- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Mưa về sông Châu

26 Tháng Chín 201112:00 SA(Xem: 120885)

loikinhdacu-content


Bao nhiêu năm, tôi lặng lẽ kiếm tìm một chút gì đó còn lại của nàng ngày xưa trong những cô gái đến và đi qua đời mình. Nhà trọ của tôi, ba thằng ba góc, mọi chuyện hết sức tự do và công khai. Đã có quá nhiều cuộc tình chóng vánh, nông cạn. Hạ bảo yêu tôi. Tôi hồ nghi một nửa. Hạ từng làm mẫu cho một vài thằng bạn lõi đời học cùng lớp mỹ thuật với tôi. Tất nhiên, tôi không mấy băn khoăn về chuyện đó. Điều gì xảy đến thì đã đến rồi. Tôi chỉ e ngại sự hào phóng quá mức của em trong cả lời nói, nụ hôn và hờn dỗi. Mỗi khi gần gũi Hạ, tôi có cảm giác mình vẫn chưa thực sự trưởng thành. Ở bên người tình mà tôi còn răm rắp nghe theo lời cha: Cái gì quá đều không tốt. Nhưng đôi mắt quá buồn và quá sâu của Hạ luôn khiến tôi nhớ đến nàng. Tôi luôn do dự, ngập ngừng trước một chút yêu thương ngày xưa đang hiện hữu, đang cần được che chở và níu giữ.
Thỉnh thoảng Hùng gọi tôi đến đâu đó cà phê. Ngày ấy, từ một tên cướp đường giờ hắn đã vợ con đề huề, buôn bán ra Bắc vào Nam, sang biên giới như cơm bữa. Cũng giống tôi, hắn không muốn nhắc lại chuyện ngày xưa, nhưng hễ nhìn thấy cái răng nanh của hắn, tôi lại nhớ nhớ buồn buồn. Hắn bảo khu đất hoang ở làng giờ đã trồng toàn hoa huệ trắng, khi nào rỗi nhớ đưa Hạ về chơi. Tôi vờ như không nghe thấy. Nếu đúng hắn yêu nàng thật lòng, sau đêm ấy, tôi sẽ hứa với hắn chỉ quay về làng khi hắn và nàng đã thành vợ thành chồng. Tôi cũng dự định sẽ bắt hắn phải hứa sẽ làm một điều gì đó xứng đáng với tình yêu của hắn và của tôi dành đến cho nàng. Nhưng tất cả kí ức đã mất hút dưới lòng sông Châu không một vết tích. Tôi và hắn vẫn bảo nhau hãy cứ tin là như thế.

Ở cái làng nhỏ ven dòng sông Châu, bọn trẻ trâu vẫn thường bật nắp những chiếc tiểu sành lấy ra từng khúc xương người giả làm xương trâu, xương lợn rồi mang đi đổi kẹo kéo và kem mút. Nhưng lũ trẻ cũng đủ tinh ranh để giấu nhẹm người lớn chuyện ấy và chỉ lấy xương ống, xương sườn mà bỏ lại đầu lâu và xương ngón chân ngón tay. Chẳng biết có phải bị quả báo hay không mà những đứa trẻ chăn trâu làng hắn từ bé thơ tới lúc bạc đầu bộ răng cứ y nguyên một màu vàng xỉn. Riêng hắn, còn có thêm một chiếc răng dài ra như nanh. Bọn trẻ trâu gọi hắn là Hùng “nanh”. Vốn là đứa trẻ trâu ngỗ ngược, chính hắn lôi kéo bọn trẻ vục mặt xuống bãi đất hoang ven sông moi xương người trong những chiếc tiểu sành đổi cho bà đồng nát. Và tất nhiên, nàng cũng không hề biết chuyện đó. Nàng đã từng xem hắn như một người hùng. Vùng cửa sông Châu không chút bình lặng, nàng hồn nhiên, xinh đẹp giữa những con tàu biển neo đậu, giữa nghiện ngập, mại dâm và mua bán eo sèo. Chiếc thuyền nan bé mọn của gia đình nàng bao năm tháng cứ trôi nổi vật vờ như tảng bọt rừng trên khúc sông ấy. Đó đã từng là điểm mốc để bọn trẻ trâu thách thức hắn bơi. Hắn biết, chỉ cần bơi đến chỗ con thuyền ấy thôi là bọn trẻ trong làng sẽ phục mình sát đất, sẽ tôn hắn làm đại ca. Và hắn sải tay bơi. Từng đợt sóng xô ép vào ngực hắn nghèn nghẹt, tưng tức nhưng càng bơi xa bờ, mặt sông Châu càng bình lặng. Cái bình lặng quá mức ấy khiến toàn thân hắn lạnh ngắt. Chiếc thuyền nan dập dành hiện ra ngay trước mặt hắn, bọn trẻ trâu bên kia bờ hò reo, chân hắn bỗng co quắp lại, đau điếng. Hắn bám vào chiếc thuyền nan như chỗ bấu víu cuối cùng.
