- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

CÁI CHẾT CỦA VUA QUANG TRUNG

18 Tháng Tư 20248:23 CH(Xem: 37361)

Vua Quang Trung

 

 

CÁI CHẾT CỦA VUA QUANG TRUNG
Việt Phương

 

 

Lời tác giả: Đây là truyện ngn dã sử, có đôi phần hư cấu. Viết để nói lên tinh thần Vua Quang Trung và sự thù hận của gic phương Bc từ ngàn xưa. Chúng lúc nào cũng muốn thống trị và nuốt trọn Việt Nam. Bên cạnh đó, còn có sự tiếp tay của những Lê Chiêu Thống "cõng rắn cn gà nhà" mà thời đại nào cũng có những hạng người này. (VP)

 

 

Dẫn Truyện:

 

Lê Chiêu Thống là vị hoàng đế thứ 16 và là cuối cùng của nhà Hậu Lê. Triều đại nhà Hậu Lê của ông đã chứng kiến nhiều cảnh rối ren của lịch sử nước nhà. Đó là giai đoạn Trịnh Nguyễn Phân Tranh, cả hai đều mang danh nghĩa "phù Lê diệt Mạc". Chúa Trịnh đã diệt được nhà Mạc cho nhà Hậu Lê. Nhưng quyền hành lại nằm trong tay nhà Trịnh. Và sau đó là sự tranh giành và kết thúc của các đời chúa Trịnh.  Và sự phát triển lớn mạnh của nhà Tây Sơn đã đánh đổ Chúa Trịnh với danh nghĩa "phù Lê diệt Trịnh". Lòng dân Bắc Hà hoang mang cực độ. Nguyễn Huệ tuy thắng trận, nhưng chưa nắm được lòng dân nên không xưng đế. Nguyễn Huệ vẫn tiếp tục để nhà Lê làm vua. Nhưng cả ông lẫn nhà Lê điều hiểu rõ quyền hành đang nằm trong tay ai? Nguyễn Huệ tham khảo ý kiến vợ là Công chúa Lê Ngọc Hân việc đưa nhân vật nào lên ngôi. Cuối cùng Nguyễn Huệ đồng ý đưa Duy Khiêm lên ngôi vua. Vua mới đổi tên thành Duy Kỳ, đặt niên hiệu là Chiêu Thống. Ông làm vua chưa tới 3 năm, từ tháng 7 (âm lịch) 1786 tới tháng 1 năm 1789. Năm đó Lê Chiêu Thống mới 21 tuổi. Sau khi lên ngôi, Lê Chiêu Thống thấy rõ ngai vàng mình đang ngồi không có thực chất. Lúc mất ngai, Lê Chiêu Thống bấy giờ mới sang cầu viện Nhà Thanh với hy vọng trở lại ngai vàng.

 

Vào Truyện:

 

Đó là tháng 5 năm 1788, Lê Chiêu Thống và mẹ tất tả chạy sang Tàu. Y khúm núm cúi đầu ra mắt Thanh Cao Tông tức Càn Long. Khẩn xin cầu viện. Càn Long là một vị vua thông minh triều đại nhà Thanh, am hiểu nhiều vấn đề, kể cả dịch số. Lúc này, Càn Long đã già, tuy nhiên lòng hiếu chiến trong người ông vẫn không nguội lạnh. Thật đúng lúc, Càn Long mượn dao giết người, giúp Lê Chiêu Thống chỉ là bề nổi, nhưng trong lòng, Càn Long muốn nhân cơ hội này để thốn tính Việt Nam. Càn Long hăm hở đồng ý sai đại thần của nhà Thanh, người mà Càn Long rất tâm đắc và đặt trọn niềm tin. Không ai khác hơn là Tôn Sĩ Nghị. Tôn Sĩ  Nghị văn võ song toàn, ông đỗ tiến sĩ đời Càn Long, nguyên là quan văn. Giữ nhiều chức vụ quan trọng trong triều trước khi làm Tổng Đốc Lưỡng Quảng. Càn Long hạ chiếu phong cho Tôn Sĩ Nghị làm Chinh Man Đại tướng quân, mang theo 29 vạn quân nhà Thanh hộ tống Lê Chiêu Thống về Việt Nam để giày xéo quê hương mình trên danh nghĩa là Phù Lê. Chúng vào chiếm đóng Thăng Long. 

 

Sau khi quân Thanh chiếm Thăng Long, dân chúng đói khổ, người Hoa cậy thế quân nhà Thanh, nổi lên giành lấy đất đai của nông dân Việt Nam, hà hiếp dân lành. Nông dân không có ruộng cày. Trong nhà không đủ thóc để cầm hơi. Trong khi đó, Lê Chiêu Thống chỉ là con rối của nhà Thanh, hàng ngày phải đi bái kiến Tôn Sĩ Nghị. Dân tình khốn khổ, oán khí cao ngất trời.

