- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Journey

28 Tháng Tư 201112:00 SA(Xem: 114532)


 journey2-content

Tôi vẫn mê những cuộc hành trình. Có những hành trình thoáng qua trong tôi như cơn gió thoảng. Có những hành trình để lại trong tôi nhiều xúc động. Có những hành trình, dù xa xưa, vẫn đeo theo tôi như một bóng ma để nhiều năm sau này, bất ngờ hiển hiện khi tôi ngỡ đã quên. 

 

Chúng tôi đậu xe. Bãi mênh mông, từng vạt bụi tung mù theo bánh xe lăn. P nắm tay tôi theo dòng người tiến về phía sân khấu. Mùa thu tháng chín lơ lửng trên cao, man mát, dịu dàng như tách biệt hẳn với khung cảnh nhộn nhịp bên dưới. Người đi bộ tràn ra từ các lối đi, nhập vào con đường chính. Tiếng nhạc bập bùng vọng lại từ xa.

“Thấy dân Phi đi đông không?”

Tôi nhìn quanh, và nhận ra điều lạ lùng ấy. Từng tốp người Á đông, tóc đen, da sậm, nói cười rôm rả. Càng vào gần, không khí càng náo nhiệt. Mùi thức ăn luồn vào khứu giác. Khói bốc lên từ những bếp thịt nướng. P chen vào quầy thịt nướng. Tôi đứng chờ bên ngoài, lơ đãng nhìn dải nắng úa tàn trên ngọn cây. Mặt trời ngả xuống bên đồi. Màu nắng yếu ớt xuyên qua kẽ lá khiến tôi nhớ lại những lần đi nghe nhạc ngoài trời. Cũng màu nắng vàng hửng của mặt trời hấp hối. Cũng khung cảnh náo nhiệt. Cũng người qua kẻ lại tấp nập. Từng tốp người Phi Luật Tân đủ mọi lứa tuổi đổ về sân khấu. Tôi cũng chưa hiểu vì sao dân Phi Luật Tân lại mê ban Journey, mê loại nhạc Rock ồn ào. Journey là một ban nhạc Rock của Mỹ, thành lập vào năm 1973 ở thành phố San Francisco. Ban nhạc Journey nổi danh vào những năm đầu thập niên 80 với những bài hát trữ tình Faithfully, Send Her My Love, Wheel in the Sky, When You Love a Woman.

 

Không khí keo lại nơi cổng vào. Những đôi chân bước chậm, sát theo nhau. Trời tối dần. Tôi nhìn lên cao. Màu trời tím nhạt điểm vài vì sao nhấp nháy. Không gian đượm mùi thức ăn nồng nàn. Người đi nhộn nhịp. Chúng tôi đi theo những đốm đèn vàng dưới chân. Nhân viên soát vé chiếu đèn bấm soi đường. Chúng tôi tìm được số ghế của mình ở gần lối đi. Tôi ngồi xuống bên P, co ro vì lạnh. Nhạc thùng thùng điếc tai. Sân khấu nhóa đèn nhức mắt. Ban nhạc chính Journey chưa xuất hiện. Mọi người ồn ào ăn uống, không ai chú tâm vào đám ca sĩ phụ đang gân cổ hò hét. Ánh đèn đổ tràn lên người họ những lượn sóng màu rực rỡ. P mở túi thức ăn, đưa tôi cái hot dog cuốn trong giấy bạc. Ly beer P cầm trên tay sủi bọt trắng ngời. Tôi cầm cuốn giấy bạc còn ấm trong tay, không thấy đói. Tôi đang mải nghe những âm hưởng từ ký ức. Trừ cặp trai gái người Mỹ phía bên phải, quanh chúng tôi là những người Phi Luật Tân. Cặp trung niên bên phía trái. Đôi vợ chồng trước mặt. Đám thanh niên trai gái ngồi phía sau. Họ nói chuyện với nhau bằng thứ ngôn ngữ tôi không hiểu nhưng đã thuộc lòng trong trí nhớ.

Ang lamig naman.

