. Họ không đề phòng chúng tôi những có vẻ sợ hãi. Phía sau ngôi nhà sàn có những ánh mắt trẻ con đen nhẻm, rách rưới. Thấy tôi, chúng bỏ chạy. Tôi đến ngôi nhà lớn nhất và tươm tất nhất. Đó là nhà của già làng. Trước khi vào nhà, tôi hướng dẫn cho Tượng-Thần cách bấm chiếc Canon D60 của mình sau đó lên tiếng gọi. Sau tiếng gọi của tôi, tôi thấy im lặng mải miết trườn xuống bậc thang, trùm kín lên tôi. Tôi mạnh dạn bước lên trên gõ cửa, đến lần thứ 2 mới thấy có người mở cửa. Ông già mời tôi vào nhà. Đó là một ông già rất già. Cái sự già ấy nó không chỉ in hằn trong từng nếp nhăn sâu và nhiều. Mà sự già trong đôi mắt dường như chỉ còn nhìn thấy cuộc sống bằng thói quen. Không như những cuộc phỏng vấn của tôi, ông già chặn ánh sáng từ chiếc D60 bằng một cái xua tay rồi mở lời trước. Bếp lửa cháy rực lên rồi lụi tàn trong chớp mắt. Những quầng sáng bay như linh hồn tan rã trong gió.

Ngày xưa làng này còn có H’Pía thì hoa Po-Nga-Phí nở nhiều quanh làng, bảo vệ làng. H’Pía suốt ngày chỉ thích chơi với hoa. Từ khi H’pía đi, trai gái trong làng cũng bỏ đi hết. Người già đau yếu không có ai trông nom, bọn trẻ con ngày càng nhiều, nhưng rồi chúng nó cũng bỏ làng mà đi theo bố mẹ chúng trồng cao su thôi... Mày tìm H’Pía về đây thì sẽ có nhiều hoa đẹp cho mày nhiều cái hình đẹp đấy.

Ông cười chua chát sau câu nói cuối cùng. Người ấy đã từng là hoa ở đây.Tôi bất giác mở lời:

Ông kể chuyện H’pía cho cháu nghe được không?

Khuôn mặt ông già dãn ra, dường như xa xăm, hốc hác.

H’Pía đẹp lắm. Sinh ra đã làm hoa Pơ lang phải ghen tị, dòng suối phải lặng lẽ trôi đi mỗi khi mái tóc H’Pía thả xuống gội đầu. Lớn lên, H’Pía hát hay còn hơn chim rừng. Con hươu, con nai gặm cỏ non cũng phải ngẩn ngơ. Cái nương, cái rẫy nhà H’Pía bao giờ cũng tốt nhất làng. Chàng trai nào cũng muốn được H’Pía lấy làm chồng. Rồi vào một mùa mưa, khi nương rẫy còn chưa gặt lúa, thằng bộ đội trắng trẻo ấy đến, bảo dân làng bỏ rẫy trồng cao su. Không ai nghe nhưng H’Pía nghe nó, cho nó nhiều ruộng rẫy, để nó phát hết cả hoa Po-Nga-Phí trong vườn. Cha mẹ H’Pía và chị gái H’Du vì thế mà buồn rầu. Dân làng xa lánh. H’Pía khóc ròng rã mấy tháng trời, sau đó bỏ nhà đi theo thằng bộ đội. Dân làng đuổi theo nhưng chúng nó chạy nhanh như con sóc, con thỏ. Sau đó không lâu có rất nhiều thằng bộ đội nữa về, chúng nó trồng nhiều cao su lắm. Hoa cúc quỳ ngày càng ít, chỉ còn một ít ở làng này thôi. Trước đây, hoa mọc tràn cả vào sân nhà...

Ông có gặp lại bọn họ không? H’Pía và bộ đội đó.

Có, cách ít lâu sau ta đi chợ mua cái sắt thì thấy thằng bộ đội bế một đứa trẻ con. H’Pía đi đằng sau, mặc quần áo của người Kinh. Ta sợ nó bỏ chạy nên ta đi hướng khác.

