- Tạp Chí Hợp Lưu P.O.BOX 9809 Fountain Valley, CA 92728-9809 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,201,142

Thư Cho Em

19 Tháng Ba 200912:00 SA(Xem: 8122)

hopluu99-266w_0_300x183_1

CHUYỆN MỘT KHỐI TÌNH BẤT DIỆT

Chưa từng có một bức thư tình nào mà bán chạy ở Pháp trong mùa thu hoạch văn học rentrée littéraire 2007 này bằng tác phẩm Thư cho em mới vừa được tái bản.

Ngang tầm mắt trên tấm cửa liếp, một tờ giấy ghi hàng chữ đậm : « Xin báo công an phường. Cảm ơn. » Họ nằm bên nhau, vẻ mặt thanh thản. Họ là nhà văn, nhà báo, triết gia André Gorz , 84 tuổi, và vợ, Dorine Kay, 83. Ngày 24 tháng 09/2007, họ đồng tình dắt nhau đi về cõi vĩnh hằng trước khi bịnh tật và tuổi tác ngày càng chất chồng.

Nguyên nhơn những vụ đồng loạt tự hủy, theo các nhà xã hội học và phân tâm học, đến nay thảy đều xuất phát hoặc từ môn đồ dòng phái tận thế, hoặc từ những gia đình bị thảm kịch giấu kín dồn vào thế cùng, hoặc từ các cặp vợ chồng già nua đau ốm, tránh tình trạng thể xác và tinh thần lần hồi lụn bại hay cảnh chia lìa kẻ trước người sau. Chắc hẳn trường hợp cặp André/Dorine thuộc loại thứ ba này : họ đã dự tính như vậy, qua một bức thư tình soạn thảo năm ngoái.

Thư cho emDo chính André Gorz chấp bút dưới nhan đề Lettre à D. – Histoire d’un amour (Thư cho D. - Khối tình bất diệt - Nxb Galilée), phát hành tháng 09/2006, đúng một năm trước. Tác phẩm tối hậu của một văn gia, sau thời gian hoạt động tích cực trong ngành báo chí và triết luận và trước khi từ giã cõi đời, trở về với đề tài muôn thuở : tình yêu. Bức thư khai mào : « Em nay đà tròm trèm tuổi tám mươi hai. Thân mình co thắt, còm cõi mất sáu phân, chỉ còn nặng bốn mươi lăm kí, vậy mà dưới mắt anh em vẫn mĩ miều, duyên dáng và quyến rũ làm sao ! Chúng mình chung sống với nhau đã năm mươi tám năm ròng, vậy mà anh vẫn yêu em tha thiết. Vẫn cảm thấy lồng ngực mình giá lạnh mỗi khi không được thân xác em hâm ấm trên làn da thớ thịt. »

Ít có tác phẩm nào, ngay mấy dòng đầu, mà thu hút tâm trí độc giả chúng ta đến nhường ấy. Chỉ cần vài câu đơn giản, không chút kiểu cách, là đà tạo nên giai điệu, giọng nói, cảm xúc, bởi nó vọt ra tự đáy lòng và máu huyết của một con người đà ở tuổi bát thập. Bức thư 76 trang vỏn vẹn viết cho ngưòi vợ đau yếu, gần đất xa trời, chưa biết rõ giờ khắc cuối cùng. Trước mặt người vợ và trước mặt mọi người, tác giả không ngần ngại, tuy vẫn tế nhị, tự hỏi : khối tình gắn bó đó của mình được xây trên nền móng nào, bằng bí quyết nào. Nhờ đâu mà nó bền vững ngót sáu thập niên một cách kì diệu tới mức ấy ; mà nó tự dưng hóa nên thành phần bất phân trong cuộc đời của mình như vậy. Hẳn là vì : « Thuở ấy (chiến tranh thế giới 1939-1945) hai đứa mình đều cùng sống chung trong tình cảnh bấp bênh, thời buổi xáo trộn (cha tác giả vốn tộc Do thái, Dorine Kay gốc Hồng mao, họ gặp nhau ở thủ đô nước Áo dưới quyền quân phiệt Đức). Chúng mình khôn thôi bảo trợ lẫn nhau, đồng tình đồng cánh với nhau. Anh biết rõ như vậy và tin rằng em cũng biết rõ như vậy. »