Chưa bao giờ người ta gọi khu đất ấy là bãi tha ma. Bởi đó chỉ là những ngôi mộ vô chủ, không người hương khói, cũng không được đắp cao lên thành nấm mộ. Nếu có người hương khói, cầu khấn thì có lẽ bọn trẻ trâu chúng tôi đã biết sợ ít nhiều. Những chiếc tiểu sành lặn xuống mặt đất bằng phẳng nơi những cụm cỏ lầu âu bốn mùa cứ xanh ngắt, u mê. Người già trong làng bảo, nơi đó từng là nghĩa địa của những người dân chài lưới trên sông. Từ ngày xưa, khi cái làng này chưa có ai ở, dân chài lưới đã mang những xác chết cập bến trong đêm, công việc chôn cất, sau này là bốc mộ cũng làm chóng vánh trong đêm tối. Họ không dám đắp những hài cốt ấy lên thành nấm mộ. Một đồn mười, mười đồn trăm nhưng thực hư thế nào tuyệt nhiên không ai biết. Mãi rồi cũng thành quen. Khu đấy ấy trở thành nơi trẻ trâu chúng tôi nô đùa, chơi trò ú tim sau những bụi hoa mua tím ngát. Thằng Hùng “nanh” thì gọi đó là kho “lương thảo” bất tận, hắn đoán già đoán non rằng có thể đổi lấy kẹo kéo và kem mút sang cả đời con đời cháu cũng không hết. Tôi tin lời hắn. Bởi lẽ dưới lòng đất sâu kia nào ai biết có tất cả bao nhiêu bộ hài cốt đã được chôn vùi. Từ ngày thằng Hùng được phong làm đại ca, bất cứ đứa nào muốn lấy xương cũng phải có sự cho phép của hắn. Thằng Hùng thân với tôi nhất trong đám trẻ làng. Có lẽ vì nhà tôi gần sát nhà hắn và tôi lại gầy nhom, quanh năm đau ốm, chẳng mấy khi tranh giành, gây sự gì với ai. Tôi cũng chưa bao giờ dám tự tay lấy xương trong tiểu sành. Hùng “nanh” và bọn trẻ trâu thì thường xuyên làm việc đó. Tôi cứ thấy lợn cợn thế nào ấy dù vẫn ăn kẹo kéo, kem mút chúng nó đổi được. Có đôi lúc, tôi hay ngồi một mình ở khu đất ấy, ngắm những cụm cỏ lầu âu quá buồn và quá xanh ngày qua ngày đang vồn vã mọc lên bên cạnh những dấu chân tuổi nhỏ. Cha tôi vẫn bảo cái gì quá đều không tốt. Ông có ý ám chỉ mẹ tôi. Mà tôi biết, đời này, kiếp này ông cũng không bao giờ quên nổi mẹ tôi. Đôi mắt bà quá đẹp, giọng nói bà quá trong. Tôi chập chững lên ba, mẹ bỏ làng lên tỉnh.

Đêm đêm hắn chạy như băng qua bãi đất trống ra bờ sông. Chiếc thuyền nan leo lét ánh đèn dầu đậu giữa dòng sông. Tiếng chửi rủa của cha nàng theo gió đông vọng trên mặt sóng xô vào tận bờ. Cha nàng gọi cái làng nhỏ của hắn là đất cò trắng. Bạc như vôi. Mỗi con cá con tôm người dân chài lặn lội đêm hôm bắt được dưới sông đem lên đổi chẳng được bao nhiêu hạt gạo. Dự định bơi ra giữa dòng của hắn lập tức bị chặn lại. Nàng ngồi ở mui thuyền im như chiếc bóng. Chưa bao giờ hắn thấy nàng khóc. Đôi mắt nàng cứ rưng rức nước nhưng cũng chưa bao giờ trào qua mi. Hắn nhớ lần đầu tiên bám vào con thuyền ấy, hắn vô tình làm thức giấc một con bé đang ngủ say. Con bé dụi mắt, ngơ ngác nhìn hắn sũng nước ngoi lên bất ngờ như thuồng luồng dưới đáy sông sâu. Hắn đã từng nghĩ sẽ giữ mãi bí mật ấy cho riêng mình. Hắn còn mường tượng xa xôi tới cảnh anh hùng và mỹ nhân trong truyện Tàu bà hắn kể. Bọn trẻ trâu sẽ không đứa nào được phép biết rằng trên con thuyền nan chung chiêng ấy có một con bé rất xinh xắn, đáng yêu. Nó là đứa con còn sót lại của vợ chồng thuyền chài. Họ từ nơi nào đến