Kailan siya darating?

Gutom na ako.

 

Nhưng hai mươi tám năm trước ở Freedom Plaza của trại tỵ nạn Bataan, tôi không nghe những câu nói đó. Chung quanh tôi là ngôn ngữ Việt, thứ ngôn ngữ hào hùng như những lời ca vang vang trên loa công viên. Sân khấu lộ thiên tỏa sáng. Ca sĩ Nguyệt Ánh trong chiếc áo dài vàng in ba sọc đỏ uốn lượn. Cả thân người cô nhịp nhàng theo tiếng nhạc. Tóc cô xõa dài. Ca sĩ Việt Dzũng ôm guitar đứng bên, mồ hôi lấp lánh trên vầng trán rộng. Cờ bay, cờ bay, oai hùng trên thành phố thân yêu, vừa chiếm lại đêm qua bằng máu. Cờ bay, cờ bay tung trời ta về với quê hương... Guitar dồn dập. Giọng Nguyệt Ánh cao vút. Giọng Việt Dzũng trầm hùng. Hai tiếng hát phóng vút lên cao, mất hút vào vùng núi Bataan huyền bí. Tôi như nhìn thấy mình, nhỏ bé trong khuôn viên trại, lọt thỏm giữa khu rừng nhiệt đới lạ lùng. Núi đồi Bataan ngàn đời câm lặng, đã mở ra đón những người tỵ nạn xa lạ.

Ban nhạc Journey vừa lên sân khấu. Dàn nhạc náo động. Đàn trống khua vang. Rừng người la hét, vỗ tay, huýt sáo. Giờ thì tôi biết tại sao dân Phi đến đây. Ca sĩ mới của ban nhạc Journey là người Phi Luật Tân. Màn ảnh lớn trên đầu sân khấu tập trung vào anh ca sĩ tóc dài ngang vai, quần jeans bụi, áo da đen lủng lẳng dây xích. Hello Pinoy. Arnel Pineda chào riêng khán giả Phi Luật Tân.

“Thằng này được tụi Journey tìm trên youtube.” P hét vào tai tôi.

Trên sàn diễn, kèn trống khua rộn. Cặp trung niên người Phi cũng đứng nhổm dậy. Bà vợ bụm tay lên miệng huýt sáo. Ông chồng nhìn tôi đang lúng túng ngồi trên ghế. P kéo áo tôi.

 

Tôi đứng lên. Sân khấu rộn ràng âm thanh. Ca sĩ Nguyệt Ánh vừa hát vừa khuyến khích mọi người cùng hát theo. Một cánh tay đưa lên. Hàng ngàn cánh tay đưa lên. Hàng vạn cánh tay đưa lên. Quyết đấu tranh cho một nền hòa bình công chính. Đập nát tan mưu toan. Đầu hàng cái quân xâm lăng. Hòa bình phải trong vinh quang. Đền công lao bao máu xương hùng anh... Tôi đứng bên Linh và Phúc, tim đập thình thịch bởi tiếng hát, tiếng vỗ tay, tiếng reo hò. Sau lưng tôi, Dũng và Thanh lẩm bẩm hát theo. Chúng tôi còn lạ lẫm với những lời ca dũng mãnh đang nghe. Chúng tôi vừa bỏ lại sau lưng Dáng Đứng Bến Tre, Vàm Cỏ Đông, Trị An Âm Vang Mùa Xuân.

 