Trên thực tế, suốt thời gian chung sống, Dorine Kay không ngừng là chỗ dựa tinh thần và vật chất cho André Gorz dựng nên sự nghiệp triết học và báo chí của mình. Họ tuy hai mà một, hợp nhứt với nhau. Bức thư kết thúc : « Cả hai đứa mình không đứa nào lại muốn tiếp tục sống sau kẻ mất sớm. Giả thử, như chúng mình thường thổ lộ cùng nhau, sau cái chết có một đời sống khác, thì hai đứa mình đều đồng tâm ước vọng được sống tiếp bên nhau. » Vô hình trung ước vọng này báo trước quyết định sẽ diễn ra ngày 24 tháng Chín vừa rồi.

Sự nghiệp sóng đôi Vào cuối cuộc đời, sau khi đà dựng nên sự nghiệp triết học và báo chí, André Gorz không ngớt nghĩ tới công ơn người vợ đã nâng đỡ mình trong suốt thời gian lao lực. Ghi khắc hình ảnh Dorine Kay sao cho khỏi phai mờ : « Không có em bên cạnh, thì làm sao sự nghiệp ấy được hình thành và phát triển. Là thành tựu của những ngày dài đối thoại khôn dứt giữa đôi ta, giữa hai đứa chúng mình, vậy mà nó chỉ mang có mỗi một tên anh trên trang sách và trong tâm trí mọi người. »

Chào đời năm 1923 ở Áo, André Gorz giả dạng trốn sang Thụy sĩ lúc 15 tuổi khi trùm quốc xã Đức Adolf Hitler (1889-1945) bạo hành, thôn tính nước Áo qua chánh sách Anschluss. Năm 1946, gặp triết gia Jean-Paul Sartre (1905-1980) ở Lausane. Thuyết hiện sinh hành động đặc cách của triết gia này (*) phù hợp với kinh nghiệm bản thân của ông, của con người « đi tìm mình qua thân phận của chính mình ». Triết luận Le Traître (Phản bội - 1955) ra đời với lời giới thiệu nồng nhiệt của Jean-Paul Sartre. Cộng tác với tạp chí Temps modernes (Thời đại), do triết gia này chủ trương, từ năm 1961 tới năm 1973. Tiếp tục triển khai suy luận, nhập thêm mảng kinh tế, xã hội, sinh thái vào triết thuyết hiện sinh. Luận thuyết Adieux au prolétariat (Giã từ giai cấp vô sản – 1980) đánh dấu một bước tiến trong suy luận, tiên quyết rằng lao động trong ngành kĩ nghệ sẽ tự nhiên phân tán trong xã hội tư bản - luận thuyết gối đầu giường cho mọi nhà nghiên cứu cùng chủ đề.

Song song với công trình triết học và xã hội học gồm trên dưới 15 tác phẩm, André Gorz dấn thân vào nghề báo. Dưới biệt danh Michel Bosquet, ông làm phóng viên cho tờ Paris Presse (Paris báo), và sau đó, lần lượt cho tuần báo Express (Tin nhanh) và Le Nouvel Observateur ( Người quan sát đổi mới). Rồi trở thành tổng biên tập tuần báo này, chuyên trách phần xã hội, kinh tế, sinh thái, cho tới năm 1983. Luận thuyết L’Immatériel (Phi vật thể - 2003), khảo sát hiện tượng con người ngày càng không được khoa học và tài lực chú trọng đúng mức, kết thúc sự nghiệp nghiên cứu của ông.

Và kết thúc cuộc đời bằng một lá thư tình, gọn trong 76 trang. Nhưng là những trang cô động, trong như ngọc, nhẵn như hòn đá cuội - nghiễm nhiên chứng tỏ rằng văn chương đích thật chỉ nảy sanh từ những trái tim không màu mè và không sơn phết. Một tác phẩm để đời.