không ai biết. Nhưng người làng vẫn truyền tai nhau câu chuyện đôi vợ chồng nghèo khó và tăm tối lần lượt bán đi những đứa con mình đổi lấy gạo và tiền sống qua ngày. Lần lượt từng đứa con ra đời, lần lượt từng đứa được chuyền qua tay người lạ. Thế mà cuộc sống đôi vợ chồng ấy cũng chẳng khấm khá lên. Bao nhiêu năm cũng chỉ chiếc thuyền nan dập dềnh sóng nước. Con bé ấy lên ba vẫn không chịu nói cười, ai hỏi gì cũng chỉ ngơ ngác ú ớ, lắc lắc cái đầu. Người ta tiếc nó trông xinh xắn, bụ bẫm nhưng chê nó bị câm bị điếc nên chẳng ai thèm mua. Lên năm tuổi nó mới cất tiếng nói, nhưng hễ có người lạ bước xuống thuyền là nó lần mò nhảy tõm xuống sông Châu. Người cha quanh năm suốt tháng rượu say coi đứa con gái ấy là cái tội cái nợ. Kiếp mình cũng là cái tội cái nợ. Người mẹ muôn đời câm lặng. Chẳng mấy khi bà nói câu gì. Bà không biết gì về cội nguồn của mình mà chỉ biết mình là cội nguồn bất hạnh của những đứa con. Trao con cho người lạ, bà thấy mình tự tước đi cái quyền làm mẹ, làm người. Chính bà không thể ngờ được, sau đứa con gái tội nợ là nàng, bà không còn sinh đẻ được nữa. Cuộc sống vốn đã eo hẹp lại càng cùng quẫn thêm. Ngày nàng còn nhỏ, mỗi lần cha uống rượu say toan đánh đập, bà lại đẩy nàng ngã xuống dòng sông xanh ngắt. Lớn lên, nàng thầm biết ơn mẹ, chính mẹ đã truyền cho nàng cái bản năng để sinh tồn trong chiếc thuyền nan mục nát theo thời gian. Nàng sải tay bơi. Bơi mãi. Sóng mặt sông ve vuốt, an ủi nỗi buồn và thân thể thiếu nữ vừa chớm dậy thì. Đôi mắt đỏ hoe, ướt đẫm dõi mãi phía trong bờ. Nơi ấy không xa xôi nhưng nhiều hứa hẹn. Sau cái ngày bọn trẻ thách thức hắn bơi, hắn đã mang cho nàng những que kẹo kéo mà chỉ ngửi mùi thôi đã thấy ngọt ngào.

Mỗi lúc nàng đăm chiêu nhìn những cụm cỏ trên bãi đất trống, tôi len lén soi vào ngực nàng. Cơ thể thiếu nữ mười lăm đang cựa quậy, ấm sực, căng đầy sau lớp áo. Hình như nàng biết tôi nhìn nhưng mặc kệ. Nàng vẫn hồn nhiên tắm táp trên bến sông này. Chỉ khác là từ khi dậy thì, nàng không tắm ban ngày nữa mà chuyển sang tắm đêm. Một vài lần thằng Hùng rủ tôi đi xem trộm nàng tắm, hắn bắt tôi thề sống thề chết sẽ không kể với bất cứ ai. Tôi không thề nhưng cũng không kể với ai thật. Mắt thằng Hùng “nanh” như hai hòn than rực lên trong đêm tối, hắn vốn lớn trước tuổi, những bắp thịt ở hai cánh tay nổi cuồn cuộn, hàm răng vàng xỉn chìa ra chiếc răng nanh và lằng nhằng nước dãi. Tôi biết, khoảnh khắc ấy lóe lên trong đầu óc hắn ý nghĩ hết sức dung tục. Sáng sớm thả trâu ngoài đồng, chính hắn bày ra trò chơi đuổi bắt giữa bọn con trai và con gái. Hắn nhằm vào con Lanh môi má ửng đỏ, thân hình phổng phao. Tóm được con Lanh rồi, hắn thô bạo thọc tay qua cạp quần khiến con kia hoảng quá kêu ré lên. Những thằng con trai khác cũng bắt chước hắn. Tôi vẫn giữ thói quen ngồi một mình. Tôi thản nhiên ngồi nhìn lũ bạn đuổi bắt nhau trong trò chơi dung tục ấy. Thằng Hùng thỉnh thoảng ngoái lại nhìn tôi có ý châm chọc và giễu cợt. Ánh mắt vừa sợ hãi, vừa thích thú, vừa hờn ghen của lũ con gái, điệu cười, cử chỉ bản năng giống đực mới ra ràng của lũ con trai khiến tôi rùng mình.
