- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,578,853

Catherine Cusset Robbe-Grillet hay sự khủng bố văn chương

19 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 71287)
cathe_tranvu
Catherine Cusset
Robbe-Grillet hay sự khủng bố văn chương
Trần Vũ chuyển ngữ

Catherine Cusset, tác giả của tiểu thuyết Tương Lai Sáng Lạn thanh toán giáo hoàng của Tân Tiểu Thuyết mà bút pháp ru ngủ chỉ nhằm ca ngợi chính giáo hoàng. [Tuần san Marianne]

Khi tòa báo đề nghị tôi tham gia viết về các nhà văn mà giá trị được cường điệu cao hơn giá trị thật của chính họ, tôi đã nghĩ sẽ từ chối. Tại sao phải tự mình tạo thêm kẻ thù một cách miễn phí? Rồi Robbe-Grillet xuất hiện trong đầu. Trước tiên, ông đã chết, như thế tôi không thể gây tổn thương cho ông. Sau nữa, tôi cần thanh toán mối hận với ông từ thuở học dự bị Văn khoa. Tôi đã đọc tất cả những tác phẩm của Robbe-Grillet. Tôi từng viết một truyện ngắn lấy cảm hứng từ lối viết của ông và đã đưa truyện này cho một người bạn đọc. Kết quả chẩn đoán của cô bạn: chán bắt chết. Tôi đã cảm thấy thật sự bị xúc phạm. Thật may mắn, sự kiêu hãnh đang học lớp Văn chương Cao cấp, cho phép tôi kết luận là cô ta không hiểu gì hết.
Và rồi tôi đang viết về Alain Robbe-Grillet.
Tôi đã đi nghe nhà văn thuyết trình về Roland Barthes cách đây vài năm, dịp hội thảo tại đại học New York về Barthes. Trước một hội trường đầy người, nhà văn bắt đầu: “Lần cuối cùng tôi gặp Barthes, hắn đã nói thế này về tiểu thuyết của tôi…” tiếp theo là hai mươi phút cống hiến đặc biệt cho việc phân tích kỹ thuật viết văn của Alain mà không hề nhắc lại tên Barthes một lần nào nữa.
Tại sao phải ra sức kịch chiến với một nhà văn mà ngày nay gần như không còn ai đọc nữa? Vì ông ta là giáo hoàng vĩnh cửu của thể Tân Tiểu Thuyết. Ở con người Robbe-Grillet, sự thực hành văn chương luôn đi kèm với một lý thuyết, ngay cả khi Robbe-Grillet hạ bút viết vào dòng đầu tiên của tiểu luận Vì một nền Tân Tiểu Thuyết: “Tôi không phải là một lý thuyết gia về tiểu thuyết”. Robbe-Grillet là một gương mặt rất Tây. Trên xứ Pháp, người ta vẫn không ngừng tự hỏi tiểu thuyết đang ở đâu, phải làm gì giúp tiểu thuyết tồn tại, quan tâm về tiểu thuyết nhiều hơn so với ở Hoa Kỳ, nơi mà tính thực dụng lấn át sự trừu tượng và là nơi mà bút pháp được dạy trong chương trình Cao học Nghệ thuật như công việc của một thợ thủ công. Tiểu thuyết gia Hoa Kỳ không tìm tòi để đổi mới thể loại mà chỉ thêu dệt tác phẩm của mình một cách đơn giản bằng từng sợi chỉ, với tất cả khiêm nhường của một thợ khéo tay.
Tôi đọc lại một số tiểu thuyết của Robbe-Grillet. Tôi chấp thuận cách lập câu hoàn chỉnh, phẳng, chính xác: “Hiện giờ bóng của chiếc cột ― cây cột đang nâng đỡ góc tây-nam của mái ― chia vùng góc đối diện với hiên nhà thành hai phần bằng nhau.” Tiểu thuyết Ghen đã nhập đề như vậy. Thật lý thú khi nhận ra bút pháp. Nhưng bút pháp ở đây có cái gì đó chán ngắt. Tôi không thể tự ngăn mình đặt câu hỏi: tại sao những tác phẩm của Alain Robbe-Grillet lại có thể chán đến như thế? Và: sự tẻ nhạt có thủ tiêu việc bán tác phẩm văn chương? Đôi khi phải băng qua không biết bao nhiêu trang nhạt nhẽo trước khi