 

TRẦN THIỆN - ĐẠO

(Paris, 09/10/2007)

---------------------------

(*) Xem : Trần Thiện-Đạo, Chủ nghĩa hiện sinh hành động và thuyết cấu trúc (Nxb Văn hóa – 2001), phần I, tr. 8-269.

Gia tài văn hóa

KIỆT TÁC NGÔN NGỮ

Có ai ngờ rằng một tác phẩm tái bản hằng năm từ hơn một thế kỷ nay mà lại bán chạy như tôm tươi, mỗi lần bán hết 700.000 cuốn như chơi. Sách gì vậy ? Tiểu thuyết phong tình dồn dập mây mưa ? Truyện trinh thám tình tiết hồi hộp ? Hồi ký nẩy lửa của một siêu sao lẫy lừng ? Sấm truyền của một nhà tiên tri khét tiếng ? Không phải đâu, bạn đoán sai ráo. Đó là một cuốn từ điển : cuốn Petit LAROUSSE illustré (Từ điển thông dụng LAROUSSE minh họa – Nxb Larousse), mỗi năm tái bản một lần, có sửa chữa và thêm bớt hợp thời. Ấn bản 2008 mới vừa phát hành.Pierre Larousse

Mọi sự bắt nguồn từ ý chí của một thày giáo tỉnh lẻ : Pierre Larousse (1817-1875). Nhận thấy chương trình giảng dạy trong nhà trường công lập bấy giờ vừa lạc hậu vừa thiếu sách, ông bèn cuốn gói lên thủ đô Paris lập nghiệp trong một trường… tư, tư thục Jauffret. Thời gian giảng dạy trong nhà trường nội trú rất ư đắt khách này, ông khởi sự soạn thảo giáo trình Lexicologie des études primaires Cours complet de langue française (Ngữ vựng tiếng Pháp dành cho cấp một – 1849), dạy học trò ăn nói đúng mẹo và viết đúng chánh tả. Cũng nên nhắc tới ở đây đóng góp của bà Suzanne Caubel, vợ ông, trong việc hiệu đính và trình bày tập sách - khiến chúng ta không khỏi nghĩ tới bà Dorine Kay, hơn một thế kỉ sau, cũng góp phần không ít cho sự nghiệp triết học và báo chí của người chồng André Gorz (1913-2007) cả hai vừa từ trần mới đây. (*)

Trong thời gian này, Pierre Larousse cùng một đồng nghiệp là ông Augustin Boyer sáng lập nhà xuất bản Larousse & Boyer chuyên in sách giao khoa, rồi trở thành Nxb Larousse khi họ chia tay nhau. Cho tới khi qua đời, ông miệt mài soạn đều đặn mỗi năm một biên khảo về ngôn ngữ Pháp và nguồn gốc Latin và Hi lạp của nó - gồm trên dưới 20 đầu sách thảy đều được giới nghiên cứu đón chào nồng nhiệt. Là kết quả một cuộc đời tận tụy, nghiên cứu không ngừng nghỉ chẳng những về ngôn ngữ mà cả về mọi địa hạt khác, như ông đã tuyên bố, để ‘’ thực hiện một cuốn từ điển bách khoa, bao trùm mọi tri thức cần thiết cho đời sống tinh thần ‘’. Thời ấy, đa số ngưòi dân còn thất học hoặc mù chữ, cần phải được‘’ soi sáng bằng mọi cách, giúp họ có một số hiểu biết tối thiểu ‘’. Từ năm 1863 tới năm 1875, trước khi qua đời, ông đã lần hồi hoàn tất tập Grand dictionnaire universel du XIXè siècle (Đại từ điển bách khoa thế kỉ XIX) dầy hơn 20.700 trang.

Trong số 20 tác phẩm nghiên cứu và biên khảo của ông, cần phải kể đặc biệt quyển Nouveau dictionnaire de la langue française (Tân từ điển tiếng Pháp – 1856) vốn là tiền thân cuốn Từ điển thông dụng LAROUSSE minh họa ngày nay, chủ đề của bài này.