Bếp lửa lại được mấy đứa trẻ đốt lên, bập bùng cháy trong không khí lúc chiều xuống đã hơi se se lạnh. Bà nội của tôi, một người đàn bà Bắc Bộ thuần túy đã sửng sốt biết bao nhiêu khi con trai mình đem về nhà một cô gái dân tộc với một đứa con gái còn đỏ hỏn trên tay. Người con trai quân nhân về rồi lại đi. Người vợ vốn đôi chân quen leo núi, đôi tay quen trỉa bắp, trỉa lúa, dường như không thể đứng vững nơi đất bằng phẳng. Cô không thể tắm nơi sân giếng, cô không thể ăn cơm bằng đũa cũng không thể cấy cày. Như con chim bị nhốt trong lồng, hót đến rách họng để kêu gào tự do. Cô khóc, khóc đến khi chết nước mắt vẫn đọng lại nơi gò má nâu đen xinh đẹp. Đứa con gái trở thành mồ côi, mồ cút. Người chồng đau khổ vì cái chết của vợ, đã chạy trốn tội lỗi của ông ta để rúc vào xó rừng, nơi thỉnh thoảng ông ta vẫn nhìn thấy hình bóng người vợ thân yêu trong những đóa cúc quỳ. Đứa con gái lớn lên với nhiều ám ảnh vì bị bố mẹ bỏ rơi, luôn mặc định mình không gia đình.

Đứa con gái đó là tôi.

Một sự lãng quên thầm lắng, cháy đắng cay nồng... Mẹ của tôi là H’Pía. Giờ linh hồn Người phiêu du nơi chốn nào?!

Bên ngoài có tiếng la hét thất thanh. Qua kẽ những miếng ván trống hoác của căn nhà, tôi thấy lửa. Mọi người trong nhà đều chạy ra ngoài, Tượng-Thần nắm tay tôi kéo đi vội vã. Bàn tay nóng, ướt đẫm mồ hôi.

Căn nhà Rông to lớn cháy phừng phừng. Như một cây rìu lửa bổ lên trời xanh, mùi mục rỗng bị đốt nóng hăng hắc đáng sợ. H’Du đứng gần đó cười điên dại. Nhìn thấy tôi, bà ta không nói câu nào, phi lại như tên bắn, tay lăm lăm một thứ vũ khí nhìn như móng vuốt diều hâu. Đó chính là thủ phạm những vết cào của con ma cúc quỳ. Tôi run rẩy mò xuống túi đựng máy ảnh đeo bên hông, định rút máy ra chụp thì đã bị Tượng-Thần kéo đi. Tôi vẫn rút máy ảnh ra, bật nguồn chuẩn bị bấm. Tượng-Thần nhỡ đà đã chạy được một đoạn, chợt đứng khựng lại, hốt hoảng nhìn về phía tôi đang dần bị H’Du áp sát. Tôi nhắm mắt cam chịu một cái chết đến rất gần.

H’Pía, hoa của mày đây. – Người đàn bà điên trở nên dịu dàng, ánh mắt hiền từ.

Bỗng có tiếng súng nổ rất gần, H’Du ngã xuống. Một toán người chạy đến vây kín đám cháy. Bông cúc quỳ cài trên tóc rơi xuống theo dòng máu chảy ra từ ngực H’Du. Màu vàng pha đỏ trở nên lợm giọng. Tôi ngất lịm đi. Trong cơn mê man, thấy đôi mắt lo lắng của bố. Và kề bên tôi là khuôn ngực vạm vỡ của Tượng-Thần.

Anh là Tượng Thần à? – Tôi hỏi.

Không, anh là bộ đội thôi...