Đêm úp mặt vào vách, tôi nhớ đến người con gái trên chiếc thuyền nan. Dưới ánh trăng thân thể nàng trắng ngần như tượng sứ. Trong giấc ngủ chập chờn, đôi tay nàng vẫn đều đều khỏa nước, khỏa lấp cả sự day dứt trong tôi. Tôi thấy cả nàng và tôi đều đứng ngoài trò chơi ấy, nàng ngồi bên tôi ngắm những cụm cỏ xanh um buồn bã. Rồi đến một ngày, tôi mò ra bến sông ban đêm mà không có thằng Hùng. Gió u u vần vũ trên bãi đất trống. Cảm giác đang có rất nhiều người biết được việc làm khuất tất của tôi. Bước một bước chân lại thêm ý nghĩ có nên quay về hay không. Cha tôi bảo chuyện về mảnh đất cò trắng là có thật. Ngày xưa, làng tôi chỉ là rẻo đất ven sông quanh năm cò đậu. Nghe kể là cò về nhiều lắm, nhưng chỉ đậu vào ban đêm. Ông cụ Thi già nhất trong làng cũng chưa bao giờ được nhìn tận mắt đàn cò ấy. Nhưng cụ cứ một mực bảo đấy không phải cò đâu, mà là quạ trắng. Người làng bảo cụ già quá nên lú lẫn rồi, làm gì có quạ trắng. Cụ Thi ngước đôi mắt mờ đục ra phía sông Ngân bảo cò thì không có tiếng kêu thảm thiết, bi thương như thế.
Bờ sông vắng vẻ, chiếc thuyền nan đậu ở khá xa, nhập nhòa như vì sao những đêm trời đổi gió. Đợi mãi. Đợi mãi mà chẳng thấy nàng. Nhưng chỉ nhìn thấy cái chấm nhỏ mờ xa lan tỏa trên sông Châu theo những vòng sóng nước là tôi thấy an lòng.
 
Sẽ chẳng có chuyện gì nếu như hắn không tham lam bảo bà đồng nát sẽ đổi thật nhiều xương để lấy một chiếc vòng bạc. Hắn định sẽ tặng cái vòng ấy cho nàng. Hắn muốn biến cái vòng bạc thành chiếc khóa, ràng buộc sự vẫy vùng của mắt môi con gái. Buổi chiều hôm ấy, khi lũ trẻ trâu còn hò hét om sòm ngoài bãi đất hoang, khi con Lanh khóc rấm rứt bên bụi hoa mua vì thằng Hùng đã chộp ngay đứa con gái khác, bà đồng nát vào tận nhà hắn. Bà kinh hãi nói chuyện với bố mẹ hắn. Lúc ra về, bà ta đứng thật lâu nhìn bãi đất trống, mắt long lên như nhập đồng. Bố hắn cầm bó hương khấn vái tứ phương. Buổi chiều ấy, người trong làng nhìn thấy bà đồng nát đứng chết trân như một bộ hài cốt trong chiếc tiểu sành vừa được dựng dậy, đến đôi mắt những đứa trẻ trâu cũng long lên như nhập đồng. Khuôn mặt chúng không còn thơ ngây, bầu bĩnh mà khô quắt queo như những chiếc đầu lâu và không sao giấu nổi hàm răng vàng xỉn. Hắn bị mẹ lôi xềnh xệch về nhà. Lũ trẻ làng cũng bị cấm tiệt không được bén mảng đến chơi ở khu đất trống. Hắn hậm hực bà đồng nát tinh ranh như mụ phù thủy, số xương quá nhiều khiến bà ta sinh nghi. Dù sao hắn vẫn là thủ lĩnh. Hắn còn tinh ranh hơn vì đã lừa được bà ta, giấu được người lớn trong thời gian khá dài. Hắn sắp qua cái tuổi chăn trâu, cắt cỏ. Hắn quyết định sẽ vẫn ra bờ sông nhưng chỉ đi một mình thôi. Không có cái kho “lương thảo” kia hắn vẫn có thể mua cho nàng một chiếc vòng ràng buộc sự vẫy vùng con gái. Dạo này, thuyền lớn ngoài biển hay lui vào trú ngụ ở khúc sông, mấy thằng lái tàu cũng hay nhảy phốc sang chiếc thuyền nan nhà nàng…xin ít lửa. Hắn đứng bờ sông bên này tức lộn ruột nhưng không làm gì được. Mấy thằng lái tàu ấy trông cao to vằn vện, lại có nhiều tiền bạc, nhiều cửu vạn. Những con mắt đỏ đòng đọc nhìn như muốn lột trần từng lớp vải trên người nàng. Người cha say lướt khướt được biếu xén đồ ăn, chè thuốc đắc ý cười phe phé. Mẹ nàng vẫn câm lặng. Mấy năm tàu thuyền qua lại khúc sông này bà già xọp đi. Đôi tay gân guốc đã không còn đủ sức để đẩy đứa con gái lặn xuống dòng sông xanh ngắt như ngày nó còn nhỏ nữa.