Gởi hương cho gió Nguyên tác là Je sème à tout vent, biểu hiệu quyển từ điển tiếng Pháp minh họa nói trên, mà những ai có trong tay kể từ năm 1905 tới nay thảy đều thấy vẽ ngoài bìa. Logo đầu tiên này do kiến trúc sư kiêm trang trí gia Emile Reiber hình tượng, lấy cọng hoa pissenlit, cũng gọi là bồ công anh, phân tán hột giống bay lượn khắp nơi. Điều đáng tiếc là biểu tượng gởi hương cho gió chỉ được thực hiện khi Pierre Larousse đã qua đời vào tuổi 57. Năm 1890, cọng hoa pissenlit được hai họa sĩ Eugène Grasset và Georges Moreau ghép thêm hình la semeuse, người phụ nữ thổi phun hột giống, tượng trưng cho mục đích của tác phẩm là truyền bá tri thức cho mọi người..

Nhưng phải đợi tới đầu thế kỉ XX, cuốn Tân từ điển tiếng Pháp mới đổi tên thành Từ điển thông dụng LAROUSSE minh họa. Ông Yves Garnier, đương kim giám đốc phòng Từ điển và Ngôn ngữ Pháp Nxb Larousse, tường trình : « Chính nhà ngôn ngữ học Claude Augé (1854-1924) là người có sáng kiến kèm thêm minh họa. Ông cho rằng hình ảnh rất quan trọng trong việc lãnh hội ý nghĩa từ ngữ giải thích. Ngay khi mới ra đời năm 1905, cuốn Từ điển minh họa đã thành công rực rỡ. Từ bấy đến nay, nhiều gia đình chỉ có mỗi một quyển sách trong nhà, thì đó là cuốn từ điển này. » Có lẽ sự thành công này đã thúc đẩy, nửa thế kỉ trước đây, Nxb Khai–Trí ở Sài gòn ấn hành cuốn Việt-Nam tân từ điển minh họa (1965), nhái theo công trình Larousse, của Thanh-Nghị - đồng lượt với cuốn Từ điển tiếng Việt không có minh họa do Văn Tân chủ biên và do Nxb Khoa học xã hội ấn hành ở Hà nội.

Sau hơn một thế kỉ, cuốn Từ điển thông dụng LAROUSSE minh họa vẫn giữ nguyên cấu trúc cố hữu, chia thành ba phần. Phần đầu dành cho danh từ chung, phần sau cho danh từ riêng – cũng gọi là phần lịch sử, và phần giữa màu hồng cho tục ngữ và thành ngữ tiếng ngoại thường dùng trong đối thoại và văn học. Riêng các minh họa thì theo thời gian luôn hồi thích nghi với tiến triển kĩ thuật, ảnh màu lần lượt thay cho tranh vẽ.

Một tác phẩm không những thuộc hạng best-seller, sách bán chạy, mà còn là một long-seller, sách liên tục bán chạy.

 

TRẦN THIỆN - ĐẠO

(Paris, 25/10/2007)

-------------------------

(*) Xem : Thư cho em - Chuyện một khối tình bất diệt (Thể thao & Văn hóa, số 67, ngày 11/10/2007).

 

 

 

 

Paris văn học

CON NHÍM LỊCH LÃM

 

Từ ngày ra mắt bạn đọc ngót một năm nay, thiên truyện thường xuyên đứng đầu sách bán chạy. Đã được hồi bản 41 lần, mỗi lần 10.000 bản, và đến nay bán sạch hết 400.000 cuốn. Trong thời gian này, tác phẩm lần lượt trúng nhiều giải thưởng, từ giải Georges-Brassens tới giải Thư quán qua các giải Độc giả tỉnh lẻ, Văn hóa và Thư viện…mỗi giải một số lượng độc giả riêng biệt. Đã được dịch trên mười thứ tiếng Á Âu, Nhựt bổn, Trung hoa, Thái, Anh-Mĩ, Đức, Bồ đào nha … Sắp dựng thành phim nhựa. Một điều đáng ngạc nhiên hơn nữa, là nó không những được giới phê bình và quan sát văn học chú trọng mà còn được độc giả truyền miệng nhau mua, bàn luận. Truyện gì vậy ?

