- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,578,848

Mô Phật

19 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 89392)
ntlam_hodinhnghiem-content

1. Lên năm thứ hai, lớp tôi có được một người mẫu mới. Một người con gái. Áng chừng hai mươi bốn hai mươi lăm, và như thế chị ấy lớn tuổi hơn bọn tôi. Chị còn trẻ, rất trẻ, nhưng nhìn chị, không là thầy bói, tôi vẫn biết người ấy có một cuộc sống chẳng mấy vui. Điều gì đó hiển hiện quanh người chị, bao phủ lên, tác động rõ trên gương mặt làm kẻ ngắm nhìn phải bật ra một nhận xét ban đầu: Buồn.
Tôi chưa là họa sĩ, tôi còn là sinh viên trường Mỹ thuật. Phải thêm ba năm nữa mới thi tốt nghiệp. Và từ giã ngôi trường cổ kính ấy, không chắc tất cả học viên đều trở thành họa sĩ. Khi ngó sâu vào đôi mắt chị, ngắm trọn vẹn khuôn mặt có hơi gầy kia, tôi biết sẽ khó mà lột tả, vẽ lên mặt giấy cái hư hao phiền muộn luôn ám trên dung nhan kia. Nhưng giờ hình họa của bọn tôi chỉ đặt nặng ở phần tổng thể. Chị sẽ ngồi trên bục, giữa căn phòng luôn đóng kín cửa. Tùy góc cạnh khi dựng giá vẽ, bạn sẽ tóm gọn cái nhân dáng kia, cân đối, hoàn chỉnh, đặt giữa khung giấy hình chữ nhật. Khi đo đạc, bạn sẽ dùng cái đầu người mẫu làm đơn vị chuẩn. Chị ấy không cao, khoảng một thước sáu hai, từ đỉnh đầu tới gót chân sẽ cho ra một kết quả: dài 6 đầu rưỡi nếu đứng thẳng.
Giống như một lề luật chẳng cần soạn thảo, người mẫu mới sẽ không khỏa thân toàn phần thời gian đầu. Chị ấy tần ngần cởi áo, rụt rè cởi quần, ái ngại ngồi xuống chiếc ghế đã được định vị đánh dấu bằng phấn trắng. Đồ lót chị dùng có vẻ như hàng nội địa, thô, dày, rẻ tiền; nói chung là xấu. Tựa như ta dùng kéo để cắt cụt cái quần đùi, xẻo bớt cái áo thun. Mặc nó chắc không có cảm giác thoải mái dễ chịu. Nhưng cởi nó ra, trước mười lăm cặp mắt luôn nheo luôn ngó luôn tọc mạch luôn muốn lột truồng sự vật, e sẽ mang cái cảm tưởng mình đang bị tra tấn. Yêu cầu đặt ra: Ngồi yên càng lâu càng tốt, tối thiểu thì mười lăm phút. Ngạc nhiên thay, chị ngồi không cục cựa gần cả nửa giờ. Ngồi chẳng vọng động, hơn cả thiền giả. Bởi vì ngồi im re và phơi bày ở dáng vẻ một sự cam chịu, nhẫn nại trong câm lặng.
Mùa đông ở Huế, không nói bạn cũng mường tượng ra được cái tái tê kì lạ của nó. Không gian luôn ẩm thấp, gió luôn xao động trên hàng lá cây mù u cây nhãn cây bàng cây phượng cây sầu đông mọc suốt chiều dài con đường bên ngoài cổng trường. Tất cả chúng đều loáng ướt, sụt sùi, run rẩy. Màu trời thì âm u, ẩm đục, ám tối. Nó xuống thấp để nuốt chửng hình dáng lá cờ treo rũ trên đỉnh cột. Tôi luôn để ý đến cái xô sắt dùng đựng than. Tôi sẽ quạt, thổi, để nó cháy lên những ngọn lửa nhỏ bé hầu giúp chị ấy chống đỡ cái lạnh chút nào hay chút đó. Cái “máy sưởi” kì quái ấy đặt cạnh chỗ chị và nó có vẻ yếu đuối luôn để cho heo may hàn khí trấn áp. Da chị tái xanh, vú chị có lẽ sẽ đang thu nhỏ lại với da nổi hột. Mắt chị đặt để vào khoảng không, đâu đó ở góc phòng. Thỉnh thoảng tia nhìn quét vội ngang tôi. Chẳng lâu, nhưng tôi cũng cảm nhận được nó ngầm nhắn gửi một lời cám ơn.