Một bàn tay đặt nhẹ lên vai tôi. Tôi giật thót mình quay lại. Nàng đứng trước mặt tôi khi tôi chưa kịp thét lên vì sợ hãi. Hình như nàng vừa tắm xong. Tóc nàng, mắt nàng, cả môi nàng nữa đều sũng nước. Tôi hỏi nàng sao lại ở đây. Nàng bảo nàng đợi tôi. Tôi như không nghe thấy gì, tôi nghĩ nàng nhầm tôi với thằng Hùng “nanh” chăng. Nhưng nàng nhìn tôi hồi lâu và mỉm cười độ lượng. Nàng bảo nàng không nhầm. Dưới ánh trăng, tôi ngỡ ngàng vì mắt nàng sao lại quá sâu, quá buồn đến thế. Dòng nước còn có mùa cạn mùa mưa, mắt nàng như dòng sông mùa lũ cuồn cuộn biết bao oan ức, nỗi niềm. Trước đó, tôi nơm nớp sợ khi cơn mưa lũ ập về sẽ khiến lòng sông rộng hơn, sâu hơn gấp bội. Và khi ấy, nàng cũng xa tôi hơn. Mấy năm ròng chẳng có cơn mưa lũ, mà hình như tôi sắp đánh mất nàng. Những chuyến tàu có đèn pha sáng rừng rực một khúc sông Châu như lũ cướp trắng trợn và hung bạo. Mỗi ngày lại thấy chiếc thuyền nan liêu xiêu của gia đình nàng trôi gần hơn về phía biển. Những ngày tháng ấy, tôi đã chẳng làm gì. Thằng Hùng “nanh” ngổ ngáo, tai tiếng một thời cũng trở nên bất lực. Những con tàu biển lừng lững xa hoa cứ đêm đến lại kéo từng hồi còi dài buốt óc. Từ những thằng chủ tàu cho đến cửu vạn đua nhau nhảy lên bờ chích hút ma túy và tán tỉnh, ăn nằm với con gái làng. Cái làng bé nhỏ của tôi như bị nứt toác thành nhiều mảnh vụn. Mọi thứ trở nên rối rắm, hoang mang và đổ vỡ thực sự kể từ khi con Lanh chửi cha chửi mẹ rồi ôm quần áo nhảy xuống tàu. Loạn. Loạn hết cả rồi. Đêm đêm giọng cha tôi ngậm đầy nước mắt. Ông bảo: Mày lo liệu mà học hành rồi tao biên thư cho mẹ mày bảo bà ấy đưa mày lên phố. Những ngày tháng giông gió ập đến trên dòng sông Châu, tôi đã chẳng làm gì. Tâm trí tôi chỉ vướng víu mãi một câu hỏi: Tại sao tôi phải xa nàng.

Mày…khốn nạn. Hắn xô thằng bạn ngã sóng xoài trên bãi đất hoang. Hắn không ngờ thằng bạn nối khố ấy cũng lại đem lòng yêu nàng. Hắn không ngờ đã có những đổi thay không lường trước được kể từ cái lần hắn rủ thằng bạn ra bờ sông xem trộm nàng tắm đêm.
Nhưng mày…mày cũng yêu sao? Tôi mở mắt trừng trừng nhìn hắn như khép tội. Trong kí ức của tôi còn nguyên những trò chơi giữa lũ con trai và con gái, còn nguyên những giọt nước mắt mu muội của con Lanh sau cụm hoa mua, còn nguyên những cái thọc tay vào cạp quần... Tôi chưa khi nào nghĩ rằng thằng Hùng “nanh” đã yêu nàng thật lòng. Những ý nghĩ dung tục của hắn thì làm sao xứng đáng.
Cái khốn nạn của mày là ở đó, mày nghĩ chỉ cái loại được học hành như mày mới biết yêu thôi ư. Dưới ánh trăng sáng lạnh, hai bóng người đổ dài thành hai vệt đen lặng ngắt. Hắn lạnh lùng bảo: Tao mới chỉ dám đụng chạm đến nàng trong ý nghĩ. Còn mày, mày xem lại mình đi?
Cả hai chúng ta đều hèn cả. Chúng ta chỉ biết yêu mà chẳng biết phải làm gì. Khu đất hoang bốn bề xao xác gió. Dường như quanh đây đang có rất nhiều người. Có cả những tiếng rì rầm vang vọng. Những linh hồn ấy đang sống dậy, hồi sinh từ những cụm cỏ lầu âu quá buồn, quá xanh đang tan xõa xượi dưới chân như từng mảng tóc. Dường như sự quả báo đang ập lên mảnh đất bạc bẽo này. Cả làng đều nghe thấy có tiếng quạ kêu ai oán dọc sông Châu vào đêm giông gió ấy. Người ta bảo nàng bị thằng chủ tàu cưỡng bức không còn lựa chọn nào khác phải bước lên tàu theo hắn. Nhưng cũng có người bảo nàng tự nguyện đi theo, thằng chủ tàu cưu mang cả cha mẹ nàng nữa. Mờ sáng hôm sau, hai bóng người chạy ra đến bờ sông đã không thấy con thuyền nan đâu. Dòng sông Châu vẫn cuồn cuộn chảy. Từng tảng bọt rừng đục ngầu trôi từ phía thượng nguồn báo trước một mùa mưa lũ sắp về. Những ngày sau đó, tất cả tàu biển đều được lệnh phải rời khỏi khúc sông để đỗ vào cảng mới.