 Trời đêm lấp lánh sao. Chúng tôi đi bộ từ Freedom Plaza về Vùng 8 sau buổi văn nghệ. Dũng cũng đến từ trại tỵ nạn Palawan. Dũng ở Sài gòn, vượt biên được tàu Mỹ vớt đem vào Palawan tạm trú cùng khoảng thời gian tôi ở đó. Thanh, Đạt, Phúc đến từ trại tỵ nạn Mã Lai. Linh được chuyển qua từ trại tỵ nạn Thái Lan. Chúng tôi quen nhau trong lớp học Anh văn dành cho minors. Đêm mát và trong. Chúng tôi đi bộ qua khu hành chánh của trại. Khác với Palawan chỉ toàn thuyền nhân Việt Nam. Bataan là trung tâm chuyển tiếp của người tỵ nạn Đông Nam Á. Những người ở Bataan đã được thanh lọc và chờ đi định cư ở đệ tam quốc gia. Gia đình tôi được chuyển đến đây từ đảo Palawan. Thành phố Bataan thuộc quận Morong, cách thủ đô Manila độ ba giờ xe. Chu vi trại rộng khoảng 3600 mẫu, chia làm mười vùng. Có những vùng dành riêng cho người tỵ nạn Lào và Cam Bốt. Dũng và Thanh ở Vùng 9. Gia đình tôi ở dãy nhà cuối Vùng 8, cạnh con đường ra suối và nghĩa địa của người tỵ nạn. Buổi sáng tôi vừa chứng kiến đám tang thuyền nhân chết bệnh trong trại. Một mảnh gỗ đơn sơ khắc tên người xấu số cắm ở đầu mộ. Người Việt đã để lại nhiều dấu vết trên con đường đi tìm tự do. Có những người đã chết ngay trên đất nước mình khi chưa kịp ra đi. Chết vì bị công an biên phòng bắn. Có những người chết trên biển vì bị hải tặc giết. Có những người chết trên hoang đảo vì đói. Có những người chết trong trại tỵ nạn, nơi tạm dừng chân. Có những người chết nơi xứ người, như sau này sẽ xảy ra ở Mỹ, ở Canada, ở Úc.

Thuyền nhân Việt Nam ở Bataan không còn ra biển ngóng về quê cũ mỗi chiều. Đã qua hết những ngày lênh đênh trên biển. Đã xa rồi những tên cướp biển đầu trâu mặt ngựa. Bataan là một trại tỵ nạn ai cũng muốn đến. Dân tỵ nạn ở Bataan buổi sáng đi học Anh văn, trưa lãnh thức ăn về nấu, chiều xếp hàng hứng nước tắm giặt, tối ngồi quán café nghe Phi Khanh hát Thu Vàng trong máy cassette. Buổi sáng tôi học Anh văn với đám bạn diện minor. Tôi ghi danh một lớp học đàn. Những ngón tay lần đầu lóng ngóng đặt lên phím đàn. Mỗi bấm tay là một mất mát. Mỗi nhịp điệu là tiếng thở dài. Tôi đàn Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào. Linh rơi nước mắt và giận tôi. Tôi hiểu. Lòng mẹ bao la hơn biển Thái Bình. Lòng mẹ nhân từ hơn biển Thái Bình. Biển đã cướp đi mạng sống của bao nhiêu người vượt biển. Chúng tôi phải đóng thuế cho biển để đổi lấy tự do. Bao nhiêu người phải tế biển để chúng tôi được sống. Chúng tôi nợ họ. Chúng tôi vừa vượt đại dương. Trí nhớ còn mới nguyên những kinh hãi chưa nhòa. Tôi đặt tay lên phím đàn. Năm cánh sao run rẩy. Sao biển đang thay hình đổi dạng, như mái tóc tôi cũng đã nhạt dần hơi muối. Tôi nhìn Linh, Phúc, Dũng, Thanh mắt ngấn nước. Tôi sẽ không bao giờ đàn Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào nữa. 