Hài kịch Một thứ hài kịch đạo lí nhan là L’Élégance du hérisson (Con nhím lịch lãm – Nxb Gallimard) – cái tựa đề hàm ý này không khỏi khiến chúng ta nghĩ tới cuốn truyện hoạt kê Gấu con phiêu lưu kí của nhà văn Phần lan Arto Paasilinna (*). Tiểu thuyết thứ hai của một nhà giáo dạy triết ở tỉnh lẻ : Muriel Barbery. Tuy tác phẩm đầu tay La gourmandise (Khoái khẩu) phát hành hai năm trước cũng đã được đón chào nồng nhiệt và chuyển ngữ qua nhiều thứ tiếng, tác giả vẫn không ngờ rằng cuốn truyện thứ hai của mình lại tự dưng trở thành một hiện tượng văn chương hiếm thấy như vậy.

« Nhờ có ông Mác mà tôi nhìn thấy cuộc đời hoàn toàn khác hẳn. » Đây là lời một cậu choai choai con ông cháu cha ít khi giao tiếp với hạ tầng xã hội bất ngờ rỉ vào tai mụ gác cửa. Mụ giới thiệu mình : « Tui tên là Renée, năm mươi bốn tuổi, gác cửa nhà số 7 đường Grenelle, một căn hộ sang trọng ở Paris. Góa chồng, xấu như ma lem, lùn tè lùn tịt, tròn trịa béo phì, tay chưn chai cứng và, cứ như tui tự mình ngửi thấy mỗi sáng, thì mồm miệng hôi rình. Còn dáng vẻ thì lại y chang hình trạng hạng người gác cửa, thành ra chẳng có ma nào nghĩ rằng tui học thức coi vậy chớ cũng vượt xa lũ giàu có nứt đố đổ vách tự phụ hợm hĩnh kia. » Chẳng ai ngờ rằng mụ đã đọc biết bao * triết gia, Emmanuel Kant, Edmund Husserl mà mụ rất khoái, * phân tâm gia mà mụ cho là vừa tầm phào vừa lố bịch, * tiểu thuyết gia mà mụ ưa chuộng đến mức đặt tên con mèo già của mình là Léon để tưởng nhớ Tolxtoï. Lại nữa, mụ còn thính nghe nhạc giao hưởng loại Wolfgang Mozart, Ludwig van Beethoven, Franz Liszt và đồng lượt ngưỡng mộ các nhà đạo diễn màn ảnh đặc biệt là Ozu Yasujiro, tác giả một loạt phim để đời…

Sóng đôi với mụ trong cuốn truyện còn có một cô bé ngộ nghĩnh khác thường. Cô ta tự giới thiệu : « Tôi tên là Paloma, mười hai tuổi chẵn, ở nhà số 7 đường Grenelle trong căn hộ sang trọng giàu có. Cũng từ lâu rồi, tôi đã nghiệm thấy trước cuộc đời người lớn của mình, với bể nuôi cá, với chuỗi ngày trống rỗng và đần độn. Làm sao biết trước được như vậy hả ? Có gì lạ đâu, tôi vốn rất thông minh. Cực kì thông minh, hiểu biết mau lẹ. Nhờ vậy mà tôi đã lấy quyết định ngay liền bây giờ : sau năm học, vừa đúng tuổi mười ba, là tôi tức khắc lìa cõi đời này. » Tuy chưa trưởng thành, nhưng năng khiếu vượt bực, nên cô nàng đà thấu hiểu mọi sự trên đời. Chính cô đã chọn biệt danh con nhím đặt cho mụ gác cửa. Đúng y như mình nhận xét : « Mụ gác cửa Renée bổn tánh giống hệt loài nhím : bề ngoài thì gai góc nhọn hoắc rậm rạp như tường vách thành trì, còn ở bên trong thì tôi đoan chắc là hết sức tao nhã tế nhị chẳng khác gì nhím ta, là loại động vật cứ như chậm chạp uể oải, đơn độc một mình, vậy mà thật ra là lịch lãm hết cỡ. » Trọn cả chủ đề dựng nên câu chuyện dài 360 trang !