Mấy hôm vừa rồi thời tiết thật ẩm ương. Nắng qua cửa sổ đã nhạt dần tiếp đến là những cơn mưa phùn nhếch nhác. Tôi rời Hà Nội ngay trong đêm, vội vàng như trốn chạy. Phòng còn lại hai thằng. Hạ vẫn đến rồi đi thật vội. Ở xứ sở mù sương xa tít, tôi nhói tai vì giọng thằng bạn gắt gỏng trong điện thoại. Mày về ngay đi, Hạ của mày như con dở hơi. Nó lôi ở đâu về bao nhiêu là huệ trắng, nó còn thắp hương cho những bức tranh của mày. Thỉnh thoảng, Hạ vẫn thường gây chuyện. Nhưng câu chuyện lần này khác hẳn tính cách phóng khoáng quá mức của em và vượt quá sức tưởng tượng của tôi. Tôi bảo bọn nó tạm chuồn đi đâu đó. Mặc kệ Hạ cứ làm những gì mình thích. Mãi rồi cũng chán thôi. Nói với hai thằng kia thì mạnh mồm như vậy nhưng Hạ làm tôi sốc thật sự. Một nửa hồ nghi ấy giờ đang đứng đối diện với tôi, ngay trên tầng thượng nhà nghỉ giữa nơi heo hút này. Hạ nói như ra lệnh. Đưa em về đi. Xem nơi ấy còn lại gì mà anh nhớ. Lời nói của Hạ như gió xộc vào làm mắt mũi tôi cay xè. Bỗng dưng thấy thương thằng Hùng quá. Bao nhiêu năm, tôi ngắm nghía, mường tượng ra nàng từ những cô gái trong tranh là bấy nhiêu năm hắn lang thang kiếm tìm mà vô vọng. Hắn quyết định dừng lại những chuyến giang hồ dọc ngang sau một đêm mưa ân ái qua đường. Người đàn bà ấy hỏi hắn mãi một câu: Em ở đây sao anh cứ phải đi tìm. Hắn giật thót mình bỏ đi, nhưng rốt cục lại quay về ăn đời ở kiếp. Trong ý nghĩ của chúng tôi, chiếc thuyền nan như tảng bọt rừng liêu xiêu trôi nổi theo năm tháng trên sông Châu đã cùng nàng vĩnh viễn lặn xuống dòng sông thăm thẳm.
Lữ Thị Mai
Hà Nội VN

 





Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
27 Tháng Sáu 201312:00 SA(Xem: 75008)
T háng 3 năm 75, cái hiền hòa thơ mộng của thành phố Nha Trang đã biến mất. Đà Nẵng đã thất thủ, dân và lính từ Kontum, Pleiku đang ào ạt đổ về thành phố biển. Thành phố bụi bặm và đông nghẹt người di tản với khuôn mặt ngơ ngác lo âu, những chiếc xe M-113 phủ lá cây ngụy trang từ Tây Nguyên ầm ì chạy vào thành phố và ngồi sau những khẩu đại liên là những người lính mệt mỏi đăm chiêu.
15 Tháng Sáu 201312:00 SA(Xem: 78342)
H ọ đang chơi trò “con thỏ” trên chiếc giường rộng 4x4m khi cơn bão Magic vượt qua cửa biển tràn vào thành phố. Thực ra Marilyn không thích mấy tư thế này, nàng thích trò “cưỡi ngựa” hơn...
14 Tháng Sáu 201312:00 SA(Xem: 88028)
M i không bầy đàn, mi cũng không phe cánh hẩu Những kẻ khôn ngoan hơn mi đã chết hay gãy cánh từ lâu Những tên áp-phe, mặt rô Những tên lại cái, xăng pha nhớt... tàng ẩn điên loạn chụp giựt từng cơ hội
14 Tháng Sáu 201312:00 SA(Xem: 76653)
T ừ trước tới giờ tôi vẫn tuân thủ theo Wallace Stevens “ Người đọc thơ là người hành hương, xuất phát lên đường, giãi bày” (The reader of poetry is a kind of pelgrim setting out, setting forth). Thế nhưng đối với tập thơ “Có Thể” chỉ có 31 bài với số lượng mỏng manh 40 trang khổ 13 x 20, mà tôi phải nghiền ngẫm khá lâu khổ sở hơn cả người hành hương.