Chuyến xe đò đến Bataan khác hẳn chuyến xe đầu tiên đưa chúng tôi đến Manila. Mọi người nô nức, hồ hởi. Chúng tôi đang đi đến tương lai. Bataan là trạm nghỉ êm đềm. Xe đỗ bến ở đầu trại, mọi người được đưa vào khám sức khoẻ tổng quát. Nắng Bataan gay gắt như nắng Sàigòn. Đất đỏ tung mù sân trạm xá. Tôi nhớ gió biển Palawan mát rượi, nhớ bãi cát trắng mịn gót chân. Trong đầu vẫn còn rù rì tiếng sóng reo. Tôi thấy buồn cười với nỗi nhớ của mình. Palawan hay Bataan, đâu rồi cũng chỉ là những mảnh đất tạm dung trong cuộc hành trình. Trong trạm xá của trại, chúng tôi khai báo tên tuổi. Đám người tỵ nạn bị đẩy qua khu khám bệnh. Đàn ông một bên. Đàn bà một bên. Trong phòng khám che bằng vải màn, chúng tôi giật mình bối rối. Theo lệnh của nhân viên y tế người Phi, chúng tôi phải cởi hết áo quần. Từng đám đàn bà, con gái trần truồng bị lùa vào phòng khám. Tôi không hiểu họ định được bệnh gì qua mắt nhìn. Những người đàn bà Việt Nam luống cuống. Những cô thiếu nữ thanh tân đỏ mặt cúi gằm. Bầy người trần trụi diễu hành. Những đôi mắt đàn ông Phi sỗ sàng không che dấu. Tôi ngượng ngùng nhìn xuống thân thể mình khẳng khiu chờ thành thiếu nữ. Tôi nhìn các chị thịt da co rúm, tay lóng ngóng che đậy. Hai mươi lăm năm sau, khi xem cảnh chụp phụ nữ Việt Nam ở trần cho đàn ông Đại Hàn, Mã Lai, Đài Loan, Trung Cộng lựa mua, cảm giác rờn rợn pha lẫn tủi nhục của buổi chiều trạm xá lại trở về đầy ắp trong tôi. Hình ảnh bà Trưng bà Triệu cỡi voi uy nghi còn sáng ngời trong trí óc tôi. Những bài học lịch sử đất nước từ năm lớp sáu tôi vẫn còn nhớ như in. Cô Mỹ Dung dạy môn Lịch Sử có tài kể chuyện thu hút mê hồn. Bà Triệu ngang tàng chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở Biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, nhất định không khom lưng chịu làm tì thiếp người ta! Hai bà Trưng anh dũng, thu nạp binh lính, dựng cờ chống quân Hán xâm lược, hy sinh hạnh phúc riêng tư. Lịch sử đất nước tuôn ra từ đôi môi duyên dáng của cô làm chúng tôi mê mẩn.

Đất nước tôi oai hùng là thế! Anh thư nước tôi khí phách là thế!

 

Linh nắm chặt tay tôi khi đi qua trạm xá. Con cháu hai Bà vật vã đớn đau trên sàn tàu cướp biển. Hẳn Linh chưa thể nào quên những ngày dằng dặc bị giam hãm trên tàu đánh cá Thái Lan. Hẳn Linh chưa quên những tên cướp biển tìm kiếm thú vui trên thân xác Linh còi cọc.

“Kể đi, chúng làm gì Linh?”

Ngày đó chúng tôi ngây thơ hỏi về hành trình của nhau. Hành trình của những đứa trẻ mơ làm thủy thủ mà trôi dạt đói khát trên biển. Hành trình của những đứa trẻ mơ làm nàng tiên cá nhưng lọt vào tay cướp biển. Tôi nhìn vầng trán Linh lơ thơ tóc vàng cháy nắng. Nét hồn nhiên chưa trở lại trên khuôn mặt Linh. Bầu ngực con gái dậy thì luôn luôn khép chặt. Tôi như còn nghe tiếng Linh kêu to xé buốt. Bọn cướp Thái Lan giam Linh trên tàu một tháng. Cho ăn và giầy vò. Chúng quăng Linh xuống biển cùng hai can dầu để tự bơi vào bờ. Đôi mắt Linh còn in hằn nét bàng hoàng sợ hãi. Làm sao trả cho Linh nụ cười thơ trẻ. Làm sao trả cho Linh màu mắt trong chưa biết tủi nhục. Làm sao trả cho Linh thân thể con gái tinh khôi chưa vấy.

Linh bạn tôi. Năm ấy Linh mười lăm tuổi. 