 

Biếm họaVới thứ văn phong tưng tửng, mỉa mai, u mặc, nhà giáo dạy triết Đại học Sư phạm tỉnh lẻ Muriel Barbery không hề tỏ ra thông thái, uốn éo làm dáng. Về cả hai mặt hình thức và nội dung, khác hẳn ít nhiều nhà văn trẻ mới vào nghề ở bên này cũng như ở bên ta (xin khỏi nhắc tên), tưởng rằng văn mình càng hủ nút khó hiểu bao nhiêu thì nó càng siêu đẳng cao đẹp bấy nhiêu - khiến cho độc giả tự nhiên phải kính nhi viễn chi. Đằng này, tác giả cuốn Con nhím lịch lãm cứ viết văn theo nhịp thở của mình phù hợp với hoạt cảnh, khi thì đều đều, khi thì hối hả, nhưng cùng hướng tới cuộc sống hằng ngày qua con mắt của hai nhơn vật chánh.

Mụ gác cửa thạo đời Renée và cô bé ngỗ nghịch Paloma thoạt đầu là hai hoang đảo, cách biệt với nhau. Nhưng rồi với sự việc dồn dập diễn ra trong căn hộ, những chuyện nhỏ, thật nhỏ, nhưng thuộc loại soi sáng cuộc đời, họ lần hồi biến thái, hóa thân. Chui ra khỏi cảnh tình cô độc, không những trong giao tiếp mà cả trong nội tâm. Và đồng thời đóng vai hề trong một vở chèo, dựng nên bức tranh biếm họa giới thượng lưu - cuốn hút mọi tầng lớp độc giả, kể cả những kẻ bị chế giễu.

Thành tựu và thành công của Muriel Barbery chắc là nhờ vậy.

TRẤN THIỆN - ĐẠO

(Paris, 07/09/2007)

----------------------------

(*) Xem : Ngụ ngôn hiện đại - Gấu con phiêu lưu ký (Thể thao & Văn hóa, số 87, ngày 21-7-2007).