PHẠM PHƯƠNG

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
23 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 60018)
D ừng lại bến bờ ngăn cách Sẽ không còn bóng dáng anh Dừng lại bên này đời sống Chỉ còn lại mấy bức hình!
22 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 69814)
B ằng những dòng thật ngắn và đơn giản Du Nguyên đã tự giới thiệu về mình: Họ tên: Đậu Dung. Bút danh: Du Nguyên. SN: 1988, quê: Nghệ An. Hiện đang sống và làm việc tại Hà Nội.Tòa soạn đã nhận được chùm thơ Du Nguyên như một món quà thi ca mà tác giả muốn gởi tặng cùng sự trân quí và đồng cảm đến với bạn đọc và văn hữu của Hợp Lưu … Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu những thi phẩm của người làm thơ mang tên Du Nguyên.
21 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 64643)
A nh thích sạch sẽ trinh nguyên Anh lăn lộn cào cấu trên thân xác em Chà xác, mân mê, bú mớm từng hơi thở, vi nước bọt, tế bào em Sau cuộc hoang luân anh cố gột rửa bằng hàng trăm loại dầu gội, sữa tắm, phấn hoa…
21 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 61777)
đ êm đã sâu rồi đôi mắt chong chong cũng nhường nhau mà khép lại chỉ còn em nhặt nhạnh lại mình rất lẻ
21 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 51584)
H oàng Cung Cambodia, tôi chết lặng trước tấm bản đồ xứ Miên. Bao gồm đất nước tôi, trãi dài từ Miền Trung xuống Miền Nam ngày xưa là đất của Cham Pa và Chân Lạp. Người Việt tôi khởi đầu từ nhà Trần, nhà Nguyễn đã mở rộng bờ cõi như thế này đây…
21 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 56272)
“ B ất cứ lúc nào bất cứ ở đâu” tưởng là kể chuyện tình, nhưng không tôi nghĩ khác. Dù chúng ta không bắt gặp những hình ảnh bắn giết trên chiến trường, nhưng bàng bạc trong từng chuyện là tâm trạng chán nãn, hỗn loạn, bất cần đời, sống không biết ngày mai của một lớp thanh niên, của một Sài Gòn trong thời chiến tranh.
20 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 61934)
L ịch sử dù có được viết lại Cũng không thể chối bỏ được rằng Sự thật không phải vậy Sự thật chỉ là phương tiện phục vụ Cho một sự thật khác
20 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 50728)
J . Maulpoix. nhận xét: Thơ là thứ đối tượng của ngôn ngữ khó khăn, một sự dũng cảm, một công việc vĩ đại và biến hóa, đề xuất hay bắt buộc, là sự cô đọng tối đa của sự kiện ngôn ngữ tập trung trong một không gian thu hẹp.
20 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 66456)
T rong ký ức em, trong giấc mơ về anh và lúc giật mình về cô gái mang giày đỏ Ừ quên, chuyện tình mình chỉ có thế Thôi, em giấu bầu ngực căng tròn sau chiếc áo ngực hình cánh bướm Em giấu bí mật đôi mình trong câu chuyện với người đến sau…
19 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 58019)
C hiếc xe hơi sang trọng hẳn chở một cán bộ quan trọng nào đó về xã tham quan hoặc công tác, anh Chấn nghĩ vậy và cuống quýt bắt con trâu cố vượt qua đám sình lầy để nhường đường cho xe ô tô. Anh Chấn lo sợ, mồ hôi đổ ra ướt đầm lưng áo.
16 Tháng Tám 2025(Xem: 7523)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 14559)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 13412)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 13946)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
28 Tháng Hai 202612:40 SA(Xem: 1368)
cô ấy cao hơn tôi gần một cái đầu / nhưng điều đó / không làm tôi thấy mình nhỏ lại / khi tôi muốn hôn / tôi không cần nhón chân / cô ấy sẽ cúi xuống / rất khẽ / như một nhành cây / nghiêng vì gió
13 Tháng Hai 20262:55 CH(Xem: 1752)
Tháng Hai / ru nhẹ tình thơ / khẽ nâng vạt tóc / ngủ nhờ trên vai / Tóc thơm một đóa / trăng cài / Đêm quỳnh / thoảng mộng mơ hoài trong ta
13 Tháng Hai 20262:13 CH(Xem: 1848)