được đưa đến một nơi khác. Ai không tự cảm thấy nhàm chán khi đọc Balzac mô tả lê thê kỹ thuật sản xuất giấy, và ai ngán trường thiên Ảo Vọng Đánh Mất? Nhưng người đọc nghĩ gì khi đọc hết nguyên một quyển tiểu thuyết mà hoàn toàn vô cảm? Không có tình cảm nào cháy bỏng và dễ dàng truyền đạt bằng sự ghen tuông. Trong tiểu thuyết Ghen: chủ đề vắng mặt, giọng văn đông cứng. Làm như Robbe-Grillet tìm cách tránh né những chiếc bẫy nhân sinh thay vì biểu cảm tình cảm của nhân vật kể chuyện. Tương tự trong tiểu thuyết Thần Linh, câu văn êm, đầm, không gồ ghề. Người kể chuyện tự xưng tôi và diễn đạt ước muốn của mình. Nhưng ước muốn đó không ai cảm nhận được. Tiểu thuyết gia của Người Phi Lý, Robbe-Grillet tự xem kế thừa Kafka. Nhưng, khác với Kafka, ông không truyền tải được cho chúng ta nỗi lo sợ trước sự phi lý. Ông không bước vào mà đứng bên ngoài, đùa vui nhẹ nhàng. Chúng ta muốn đúc kết: nhà văn không tin điều này, nếu không lập tức trông thấy ở khóe môi của nhà văn thông minh một nụ cười khẽ cho thứ từ vựng xưa đầy siêu hình mà ông đã vượt qua.
Lý thuyết về Tân Tiểu Thuyết giống như câu chuyện về những bộ y trang của nhà vua. Tương tự những thợ dệt bán cho đức vua bộ y phục lộng lẫy, nhà văn kiêm lý thuyết gia tuyên ngôn: “Những ai không nhìn thấy sự mới mẻ căn bản và cần thiết trong bút pháp của trường phái Tân Tiểu Thuyết là những kẻ thật sự ngu xuẩn.” Không ai còn dám thú nhận mình không thấu hiểu vì không muốn bị xem là những kẻ đần. Cuối câu chuyện, kẻ sắm vai trẻ con kêu lên: “Nhà vua hoàn toàn trần truồng!”, kẻ đó chính là công chúng, không dễ bị lừa vì biết đi tìm sự cảm thú khi đọc tiểu thuyết.
Đọc lại những trang phê bình của Nathalie Sarraute và Alain Robbe-Grillet công bố vào những năm từ 1950 đến 1961, tôi rất kinh ngạc bởi tính hiện đại trong các bài viết của họ, giống như câu hỏi đặt ra đối với tiểu thuyết không hề thay đổi trong vòng 50 năm qua. Họ tấn công vào những khái niệm về nhân vật, về tính chất, về cốt truyện, về tình tiết, và họ bảo vệ sự tiến triển cần thiết của thể loại tiểu thuyết. Bản ghi nhận của Robbe-Grillet năm 1957, mà tất cả các nhà văn hôm nay đều muốn nhận là của mình: “Thay vì mang bản chất chính trị, cách dấn thân, đối với một nhà văn, là ý thức trọn vẹn về những vấn đề của hiện tại qua ngôn ngữ của hắn, cùng niềm tin vào sự cực kỳ quan trọng này với ý chí giải quyết những vấn đề từ bên trong.”
Nhưng với tôi, dường như từ những câu hỏi giống nhau, các nhà văn của trường phái Tân Tiểu Thuyết đã trả lời hoàn toàn khác nhau. Sarraute viết trong Thời Hoài Nghi: “Cuộc đời mà bên trên xây cất nghệ thuật, sau cùng rồi, cũng chính cuộc đời đào thải những hình thái đầy hứa hẹn trước đây, để chuyển dịch đi nơi khác.” Bút pháp tiểu thuyết, trước tiên là công cuộc tìm kiếm sự thật phải giành được bằng thao tác khổ nhọc, một sự thật tìm thấy trong đời sống của con người, từ “những trạng thái tâm lý mới”, “phức tạp và tinh tế”, “tế nhị và bé nhỏ”, mà tiểu thuyết gia như một nhà khảo cổ đào bới tâm hồn, tìm cách khám phá.