Một hôm, khi lên văn phòng để ký nhận tiền học bổng, tôi thấy chị cũng đứng đợi lãnh tiền. Người thư ký phụ trách gọi tên và đó là lần đầu tôi biết cô người mẫu luôn rụt rè kia mang tên Hoa. Không dọ hỏi, nhưng tôi hình dung được số tiền khiêm nhường mà chị sẽ nhận cho công việc làm người mẫu. Tôi lấy xe đạp rón rén bên chị và mạnh dạn đưa ra lời đề nghị:
- Chị đi mô, tôi sẽ chở. Về nhà hay ghé chợ?
- Đừng… Không đi chợ. Mà nhà thì ở chỗ xa lắm.
Trời thương, trời tạnh, trời không mưa. Nếu mưa tôi sẽ bỏ mặc chị. Trời chẳng nắng, nhưng khô ráo. Thứ thời tiết khiến người ta thèm ngồi cùng nhau bên cốc cà phê, nhất là người ta đang có rủng rỉnh chút tiền trong túi.
- Không chợ mà chẳng nhà, như rứa là chị rảnh. Cứ leo lên đi, tụi mình tìm quán cà phê. Chị Hoa tính sao?
Hoa không biết tính làm răng. Tôi nghĩ vậy. Dùng dằng nửa muốn nửa không. Tôi đoán thế.
- Một người đi bộ, một đứa đạp xe quờ quạng bên hông. Có phí cả một buổi chiều không?
- Uống cà phê để làm gì?
Mái tóc làm che gương mặt. Một gương mặt luôn cắm cúi khi bước, làm như con đường nhiều chông gai và sợ bàn chân dẫm phải. Từ nhỏ tới lớn, tôi chưa bao giờ đón nghe một câu hỏi kì cục như vậy. Ở lớp mẫu giáo, có thể nghe hỏi: Ăn cơm để làm gì? Dạ thưa cô, ăn cơm để sống.
- Không cứ là cà phê, uống thứ khác cũng được. Người ta vào quán vì khung cảnh ở đó có vẻ hợp cho những tâm sự.
- Nếu chẳng có tâm sự thì vào đó có phí không?
- Không phí. Tuyệt đối không.
Tôi để Hoa toàn quyền lựa chọn địa điểm. Hoa chẳng nặng, tôi chẳng nhọc khi thồ cái nhân dáng tôi vẽ cả mấy chục lần. Nhắm mắt, tôi có thể mường tượng ra vị trí những nốt ruồi ẩn hiện thầm kín trên da thịt Hoa. Tôi đã dời đôi giá vẽ ở đủ mọi góc cạnh. Tôi đã “ăn tươi nuốt sống” cơ thể Hoa từ trước ra sau. Tôi ngủ, vắng những mộng mơ. Thảng hoặc, chiêm bao rất đỗi ngắn ngủi sật sừ: Tôi ôm Hoa đứng hôn nhau trên ngọn đồi trọc, cỏ cây cằn cỗi và ở đường chân trời thì sắc sảo một nhát cọ đỏ bệt ngang, chảy máu.