Inoue Seigetsu (1822−1887) là người có học thức cao và là chuyên gia về thư pháp. Vì vậy, ông được các nhà bảo trợ nghệ thuật giàu có chào đón và thường đến thăm các nhà thơ và học giả, dạy kèm các nhóm thơ haiku và giảng dạy Nho giáo. Seigetsu đã viết khoảng 1.700 bài thơ haiku. Ông ngưỡng mộ Basho nhưng vẫn có phong cách riêng.
13 Tháng Hai 202611:18 SA(Xem: 1866)
Tháng chạp ấm áp ngọn đèn / Cơn mưa tha hương lao xao song cửa / Như có tiếng vó ngựa hồng tan vỡ / Bóng mẹ ngồi thao thức cánh nhân duyên
(Xem: 992)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 2014)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 1409)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
(Xem: 1810)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
28 Tháng Hai 20263:48 SA(Xem: 1098)
Vợ chồng tay Lộc chuyển nhà, đi ở thuê. Dân khu phố Lợi Giang xì xào, sẵn nhà năm tầng to đẹp thế không ở, đi thuê cái phòng bằng lỗ mũi, vợ chồng con cái đút nút vào với nhau cho nó nhục ra… Nhưng Lộc không thấy nhục. Lộc vốn là công nhân lắp ráp điện tử bên khu công nghiệp gần đó. Vợ ở nhà bán hàng online, nội trợ. Hai con, một đứa lên năm một đứa lên ba đi nhà trẻ cả. Đời sống cũng ổn. Vợ chồng con cái dắt nhau đi thuê căn phòng trong dãy trọ mãi cuối khu phố Lợi Giang, cách nhà cũ độ hai cây số là chuyện cực chẳng đã. Khá xa. Khuất mắt. Chỉ có điều ngày hai buổi đi về, vẫn phải lượn qua ngõ rẽ vào nhà cũ. Hơi khó chịu. Nhưng cứ nhìn thẳng, tăng ga xe máy phóng vèo qua một cái cũng xong. Mẹ Lộc bảo: “Đi cách xa khỏi cái chỗ ma nó quen chốn ấy, cho yên ấm gia đình”. Lộc nghe lời mẹ, lấy cái sự yên ấm gia đình con cái làm trọng.
07 Tháng Hai 202610:25 CH(Xem: 1906)
Trường tiểu học Sunshine Elementary. Một buổi sáng như bao buổi sáng khác, cô giáo Lopez viết lên bảng đề luận: “Viết Về Nước Mỹ.” Lớp học lập tức xôn xao bàn tán. Có đứa quay qua hỏi bạn, có đứa chống cằm nhìn ra cửa sổ như tìm kiếm điều gì . Riêng Khang chỉ nhìn hàng chữ trắng trên nền bảng xanh . Em không hỏi, cũng không biết mình sẽ viết gì. Nhưng khoảnh khắc rất đỗi bình thường ấy lại in sâu vào trí nhớ em.
07 Tháng Hai 20269:31 CH(Xem: 2462)
Chiếc xe đò nhỏ lừ đừ chạy vào bến vắng đang thiu thiu ngủ dưới ánh nắng đã lợt màu của chiều ba mươi Tết. Đây là chuyến xe cuối cùng trong ngày, trong tháng, trong năm cũ. Bến xe vắng hoe. Giờ này còn ai ra đây làm gì nữa. Tiếng xe thắng mạnh trước khi ngừng hẳn lại khiến một vài hành khách đang ngủ vật vờ giật mình choàng tỉnh dậy. Ai nấy đều đứng cả lên, quơ tay lấy hành lý và lục tục ra khỏi xe.
26 Tháng Mười Một 202511:06 CH(Xem: 4168)
Cô bé Lò Thị Chang đã sống ở chỗ cao nhất trên mái nhà sàn của một gia đình Thái đen gồm 5 người suốt ba ngày đêm. Nước lũ ngập vào bản em từ hôm ấy đến tối nay chỉ rút được chút ít, rồi như trêu ngươi, làm lộ rõ hơn các mái nhà sàn và các ngọn cây cao đang chơi vơi tô điểm cho những xác trâu bò, gà lợn nổi lềnh phềnh - tựa cuộc “trình diễn” chưa bao giờ có của bản em giữa đất trời xám xịt…
28 Tháng Hai 2026(Xem: 958)
Trong đời sống văn chương Việt Nam hải ngoại, có những người viết để nổi danh. Có những người viết để lưu dấu một thời. Có những người viết để giữ lại một phần linh hồn dân tộc mình giữa những bể dâu của lịch sử. Nhà văn, dịch giả Từ Vũ thuộc vế thứ ba, bền bỉ gìn giữ tiếng Việt như giữ một ngọn lửa nhỏ trong gió.
10 Tháng Hai 2026(Xem: 1162)
Bài viết này đặt ra một nghịch lý của Việt Nam đương đại: khi lý tưởng cộng sản vẫn được nhắc tới như nền tảng chính danh, nhưng vai trò thực tế của nó trong đời sống xã hội đã thay đổi sâu sắc. Thay vì tranh luận đúng–sai hay kết tội, tác giả chọn cách phân tích sự dịch chuyển của lý tưởng từ mục tiêu giải phóng sang ngôn ngữ quyền lực. Cách tiếp cận này giúp nhìn lại mối quan hệ giữa ổn định, phát triển và bất bình đẳng dưới một góc nhìn tỉnh táo hơn. Tòa soạn giới thiệu bài viết như một đóng góp cho đối thoại xã hội, với tinh thần viết để hiểu và cùng suy ngẫm
07 Tháng Hai 2026(Xem: 1562)