 

Ban nhạc Journey vừa lên sân khấu đã thu hút hết tâm trí khán giả. Sau màn chào mở đầu, ban nhạc chơi liên tiếp không ngừng. Rừng người nhún nhảy theo tiếng nhạc. Cặp vợ chồng trung niên người Phi vỗ tay hào hứng. Bà vợ nhìn tôi nháy mắt cười. Không còn những âm thanh xa vắng vọng về từ quá khứ. Sân khấu loang loáng đèn màu. Tiếng guitar solo lúc dìu dặt tha thiết lúc gầm gào như thác đổ. Tôi nhìn lên bầu trời cao thẳm. Nền trời như vật vô tri giác, vẫn cao, vẫn lồng lộng, vẫn nhấp nháy sao. Chỉ có con người xao xuyến, chỉ có trái tim tôi rung động với ký ức. Những ngọn cây viền quanh rạp hát khẽ lay. Mắt tôi dừng lại trên những chiếc lá mang màu đêm quyến rũ. Đêm nhộn nhịp âm thanh như ngày tôi mười bốn.

 

Dũng, Thanh, Đạt, Linh cùng đứng bên tôi. Bataan. Freedom Plaza. Đêm đặc người. Đêm âm nhạc. Sân khấu ghép bằng gỗ mộc vừa đủ chỗ cho đôi song ca và anh nhạc sĩ. Đàn dạo tình tang. Đôi song ca giọng nhịp nhàng quyện quanh. Người đàn bà đứng đằng trước la lên. Trời, ca giống y chang Nhật Trường-Thanh Lan. Tôi nhìn Dũng thắc mắc. Thanh Lan, Nhật Trường là ai tôi chưa hề nghe. Tôi chỉ biết Ái Vân, Nhã Phương, Bảo Yến. Trên đường về Dũng kể tôi nghe chuyện Dũng đi bụi đời được nghe nhạc vàng Nhật Trường-Thanh Lan, Chế Linh-Thanh Tuyền. Tôi nhìn mặt Dũng nhỏ nhít. Dũng mười bảy. Dũng bụi đời mang biệt hiệu Đakao. Tôi nhìn Dũng da cháy nắng Palawan. Dũng Đakao bụi đời Mơ Thành Người Quang Trung. Dũng Palawan mơ gì?

Khi chúng tôi về âm nhạc vẫn còn rộn ràng ở Freedom Plaza. Qua khu hành chính, đến khu chợ trời Vùng 5. Qua dẫy trường học, đến con đường đưa về Vùng 8. Tôi khát khô cổ. Dũng moi tiền trong túi ra đếm. Mấy đồng pesos reo leng keng, vừa đủ mua một chai Mellow-Yellow ướp lạnh. Dũng rót một nửa cho tôi. Dòng nước óng chảy tựa mảnh lụa cong vòng. Bàn tay tôi bất chợt run rẩy. Rõ ràng là dòng nước chanh ngọt lịm tôi ao ước khi nằm trong lòng ghe, thân thể khô, cổ cháy khát. Đêm vụt trôi lơ lửng. Khoảng trời đen sao đêm nhấp nháy như những chuyến hành trình xa xưa của tôi và đám bạn minor mãi còn ẩn hiện.

 

Trên sân khấu, giọng Arnel Pineda vươn cao, ngân dài. Chuỗi âm thanh lồng lộng vút vào vùng đêm bình lặng. Ban nhạc dạo bản cuối cùng. Hành trình ban Journey kết thúc. Tôi nhìn bầu trời đêm, bắt đầu đếm những cuộc hành trình của dân tộc mình.