Robbe-Grillet, phần ông, phán đoán bổn phận của tiểu thuyết gia là phải loại bỏ vũ trụ của những truyền đạt đã kế thừa (tâm lý, xã hội, chức năng) để thay thế bằng sự thật tinh ròng, vật chất, thế giới hữu hình và khách quan mà đến hôm nay chưa có ai thật sự nhìn thấy: “Chung quanh chúng ta, thách thức bầy tĩnh từ tâm linh hay vật chất, toàn cảnh là như vậy. Bề mặt của chúng rõ ràng và trơn tuột, nguyên vẹn […]. Toàn bộ văn chương của chúng ta chưa tiêu hao được một góc nhỏ nhất, để làm mềm đi bất kỳ đường cong nào.” Cách diễn tả quý báu của Robbe-Grillet giúp ông kháng cự lại cảm xúc: “Tĩnh từ khách quan, tả chân, là thứ tĩnh từ tự thu vào việc đo lường, định vị, giới hạn, định nghĩa, để cho thấy một cách khái quát con đường khó khăn của thể loại Tân Nghệ thuật Tiểu thuyết”.
Tư thế tiểu thuyết này với cách thức không muốn vận dụng xúc cảm, chống lại việc đào sâu bằng cách tôn trọng tính bề mặt của thế giới, không đứng vững. Robbe-Grillet, tự bản thân, vào năm 1961, trong một bài viết lấy tựa “Tân Tiểu thuyết, Tân Nhân sinh”, đã mâu thuẫn với các diễn văn trước đây. Ông viết: “Chủ thể trong trong tiểu thuyết của tôi không thể hiện diện bên ngoài những nhận thức của con người, thật sự hay tưởng tượng. […] Tùy theo tên gọi mà chúng ta đặt cho sự vật, chúng luôn hiện diện trong tác phẩm. Hãy nghĩ đến Balzac”. Balzac, mà Robbe-Grillet từng khước từ cách viết tiểu thuyết vì xem đã lỗi thời, mà bây giờ ông dùng như một tấm khiên. “Tân Tiểu Thuyết đến với những ai vững lòng tin”, Robbe-Grillet xác định, tìm cách thuyết phục độc giả đây là loại tiểu thuyết dễ đọc, chỉ có phê bình ác cảm đã lừa dối độc giả là khó khăn. Chúng ta thấy lập lại hội chứng y phục của hoàng đế. Tất cả những ai dám nói tiểu thuyết của Robbe-Grillet là chán chường, sẽ đơn giản bị quy kết là thiếu đức tin.
Tôi không tìm cách tấn công lý thuyết Tân Tiểu Thuyết đã trưng bày các giới hạn. Tôi không tin vào các lý thuyết mà tin vào những sáng tạo cá nhân. Nếu tôi tố cáo để chấm dứt một sự bịp bợm, chính vì sự bịp bợm của các diễn văn tập thể về văn chương, thuộc bất kỳ phe phái nào, đã đề ra các luật lệ, một chân lý hay những giáo điều nhằm khủng bố văn chương.

Catherine Cusset
Trần Vũ chuyển ngữ.

Nguồn: trang văn học của tuần san Marianne số 639 ra ngày 18 tháng 7, 2009
(*) Catherine Cusset sinh năm 1963, giảng dạy văn chương trong mười năm tại đại học Yale và là tác giả tiểu thuyết Tương Lai Sáng Lạn (Un brillant avenir).

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 1072)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1150)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 1838)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 5869)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 5839)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13183)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 30068)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81210)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20237)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
18 Tháng Chín 20215:41 CH(Xem: 381)
hai người trò chuyện / hơi ấm mặt trời mơn trớn / cửa bên trong người đàn bà hé mở / miền đất từ lâu không dung nạp sự sống / dòng nước chảy ngang nảy hạt / cong về ánh sáng quên lòng đất tối