Sắp đến Tết truyền thống, như một “tập quán” bất đắc dĩ mới, nhiều người đang lo lắng chuẩn bị đón đợi nhằm chống đỡ các chiêu trò hài nhạt chọc cười nhảm trên các phương tiện truyền thông, thì đã bị đầu độc đến nôn mửa bởi hàng loạt thứ văn hóa rác được gọi là “Thơ Văn”, mà lại là “Thơ Văn” đoạt các giải cao ngất ngưởng, được ngợi ca ngút trời theo kiểu “quá lời nguyện hết thành hoàng thổ công”…
07 Tháng Hai 2026(Xem: 2058)
Bụt trong văn hóa Việt Nam là một hiện thân vừa nhân hậu vì hay cứu khổ giúp đời mang hình ảnh đức Phật, vừa là vị thần linh có quyền phép trấn tà, trừ vọng mang hình ảnh thần thánh. Đó là biểu tượng hiền thần, hỷ thánh trong nếp sống tinh thần dân gian Việt Nam. Hễ nơi nào có đau khổ, bất công, nguy khốn là có Bụt hiện lên cứu cấp. Người Việt đi vào đời bằng Bụt, rồi đi sâu vào đạo bằng Phật.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 10088)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 26595)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 33199)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
07 Tháng Năm 2021(Xem: 33208)
...một thập kỷ gian nan của nông dân Dương Nội qua cuộc trò chuyện với anh Trịnh Bá Phương - một trong những người có mặt từ đầu - đã góp phần không nhỏ trong nỗ lực xây dựng sự đoàn kết đấu tranh dai dẳng của bà con. Mong rằng chúng ta sẽ học được nhiều điều từ họ, những người mà nhà thơ Hồng Nguyên gọi là “Áo vải chân không đi lùng giặc đánh”.
(Xem: 7752)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 10290)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 1368)
cô ấy cao hơn tôi gần một cái đầu / nhưng điều đó / không làm tôi thấy mình nhỏ lại / khi tôi muốn hôn / tôi không cần nhón chân / cô ấy sẽ cúi xuống / rất khẽ / như một nhành cây / nghiêng vì gió
(Xem: 3253)
BIỂN CÓ NHIỀU MÀU HỞ ANH – bài thơ của Đặng Hiền viết ngày 16.12.2017, hôm nay trở lại trong một hình hài mới: Blue Rock, với giọng nam trầm ấm, chậm rãi và đầy suy tư. Từ câu hỏi giản dị mà ám ảnh “Biển có nhiều màu hở anh…”, ca khúc mở ra một thế giới yêu thương rất đời: cà phê buổi sáng, âm nhạc không lời, những ước mong nhỏ bé nhưng bền bỉ. Giai điệu Blue Rock khoác lên bài thơ một lớp sóng mới – vừa hoang hoải, vừa ấm nồng – để tình yêu vang lên như biển: không chỉ một màu, mà sâu, rộng và không ngừng chuyển động.
(Xem: 3168)
ĐÔI MẮT EM là một thí nghiệm nhỏ nhưng đầy mở rộng của thời đại AI: nơi một bài thơ có thể hóa thân thành nhiều phiên bản—hay và chưa hay, đơn ca hay song ca, với giai điệu và hòa âm luôn biến chuyển, không còn bị giam trong sự lặp lại sáo mòn. Nhưng sau tất cả, điều còn lại vẫn là phần hồn: ca khúc có chạm được trái tim người nghe hay không, và giọng hát có đủ cảm để ở lại trong ký ức. Phiên bản này được gửi đi như một trải nghiệm—lắng, điện ảnh, và mong manh—để người nghe tự tìm thấy mình trong đôi mắt em. TẠP CHÍ HỢP LƯU
(Xem: 3066)
“Mỹ Hương” là một bản Jazz Ballad dịu ngọt, nơi giọng nam trầm ấm và giọng nữ mượt nhẹ hòa quyện, kể lại một buổi sớm bình yên bên cầu San Francisco. Từ những “hoa cúc trong lòng”, từ bài hát cũ của mùa thu nơi xứ Mỹ, ca khúc mở ra một không gian phủ sương, đầy gió biển, và đầy nỗi nhớ như sương. “Mỹ Hương” là một lời thì thầm Jazz Ballad từ sương thu San Francisco Thân mời quí ACE cùng nghe Ca khúc: MỸ HƯƠNG - thơ Đặng Hiền- (Phiên bản Trắng Đen- Song Ca)
(Xem: 3410)
Trong phiên bản Dream Pop này, bài thơ Mỹ Hương được khoác lên một lớp không khí mờ ảo và chậm rãi, như bước chân ai đó đi giữa màn sương lạnh của San Francisco. Giọng nam trầm thì thầm, hoà vào reverb dày và những lớp ambient pads lơ lửng, tạo cảm giác như một ký ức đang tan ra trong ánh đèn vàng trên cầu Golden Gate.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 4840)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 4415)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 5702)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.