 

 

Nguyễn Xuân Tường Vy

San Jose

28 tháng tư, 2011 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
27 Tháng Tám 201212:00 SA(Xem: 128198)
Người Việt chúng ta thì ai cũng biết hột vịt lộn là gì, nhưng đối với giới trẻ và người Tây Phương, thì theo như ông Miguel Trinidad, trưởng tay đầu bếp và là một trong những người chủ tại Maharlika, một nhà hàng Phi Luật Tân ở thành phố New York, mô tả đây là trứng vịt có từ 11 đến 14 ngày từ khi được ấp trứng và là một món đặc sản tại Phi Luật Tân.
22 Tháng Bảy 201212:00 SA(Xem: 133232)
L ịch sử Việt Nam có không ít những nhân vật lớn với tầm vóc tạo dựng thời đại mà cuộc đời của họ tự nó đã là những pho tiểu thuyết. Song rất tiếc, cho đến nay tiểu thuyết lịch sử Việt Nam mới chỉ dừng lại ở sự khai thác có tính chất minh hoạ lịch sử về một vài giai đoạn và một số khía cạnh của những nhân cách văn hoá lớn này...
22 Tháng Bảy 201212:00 SA(Xem: 132282)
K hi tôi viết những dòng chữ này, thì ở Nam California gia đình và thân hữu của nhà văn Nguyễn Mộng Giác đang tiến hành những nghi thức cuối, tiễn anh về nơi an nghỉ cuối cùng. Trước đây gần hai năm cũng tại địa điểm này, cũng những thân hữu này, đã tiễn đưa nhà văn Cao Xuân Huy trong chuyến đi chót cùng của đời anh. Nguyễn Mộng Giác là Chủ nhiệm kiêm Chủ bút đầu tiên và Cao Xuân Huy là chủ nhiệm kiêm chủ bút cuối cùng của tạp chí  Văn Học ...
20 Tháng Bảy 201212:00 SA(Xem: 134095)
N guyễn Mộng Giác sinh năm 1940 tại Bình Định, trong một gia đình gồm 7 anh chị em. Ông là người con thứ hai. Cha ông, một nhà giáo trong thời Pháp thuộc, thưở nhỏ ông cắp sách theo cha đi nhiều nơi vì thời gian đó nhà giáo luôn được thuyên chuyển công tác liên tục. Ông thừa hưởng nếp sống mô phạm từ cha mình.
20 Tháng Bảy 201212:00 SA(Xem: 124119)
Về Mùa biển động... V ới đôi mắt tinh tường, cái nhìn thàng hậu (nhân bản) Nguyễn Mộng Giác đã xây dựng lại cuộc đời của nhiều gia đình, nhiều nhân vật trong thế hệ những người đã sống hoặc lớn lên ở trong Nam, thời kỳ chia đôi đất nước... Là nhân chứng có con mắt bao quát và sâu xa, ông nhìn và viết lại xã hội miền Nam trước 1975, thuật lại biến cố Phật Giáo những năm 60, biến cố Mậu Thân thập niên 70, biến cố 30 tháng tư 1975, thuật lại cuộc di tản, thuật lại cuộc đời tha hương trên đất Mỹ.. .
20 Tháng Bảy 201212:00 SA(Xem: 122890)
Hồn tôi ngây ngây như người nhọc nhằn leo núi, lúc lên tới đỉnh chỉ thấy những khối đá tảng xù xì rêu phong, và nhìn trở xuống là một vực thẳm đầy mây". ( Tha hương , Văn Nghệ xuất bản 1989, trang 1849). Đó là hình ảnh nhà văn Nguyễn Mộng Giác với Mùa biển động.
20 Tháng Bảy 201212:00 SA(Xem: 97413)
M ùa biển động tập 5, Tha hương là tập cuối, dày nhất, hơn 600 trang, quan trọng nhất và được độc giả mong đợi, để biết số phận nhân vật sẽ ra sao, qua cuộc «đổi đời» tháng 4-1975.
18 Tháng Bảy 201212:00 SA(Xem: 111003)
H ồi xưa, mẹ tôi thường theo mùa mà gọi những người đàn bà bán hàng rong vào nhà để mua hàng của họ. Mùa sen, mẹ tôi mua sen để lấy nhụy ướp trà, mùa cà cuống, mùa cốm, mùa sắn dây…
18 Tháng Bảy 201212:00 SA(Xem: 121185)
T ôi có thể kể một câu chuyện giống như diễn tiến tự nhiên của cuộc sống. Tất nhiên điều đó không có hại gì cho sự nghiệp văn chương của tôi. Trừ phi tôi muốn dây dưa bằng những thứ ì xèo người ta gọi là vạ miệng. Con chữ giết người. Sự sứt mẻ tinh thần đem đến những mớ bòng bòng rắc rối. Và họa vô đơn chí sẽ có một vài kẻ bắt vạ không lương thiện. Họ làm tổn thương tâm hồn nhà văn của tôi.