 

Nghe báo tin, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ ra lệnh xuất quân tiến ra Bắc Hà. Để có danh nghĩa chính thống, ngày 25 tháng 11 năm Mậu Thân (22/12/1788), tại Núi Bân, Phú Xuân (An Cựu, huyện Hương Trà, Thừa Thiên), Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu là Quang Trung. Liền sau khi lên ngôi, ông lập tức cho xuất quân trong cùng ngày. Chỉ mất bốn ngày, đại quân của vua Quang Trung đã tới được Nghệ An vào ngày 29 tháng 11 năm Mậu Thân (26/12/1788). Ở đây, ông tuyển thêm quân và củng cố lực lượng. Dân chúng xem ông như vị cứu tinh dân tộc. Với oán khí cao ngất trời đó, thanh niên nhiệt huyết theo ông vì lòng yêu nước, quyết chống lại quân xâm lăng đã lên tới con số 10 vạn người. Ông chia thành 5 đạo quân. Sau đó vua Quang Trung tổ chức duyệt binh. Ông uy nghi cỡi trên lưng voi, da ngâm đen, tóc quăn, uy mãnh trong nắng chiều. Khi nói, đôi mắt ông sáng lên, anh dũng, tiếng nói oang oang như tiếng chuông ngân, đánh động vào lòng tướng sĩ:

 

"Quân Thanh sang xâm lược nước ta, hiện đang ở Thăng Long, các ngươi đã biết chưa? Trong khoảng vũ trụ, đất nào sao nấy, tất cả đều được phân biệt rõ ràng, Bc Nam hai phương chia nhau cai trị, người phương Bc không phải là giống nòi ta, bụng dạ t khác. Từ thời Hán đến nay, chúng đã bao phen cướp bóc nước ta, cho nên người mình không ai chịu nổi, đều muốn đánh đuổi chúng đi. Đời Hán có Trưng Nữ Vương, đời Tống có Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, đời Nguyễn có Trần Hưng Đạo, đời Minh có Lê Thái Tổ... các ngài không nỡ ngồi yên nhìn chúng làm điều tàn bạo, cho nên đã thuận theo lòng người mà dấy nghĩa binh, đều chỉ đánh một trận là thng và đuổi được chúng về hn phương Bc." (1)

 

Con voi nhà vua cỡi, như hiểu được tiếng người. Ve vầy hai tai như phụ họa thêm. Thỉnh thoảng chiếc vòi vươn cao như muốn quấn lấy quân thù. Vua tiếp:

 

"Lợi hại và được thua đều là chuyện cũ rành rành của các triều đại trước. Nay người Thanh lại mưu đồ lấy nước Nam ta mà đặt thành quận huyện của chúng, không biết trông gương các đời Tống, Nguyên, Minh thuở xưa, vì thế ta phải kéo quân ta đánh đuổi chúng..." (2)

 

Sau đó vua Quang Trung còn dõng dạc tuyên bố:

 

"Đánh cho Sử Tri Nam Quốc Anh Hùng Chi Hữu Chủ. (Đánh cho biết rằng nước Nam Anh Hùng là có chủ)."

 

Quân sĩ reo hò vang dậy cả núi rừng.

 

Cho quân ăn Tết sớm. Ông quyết định quân Tây Sơn sẽ đánh tan quân Thanh và tiến vào Thanh Long trước ngày mùng 6 tháng Giêng âm lịch.  Đêm 30 tháng chạp Mậu Thân tức 25/1/1789, quân Tây Sơn nhanh chóng vượt bến đò Gián Khẩu (Ninh Bình), đánh tan quân Trấn thủ Sơn Nam Hoàng Phùng Nghĩa. Đúng như những gì ông đã dự tính. Trưa ngày mùng 5 tháng Giêng âm lịch, Tôn Sĩ Nghị bỏ chạy trong nhục nhã cùng sự hỗn loạn của đám tàn binh. Đấy là một trận chiến oanh liệt nhất trong lịch sử Việt Nam. Chỉ với 5 ngày quân Tây Sơn của vua Quang Trung đã đánh cho tan tành quân Thanh, với nhân lực hơn quân mình rất nhiều. Thấy Tôn Sĩ Nghị tháo chạy lúc chiến giáp chưa kịp mặc, ngựa chưa kịp bỏ yên, Lê Chiêu Thống cùng bầu đoàn thê tử cũng kéo nhau chạy theo đuôi Tôn Sĩ Nghị sang Tàu. 

 

Vua Quang Trung đại phá 29 vạn quân Thanh năm 1789, tức năm Kỷ Dậu. Là một bước ngoặc lịch sử quan trọng và vẻ vang của dân Việt. Càn Long thấy bộ dáng xác sơ, ốm đói của Tôn Sĩ Nghị trên con đường đào thoát từ Việt Nam trở về. Ông tức giận, quát lớn:

 

"Một thằng oắc con cõi Nam đó sao lại có thể đánh tan được binh hùng tướng mạnh của ta?'"

 

Tôn Sĩ Nghị qùy dưới bệ rồng, run như cầy sấy:

 

"Thưa bệ hạ, Nguyễn Huệ là một kẻ tài ba, chúng ta thua vì khinh địch và không có chính nghĩa."