14 Tháng Sáu 201312:00 SA(Xem: 80663)
C húng ta chưa bao giờ ngừng dối lừa nhau. Nhưng sự dối lừa ấy giúp ta an phận với cuộc đời này. Nàng nói với Lam như vậy. Anh im lặng, choàng tay ôm lấy nàng. Nàng nép sâu hơn vào ngực anh, quấn siết lấy anh bằng những nụ hôn ướt át, lơi lả.
14 Tháng Sáu 201312:00 SA(Xem: 75737)
N hà văn Thế Uyên đã qua đời lúc 5 giờ 31 chiều ngày 11 tháng 6 tại tư gia ở Bothell, tiểu bang Washington sau một thời gian dài bị bệnh, thọ 78 tuổi.
10 Tháng Sáu 201312:00 SA(Xem: 75948)
C uộc tranh đấu của Phật Giáo miền Nam Việt Nam năm 1963 , trên bối cảnh liên hệ ngày một xấu đi giữa Bộ Ngoại Giao Mỹ và chính phủ Ngô Đình Diệm trong hai năm 1962-1963. Mặc dù chỉ nhấn mạnh vào cuộc tự thiêu bi tráng của Thượng tọa Thích Quảng Đức ngày 11/6/1963 [...] “Vài Ý Nghĩ Về Thượng Tọa Thích Quảng Đức” công bố lần đầu tiên một số tài liệu văn khố Phủ Thủ tướng Việt Nam Cộng Hòa và Phủ Tổng Thống Đệ Nhất Cộng Hòa, giúp vùi chôn một lần và mãi mãi loại sử văn suy tôn, nhớ ơn và đào mộ. Tạp Chí Hợp Lưu
07 Tháng Sáu 201312:00 SA(Xem: 89109)
T ôi về đây sau nhiều năm đi biệt Ngôi nhà cha tôi bị đập bao giờ Ra đứng lơ ngơ ngó cổ viện Chàm Vuốt mặt từng hồi cổ họng rát khô
30 Tháng Năm 201312:00 SA(Xem: 67607)
Nhận được tin Cụ Phao Lô LÊ ĐÌNH CÁT thân phụ của hoạ sĩ/nhà thơ Lê Thánh Thư đã được Chúa gọi về ngày 29/5/2013 hưởng thọ 85 tuổi.
13 Tháng Năm 201312:00 SA(Xem: 85745)
t hôi lỡ mất một ngày tháng Sáu đành gọi nhau bằng tiếng của mưa mưa quanh quất phía bên kia thành phố qua đêm gối chăn không ngủ
07 Tháng Tám 2026(Xem: 633)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 11075)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17721)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16771)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 426)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:05 CH(Xem: 508)
tháng giêng hoa xoan chưa nở / thì em đã vội lấy chồng / mùi hương còn đang dang dở / rụng đầy xuống cả dòng sông / *** tháng hai ánh trăng vừa cũ / chênh chao ngõ vắng im lìm / em không còn gì để nói / chỉ màu nắng nhạt qua tim /
22 Tháng Bảy 202610:23 CH(Xem: 2051)
Bão Maysak đổ bộ vào Móng Cái / các bản tin điện tử dồn lên trang nhất / suốt nhiều giờ chống bão / anh đợi bản tin em
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 2565)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
(Xem: 375)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
(Xem: 2438)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
(Xem: 2199)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
(Xem: 2791)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
30 Tháng Bảy 20261:56 CH(Xem: 1039)
XÓM BỜ MƯƠNG – Truyện thứ hai trong bộ ba "Tam Quan" của Phạm Ngọc Lương. Hôm qua, chúng tôi giới thiệu CÁT HOANG. Hôm nay là XÓM BỜ MƯƠNG – truyện ngắn thứ hai trong bộ ba Tam Quan của nhà văn trẻ Phạm Ngọc Lương, từng đăng trên Hợp Lưu số 87 (2006). Hơn hai mươi năm trước, nhà phê bình Thụy Khuê đã gọi đây là "một câu chuyện cổ tích kinh dị", nơi cái chết của một dòng sông song hành với sự mục rữa của môi trường, sự tha hóa của con người và số phận bi thảm của một đứa trẻ. Một truyện ngắn đầy chất thơ, nhưng càng đẹp càng khiến người đọc rùng mình. Hai mươi năm đã trôi qua. Dòng sông trong truyện có còn là một ẩn dụ của hôm nay? Xã hội Việt Nam đã thay đổi đến đâu trước những vấn đề mà XÓM BỜ MƯƠNG đặt ra: môi trường, bạo lực, sự vô cảm, và phẩm giá con người? Chúng tôi xin giới thiệu lại truyện ngắn này. Câu trả lời, có lẽ, xin dành cho mỗi bạn đọc.