18 Tháng Bảy 201212:00 SA(Xem: 114642)
T ôi thật sự muốn viết đôi dòng tưởng nhớ anh Nguyễn Mộng Giác nhưng ngày qua bốn ngày, vẫn không viết được gì. Nhớ rất nhiều chuyện. Nghĩ rất nhiều chuyện. Âm ỉ âm u.
07 Tháng Tám 2026(Xem: 338)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 11000)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17641)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16704)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 165)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:05 CH(Xem: 164)
tháng giêng hoa xoan chưa nở / thì em đã vội lấy chồng / mùi hương còn đang dang dở / rụng đầy xuống cả dòng sông / *** tháng hai ánh trăng vừa cũ / chênh chao ngõ vắng im lìm / em không còn gì để nói / chỉ màu nắng nhạt qua tim /
22 Tháng Bảy 202610:23 CH(Xem: 1874)
Bão Maysak đổ bộ vào Móng Cái / các bản tin điện tử dồn lên trang nhất / suốt nhiều giờ chống bão / anh đợi bản tin em
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 2464)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
(Xem: 129)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
(Xem: 2351)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
(Xem: 2107)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
(Xem: 2735)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
30 Tháng Bảy 20261:56 CH(Xem: 928)
XÓM BỜ MƯƠNG – Truyện thứ hai trong bộ ba "Tam Quan" của Phạm Ngọc Lương. Hôm qua, chúng tôi giới thiệu CÁT HOANG. Hôm nay là XÓM BỜ MƯƠNG – truyện ngắn thứ hai trong bộ ba Tam Quan của nhà văn trẻ Phạm Ngọc Lương, từng đăng trên Hợp Lưu số 87 (2006). Hơn hai mươi năm trước, nhà phê bình Thụy Khuê đã gọi đây là "một câu chuyện cổ tích kinh dị", nơi cái chết của một dòng sông song hành với sự mục rữa của môi trường, sự tha hóa của con người và số phận bi thảm của một đứa trẻ. Một truyện ngắn đầy chất thơ, nhưng càng đẹp càng khiến người đọc rùng mình. Hai mươi năm đã trôi qua. Dòng sông trong truyện có còn là một ẩn dụ của hôm nay? Xã hội Việt Nam đã thay đổi đến đâu trước những vấn đề mà XÓM BỜ MƯƠNG đặt ra: môi trường, bạo lực, sự vô cảm, và phẩm giá con người? Chúng tôi xin giới thiệu lại truyện ngắn này. Câu trả lời, có lẽ, xin dành cho mỗi bạn đọc.
29 Tháng Bảy 20263:34 CH(Xem: 992)
Có những tác phẩm không thuộc về một thời điểm. Chúng lặng lẽ nằm lại trên trang giấy nhiều năm, rồi một ngày nào đó bỗng hiện lên với sức nặng như thể vừa mới được viết hôm qua. Cát Hoang là một truyện ngắn như vậy. Lần đầu xuất hiện trên Tạp chí Hợp Lưu bởi lối viết tối giản, đứt đoạn như điện ảnh, ngôn ngữ đầy ký hiệu, và một thế giới nghệ thuật khiến người đọc vừa bối rối vừa ám ảnh. Nhà phê bình Thụy Khuê từng nhận xét đây là một truyện ngắn có cấu trúc của thơ hiện đại, nơi mỗi câu chữ đều trở thành một ám hiệu, buộc người đọc phải đọc bằng trực giác nhiều hơn bằng cốt truyện. Trong thế giới ấy, có một bãi đất nổi giữa dòng sông, một cộng đồng sống như chưa từng biết đến ánh sáng của văn minh, nơi trẻ em không được học chữ, nơi người biết chữ bị gọi là "con điên", và nơi bạo lực dần trở thành trật tự bình thường. Đó là một không gian hư cấu. Nhưng điều khiến Cát Hoang sống mãi không nằm ở tính hư cấu ấy, mà ở khả năng đánh thức những câu hỏi chưa bao giờ cũ:
22 Tháng Bảy 202610:14 CH(Xem: 1552)
Đất nước ta khởi đi từ hình bóng một người mẹ thuở hồng hoang. Lịch sử chúng ta khởi đi từ lời ru và những cuộc phân ly. Giữa huyền thoại về những người anh hùng, thấp thoáng bóng dáng những người mẹ trầm mình trên sông.
14 Tháng Bảy 202612:37 SA(Xem: 2323)
Bích Lan sinh trưởng ở Đồng Nai, tính tình hiền lành và có ngoại hình dễ nhìn. Năm nay bốn mươi tuổi. Ở cái tuổi mà nhiều người phụ nữ đã có con vào đại học, cô trở về căn hộ của mình mỗi chiều với một chùm chìa khóa và sự im lặng. Từ ban công tầng mười sáu nhìn xuống, thành phố đêm nào cũng sáng rực. Xe cộ vẫn xuôi ngược, những ô cửa vẫn hắt ra ánh đèn vàng ấm áp. Chỉ có căn hộ của Lan, nhiều lúc rộng đến mức nghe rõ tiếng dép của chính mình trên nền gạch. Sự nghiệp làm ăn thì thuận tiện nhưng về đường tình duyên thì có phần lận đận.
09 Tháng Tám 2026(Xem: 111)
“Một suy ngẫm nối tiếp Từ bài viết “CUỘC TỰ VẤN LƯƠNG TÂM LỚN NHẤT VÀ RUNG CẢM NHẤT TRONG ĐIỆN ẢNH” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey của Christopher Nolan, chúng tôi thử đi thêm một bước: từ Troy của Homer nhìn về những cuộc chiến của thế giới hôm nay.” MINH HẠO -
09 Tháng Tám 2026(Xem: 80)
Hợp Lưu trân trọng giới thiệu bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey — bộ phim mới của đạo diễn Christopher Nolan. Không chỉ là một bài điểm phim, tác giả đã đọc cuộc trở về của Odysseus như một hành trình trở về với lương tri và Nhân tính; nơi chiến thắng, quyền lực và những cuộc chinh phạt cuối cùng phải đối diện với món nợ máu của những người vô tội. Từ thành Troy của Homer đến một thế giới hôm nay vẫn còn “gió tanh mưa máu”, bài viết đặt ra một câu hỏi tưởng cổ xưa mà vẫn nhức nhối: Sau mỗi cuộc chiến, ai sẽ là người trả giá cho những gì con người đã gây ra cho con người? — BAN BIÊN TẬP HỢP LƯU
22 Tháng Bảy 2026(Xem: 1602)
MẢNH ĐẤT ÍT NGƯỜI NHIỀU MA… NGƯỜI, viết hoa, theo tính chất triết học cả Đông lẫn Tây, và theo cách hiểu của tâm lý đời thường nhiều biến động này là “Tử tế”, đang ít dần đi cùng với sự teo tóp của Lương tri, sự lẩn trốn của cái Thiện, sự đánh mất Tình thương và Lòng trắc ẩn… Ma, theo nghĩa khái quát về bản chất Ma Quỷ trong con người đang trỗi dậy, không chỉ là hình tượng dọa nạt con trẻ nữa mà đang trở thành thế lực khủng khiếp đe dọa thống trị toàn bộ cơ chế hoạt động lẫn tinh thần – đạo lý xã hội…
11 Tháng Bảy 2026(Xem: 2157)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 3052)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 14376)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 30444)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 36699)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 12145)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 13486)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 3733)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 5642)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 5399)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 5943)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 6572)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 8939)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 8247)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 11195)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.