2. Tựa vết dầu đang chảy loang, người ta đồng loạt bỏ chạy, tôi cũng chạy. Người ta hốt hoảng, tôi cũng mặt cắt chẳng còn giọt máu. Người ta bồng bế nhau chất chồng lên xe đò, tôi vác mạng không bám đu như thằng lơ xe chính hiệu: Tới luôn bác tài! Người ta khản tiếng ơi ới gọi nhau xa bầy lẻ bạn, tôi ngậm câm lòng rất chật những hoang mang. Người ta ngó lui, như ngó những cột mốc kỉ niệm đang gắn xuống Quốc lộ 1. Huế ơi, tạm biệt hay vĩnh biệt? Tôi cũng ngó lui, “tha hồ mây trắng bay”!
Vào Đà-nẵng tôi ở đậu nhà bà con, đường Hùng Vương, gần chợ Cồn. Tôi hay ra ngồi quán cóc ở lề đường ngó sự hỗn loạn luôn thay đổi bộ mặt quanh chỗ ngồi thường trực những tiếng động điếc con ráy. Tôi ngồi như một kẻ bị chứng bệnh mộng du. Trầm kha, nhợt nhạt. Lòng tôi bình lặng một cách kì lạ. Tựa một mặt hồ mà những âm thanh đang gây nhiễu loạn kia chẳng rơi được vào trong tôi để làm gợn lên những con sóng. Vì sao? Tôi tự lí giải. Vì nếu chết tôi chẳng có gì để phải sợ hãi. Một đứa cô đơn, một đứa trơ trọi giữa cuộc đời này nó chẳng có gì để bận tâm, hối tiếc. Tôi ngồi, tôi uống cà phê bít tất, uống nước trà nguội, uống câu giờ và có khi bất ngờ, uống cả câu thơ của Nguyễn Đức Sơn: “Tôi về lắng cả buổi chiều, nghe chim ăn trái rụng đều như kinh”. Tôi ngồi, như bức phù điêu đang hồi ẩn hiện rêu xanh. Ba hồn chín viá lộn lui khi tai mơ hồ vọng dội tiếng ai vừa gọi tên tôi. Đã ba ngày vất vưởng, giờ mới có người nhận diện. Giọng vỡ ra, ôi êm ả biết dường nào!
- Nghiêm, vô đây khi mô?
Tôi hoàn hồn và tôi chết điếng. Đứng rất sát, rất gần, rất kề cận bên tôi là Hoa. Hoa của một áo quần lụa là có phần tươm tất. Hoa của một che đậy giữa chốn ta bà. Gần quá, tôi rất muốn ôm Hoa, đưa tay ra là đụng phải, để hiểu, hoàn toàn nó không là ảo ảnh.
- Vô đã ba ngày. Đã ba ngày, cứ ngồi như ri đây!
- Nói nghe thảm. Uống thêm ly cà phê nữa hí? Hoa đãi.
Tôi đùa: Uống cà phê để làm gì? Hoa mắng: Con khỉ. Hoa ngồi xuống ghế đẩu, sát tôi. Lưng dựa vào tường một công sở đã di tản nhân viên. Tôi ngửi được mùi một hương hoa. Có thể Hoa vừa gội đầu xong, hoặc thứ mùi đó từ cơ thể, từ nách Hoa phát tiết ra. Tôi không biết. Tôi u mê ám chướng. Tôi vẫn luôn là đứa con trai lạc loài. Hoa vuốt tóc tôi, ngó tôi lâu, rồi bình phẩm: Hốc hác quá! Vào Đà-nẵng, ở chốn lạ, con người đâm dạn dĩ. Ở Huế, cho tiền Hoa cũng không dám rờ rịt. Lộ liễu quá. Đúng không?
Hoa dắt tôi về chỗ Hoa ở, đâu đó gần cầu Vồng. Lối đi quanh co, con nít mình trần đứng đầy đường với bụi vàng đất cát. Nhà nhỏ, những phòng không gắn cửa, lay động ở đó là tấm vải buông rủ làm màn. Hoa vén màn, phòng kê chiếc giường, thêm cái tủ nhỏ, sít sao, vừa đủ diện tích. Muốn ngồi, chỉ có giường là nơi đặt đít. Giường trải chiếu, in lem luốc chữ Phúc nằm chật chội trong vòng tròn. Chữ Phúc bốc mùi, không là mùi của ẩm mục thiếu nắng mốc meo. Một đứa bé chạy ào vào, hộc tốc. Môi khô, hơi thở gấp: “Chị Lệ, chị Lệ có khách đợi”. Hoa ngó tôi, Hoa dùng tay đẩy thằng nhỏ ra khỏi phòng: “Em nói lại với họ là bữa ni chị không đi. Chị bị cảm, nhức đầu chóng mặt, buồn nôn. Hiểu không? Mai mốt hẵng tính”. Hoa trút bỏ áo quần. Tôi quen thuộc với cơ thể ấy, nhưng vùng kín đáo của Hoa là nơi chưa một thằng sinh viên mỹ thuật nào được ngắm nhìn, ngoại trừ tôi, hôm nay.
- Để Hoa chỉ cho xem cái ni.
Hoa kéo tấm màn. Phiá sau, dán trên ô kính cửa sổ là tấm giấy cứng vẽ hình một thiếu nữ mặc đồ lót ngồi trên ghế. Bản vẽ vụng, chẳng mấy đẹp kia có viết tên tôi bên dưới. Đó là bài làm cách đây đã hai tháng và bài tập ấy mang điểm B. Tôi ngây mặt ra. Hoa kéo tôi đi từ ngờ vực này đến ngạc nhiên khác. Khi chạy trốn, tôi chỉ mang theo cái mong manh của một phận người. Đã di tản, sao Hoa còn nhọc lòng toan tính, ôm đồm mang theo đồ đoàn những thứ vô bổ?
- Không biết nữa. Hoa nói với người trưởng lớp, xin bức này để làm kỉ niệm. Mỗi tối, trước khi ngủ, Hoa đều ngắm nó khoảng năm phút. Hoa tự hỏi: Bao lâu nữa thì mình sẽ tàn tạ, chẳng còn được như trong tranh?
Hoa ôm cứng lấy tôi. Hoa bảo: Hãy yêu Hoa đi. Nắng buổi chiều chiếu rọi xuyên qua bản vẽ làm rách nát từng đường trên cơ thể Hoa. Tôi nằm dát người trên chiếu, nghe tiếng súng nổ và hiểu Đà-nẵng đang cơn hấp hối.