29 Tháng Bảy 20263:34 CH(Xem: 1110)
Có những tác phẩm không thuộc về một thời điểm. Chúng lặng lẽ nằm lại trên trang giấy nhiều năm, rồi một ngày nào đó bỗng hiện lên với sức nặng như thể vừa mới được viết hôm qua. Cát Hoang là một truyện ngắn như vậy. Lần đầu xuất hiện trên Tạp chí Hợp Lưu bởi lối viết tối giản, đứt đoạn như điện ảnh, ngôn ngữ đầy ký hiệu, và một thế giới nghệ thuật khiến người đọc vừa bối rối vừa ám ảnh. Nhà phê bình Thụy Khuê từng nhận xét đây là một truyện ngắn có cấu trúc của thơ hiện đại, nơi mỗi câu chữ đều trở thành một ám hiệu, buộc người đọc phải đọc bằng trực giác nhiều hơn bằng cốt truyện. Trong thế giới ấy, có một bãi đất nổi giữa dòng sông, một cộng đồng sống như chưa từng biết đến ánh sáng của văn minh, nơi trẻ em không được học chữ, nơi người biết chữ bị gọi là "con điên", và nơi bạo lực dần trở thành trật tự bình thường. Đó là một không gian hư cấu. Nhưng điều khiến Cát Hoang sống mãi không nằm ở tính hư cấu ấy, mà ở khả năng đánh thức những câu hỏi chưa bao giờ cũ:
22 Tháng Bảy 202610:14 CH(Xem: 1651)
Đất nước ta khởi đi từ hình bóng một người mẹ thuở hồng hoang. Lịch sử chúng ta khởi đi từ lời ru và những cuộc phân ly. Giữa huyền thoại về những người anh hùng, thấp thoáng bóng dáng những người mẹ trầm mình trên sông.
14 Tháng Bảy 202612:37 SA(Xem: 2430)
Bích Lan sinh trưởng ở Đồng Nai, tính tình hiền lành và có ngoại hình dễ nhìn. Năm nay bốn mươi tuổi. Ở cái tuổi mà nhiều người phụ nữ đã có con vào đại học, cô trở về căn hộ của mình mỗi chiều với một chùm chìa khóa và sự im lặng. Từ ban công tầng mười sáu nhìn xuống, thành phố đêm nào cũng sáng rực. Xe cộ vẫn xuôi ngược, những ô cửa vẫn hắt ra ánh đèn vàng ấm áp. Chỉ có căn hộ của Lan, nhiều lúc rộng đến mức nghe rõ tiếng dép của chính mình trên nền gạch. Sự nghiệp làm ăn thì thuận tiện nhưng về đường tình duyên thì có phần lận đận.
09 Tháng Tám 2026(Xem: 254)
“Một suy ngẫm nối tiếp Từ bài viết “CUỘC TỰ VẤN LƯƠNG TÂM LỚN NHẤT VÀ RUNG CẢM NHẤT TRONG ĐIỆN ẢNH” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey của Christopher Nolan, chúng tôi thử đi thêm một bước: từ Troy của Homer nhìn về những cuộc chiến của thế giới hôm nay.” MINH HẠO -
09 Tháng Tám 2026(Xem: 238)
Hợp Lưu trân trọng giới thiệu bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey — bộ phim mới của đạo diễn Christopher Nolan. Không chỉ là một bài điểm phim, tác giả đã đọc cuộc trở về của Odysseus như một hành trình trở về với lương tri và Nhân tính; nơi chiến thắng, quyền lực và những cuộc chinh phạt cuối cùng phải đối diện với món nợ máu của những người vô tội. Từ thành Troy của Homer đến một thế giới hôm nay vẫn còn “gió tanh mưa máu”, bài viết đặt ra một câu hỏi tưởng cổ xưa mà vẫn nhức nhối: Sau mỗi cuộc chiến, ai sẽ là người trả giá cho những gì con người đã gây ra cho con người? — BAN BIÊN TẬP HỢP LƯU
22 Tháng Bảy 2026(Xem: 1727)
MẢNH ĐẤT ÍT NGƯỜI NHIỀU MA… NGƯỜI, viết hoa, theo tính chất triết học cả Đông lẫn Tây, và theo cách hiểu của tâm lý đời thường nhiều biến động này là “Tử tế”, đang ít dần đi cùng với sự teo tóp của Lương tri, sự lẩn trốn của cái Thiện, sự đánh mất Tình thương và Lòng trắc ẩn… Ma, theo nghĩa khái quát về bản chất Ma Quỷ trong con người đang trỗi dậy, không chỉ là hình tượng dọa nạt con trẻ nữa mà đang trở thành thế lực khủng khiếp đe dọa thống trị toàn bộ cơ chế hoạt động lẫn tinh thần – đạo lý xã hội…
11 Tháng Bảy 2026(Xem: 2272)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 3100)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 14424)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 30493)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 36776)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 12194)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 13535)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 3964)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 6000)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 5476)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 6042)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 6689)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 9003)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 8296)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 11235)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.