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
07 Tháng Chín 20183:06 CH(Xem: 2221)
Đó là những bài thơ hiếm gặp trên đời này. Đó là thơ Lý Thừa Nghiệp. Đó là những dòng chữ làm chúng ta giựt mình ngay tức khắc. Như dường chữ nhảy ra khỏi trang giấy. Nhiều bài thơ của anh có sức mạnh làm tôi sững sờ, ngồi yên lặng lẽ, và dõi mắt nhìn cho tới dòng cuối bài thơ.
22 Tháng Tám 20155:48 CH(Xem: 7929)
Sau hai tập thơ đã ấn hành (Sinh Nhật Của Một Người Không Còn Trẻ, NXB Văn Mới, Califorina, 2009 - Những Giấc Mơ Tôi, NXB Văn Mới, California, 2013), cuối tháng 7.2015 vừa qua, nhà thơ Lữ Quỳnh đã ấn hành tiếp tập thơ thứ 3, "Mây Trong Những Giấc Mơ", với một tâm thức nhẹ nhàng, thanh thoát như Mây và một cảm xúc sâu lắng, nhưng rất an nhiên tự tại...
03 Tháng Mười Một 20142:39 SA(Xem: 9158)
“Đọc thơ Du Nguyên có cảm giác cô ấy góa chồng ngay giữa tuổi trẻ của mình” - đó là nhận định của nhà thơ Bình Nguyên Trang, khi đọcKhúc lêu hêu mùa Hè…
18 Tháng Tám 201412:00 SA(Xem: 10860)
Mở đầu cuốn Những cuộc đời song hành , Plutarque viết: “Sossius Sénécion ạ, khi miêu tả Trái đất, các sử gia đẩy ra sát mép bản đồ của họ những vùng đất mà họ không biết và chú ở bên cạnh: “vượt qua ranh giới này chỉ còn là sa mạc hoang vu và thú hoang nguy hiểm” hay “đầm lầy u tối” [1,75]. Hẳn rằng, nếu như không có sự ảnh hưởng trực tiếp, thì Trần Đức Tĩnh đã viết Đối cực (Nxb Trẻ, 2014) cũng với một cảm hứng gần như tương đồng với Plutarque trên góc độ quan niệm có những thế giới song hành, khác biệt nhưng lại tương tác nhân quả lẫn nhau.
17 Tháng Bảy 201412:00 SA(Xem: 12082)
T rong một cuộc hành quân dài ngày cuối năm 1970 thế kỷ trước, chúng tôi những người lính tác chiến của Quân đội Miền Nam Việt Nam, được lệnh trang bị khá chu tất, từ súng đạn tới quân trang quân dụng. Tuy cồng kềnh, nặng trĩu, tôi vẫn cố sắp xếp để ba lô có được một khoảng nhỏ, đủ chứa vài ba cuốn sách, do vợ tôi, bấy giờ còn là “người yêu” gửi ra hậu cứ. Đó là bốn tác phẩm của Y Uyên, Dương Nghiễm Mậu, Hoàng Ngọc Tuấn, và Ngô Thế Vinh. Ba tác giả đầu tôi đọc say mê, đến Vòng Đai Xanh thì khựng lại...
05 Tháng Sáu 201412:00 SA(Xem: 13887)
D ohamide là một tên tuổi quen thuộc trên báo Bách Khoa trước 1975, chuyên khảo về lịch sử và văn minh Chàm. Đã xuất bản năm 2000: “Dân Tộc Champa: Hành trình Tìm về Cội Nguồn”. Xuất thân Học Viện Quốc Gia Hành Chánh và tốt nghiệp M.A. Đại Học Kansas, Hoa Kỳ. Lớn lên ở miệt Hậu Giang Châu Đốc nên rất am tường về hệ sinh thái Đồng Bằng Sông Cửu Long. Đây là bài điểm sách thứ hai của anh Dohamide nhân dịp CLCD BĐDS tái bản lần thứ 3.
20 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 11671)
J . Maulpoix. nhận xét: Thơ là thứ đối tượng của ngôn ngữ khó khăn, một sự dũng cảm, một công việc vĩ đại và biến hóa, đề xuất hay bắt buộc, là sự cô đọng tối đa của sự kiện ngôn ngữ tập trung trong một không gian thu hẹp.
05 Tháng Hai 201412:00 SA(Xem: 14683)
V à chúng ta dễ dàng nhận ra màu đỏ của “Đàn sẻ ri bay ngang rừng” thường xuyên nhất được dùng để tả máu. Máu khi người vợ sinh con, và máu khi những con chim sẻ bị bắn chết: sự đối lập của màu đỏ của bắt đầu sự sống và màu đỏ của bắt đầu sự chết.
19 Tháng Giêng 201412:00 SA(Xem: 13583)
M ột hiện tượng, tưởng rằng đã chết khi ông Osho tức Bhagwan Shree Rajneesh bị chính quyền Liên Bang Hoa Kỳ trục xuất về Ấn Độ vào năm 1987, nay đang có những chỉ dấu sống dậy, không phải chỉ trong cộng đồng Oregon, Hoa Kỳ như trước đây mà là trong cộng đồng Việt Nam ở hải ngoại và có thể ở cả trong nước qua một số sách do Osho giảng được Sư cô Thích nữ Minh Tâm và hội Osho International Foundation dịch ra Việt ngữ.
14 Tháng Sáu 201312:00 SA(Xem: 30888)
T ừ trước tới giờ tôi vẫn tuân thủ theo Wallace Stevens “ Người đọc thơ là người hành hương, xuất phát lên đường, giãi bày” (The reader of poetry is a kind of pelgrim setting out, setting forth). Thế nhưng đối với tập thơ “Có Thể” chỉ có 31 bài với số lượng mỏng manh 40 trang khổ 13 x 20, mà tôi phải nghiền ngẫm khá lâu khổ sở hơn cả người hành hương.