3. Có thể, tôi chấm dứt chuyện kể ngang đây. Nhưng, có điều này tôi muốn thưa thêm: Cách đây hai tuần, một người bạn cũ, một họa sĩ tự do đang sống ở Huế, có viết trong email: “… mày còn nhớ cô người mẫu 6 đầu rưỡi năm xưa không? Người đẹp đang là ni cô, mùa lụt bão vừa rồi, em làm việc thiện phát chẩn giúp đỡ những kẻ bất hạnh…” Lúc đó, tôi đã ngồi nhắm mắt lại trước màn hình rất lâu. Tai tôi như nghe được giọng nói nhỏ nhẹ của Hoa hôm nào, một ngày của quá vãng: Tên hai đứa mình ghép lại sẽ tựa như tên một cuốn kinh: Hoa Nghiêm.
Phải, tôi nhắm mắt ngồi rất lâu. Lâu gần bằng một mộng mị khi thiếp ngủ. Tôi tắt computer. Tôi đi đốt thắp một cây hương. Tôi cúi đầu: Mô Phật!

Hồ Đình Nghiêm

Canada
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 1072)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1150)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 1837)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 5868)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 5839)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13183)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 30068)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81210)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20237)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
18 Tháng Chín 20215:41 CH(Xem: 381)
hai người trò chuyện / hơi ấm mặt trời mơn trớn / cửa bên trong người đàn bà hé mở / miền đất từ lâu không dung nạp sự sống / dòng nước chảy ngang nảy hạt / cong về ánh sáng quên lòng đất tối