 

Càn Long đập tay xuống thành ghế rồng quát:

 

"Ngươi là tướng quân, không còn là quan văn như xưa nữa. Tướng quân ra sa trường là phải chiến thắng. Chính nghĩa là ở trong tay ta. Tướng quân có tới 29 vạn quân, sau đó ta còn cho thêm quân chi viện. Thế mà ngươi nắm phần bại trong tay? Chính nghĩa nằm trong tay kẻ mạnh. Nhà ngươi hiểu chưa?"

 

Tôn Sĩ Nghị trong bụng không phục nhưng vẫn cứ dạ dạ. Ông nghĩ trong đầu, nếu như Hoàng thượng thân chinh đánh trận, thì chưa chắc đã mang được thân xác già nua kia về lại nước. Trong khi đó, Càn Long vẫn còn tức tối:

 

"Thù này ta phải trả. Chúng nó dám vuốt râu rồng ư?"

 

Trong lòng thì căm thù vua Quang Trung nhưng ngoài mặt, lại muốn hòa hảo với Quang Trung. Càn Long sai sứ nhà Thanh sang phong cho Quang Trung làm An Nam Quốc Vương. Càn Long ban tặng cho vua Quang Trung chiếc áo bào bằng gấm vàng, trong đó có thêu 7 chữ bằng kim tuyến "Xa tâm chiết trục, đđiền thử". Bên trong áo bào có tẩm một chất kịch độc, có thể ngấm dần vào thân thể. Muốn giết cho bằng được vua Quang Trung, để tế cho nạn nhân và gia đình của 29 vạn quân đã bị đánh tơi tả, kẻ chết sông vì cuộc tháo chạy dẫm đạp lên nhau, người chết bờ vì bị quân Tây Sơn mai phục. Xác chết quân Thanh ngập tắt nghẽn cả một khúc sông, máu quân Thanh nhuộm đỏ cả cây rừng Đống Đa. 

 

Cùng với phái đoàn của sứ nhà Mãn Thanh, trà trộn trong đó là những tay phong thủy và trấn yếm cao minh do Càn Long sắp xếp. Chúng đã đến An Nam làm một nhiệm vụ bí mật. Đó là phong tỏa và trấn yếm long mạch đất An Nam, cho vua nước Nam không trường tồn, và nhất là vua Quang Trung, một quân sự gia lỗi lạc đang trong tuổi sung mãn nhất cuộc đời. Đây cũng là một mối đe dọa lớn của phương Bắc. 

 

Khi sứ nhà Thanh ra về. Trần Quang Diệu mới Tâu với nhà vua:

 

"Hạ thần thấy chiếc áo bào này rất đáng nghi ngờ. Hơn nữa 7 chữ "Xa tâm chiết phục, đđiền tử" không biết có dụng ý gì bên trong. Hoàng thượng chớ nên mặc nó."

 

Vốn đã đề phòng Càn Long, nên vua Quang Trung gật đầu, cho người cất vào thư phòng.

 

Năm 1790 nhân lễ Bát Tuần Khánh Thọ của Càn Long. Càn Long yêu cầu vua Quang Trung phải đích thân sang Yên Kinh yết kiến. Triều đình Sơn Tây bèn chọn Phạm Công Trị, cháu gọi Vua Quang Trung bằng cậu, dáng mạo giống vua Quang Trung và được huấn luyện giọng nói cũng như thần thái oai phong giống vua, sang cùng Ngô Văn Sở, Phan Huy Ích, Đặng Văn Chân, Nguyễn Tiến Lộc, Đỗ Văn Công, Vũ Huy Tuấn, Vũ Danh Tiêu và Hoàng tử Nguyễn Quang Thùy. Ngoài lệ thường, lần này còn cống thêm 2 con voi đực. Trên đường thật vất vả gian truân. Giữa đường, Hoàng tử cáo bệnh quay trở lại. Vua Quang Trung đã cảnh giác và đề phòng Càn Long đến mức tối đa. Lần này phái đoàn được đón tiếp long trọng ở cung điện Nhiệt Hà. Càn Long thấy dung mạo Phạm Công Trị (tự xưng Nguyễn Quang Bình, tức Nguyễn Huệ) cũng uy nghi lẫm liệt, bèn nghĩ trong đầu. Một mãnh hổ như thế hèn gì đánh bại được quân ta. Nếu không quy thuận hoặc tiêu diệt, thế nào hậu hoạn ắt cũng khó lường. Lúc này vua Quang Trung mới 37, tuổi trẻ lại tài cao, ông còn một khoảng thời gian dài để thống nhất đất nước và biến An Nam thành một con rồng không thể nào khống chế nổi. Càn Long bèn cho Cách Cách ra gặp mặt vua Quang Trung (Phạm Công Trị). Cách cách là Hoàng thập nữ của Càn Long có tên gọi là Cố Luân Hòa Hiếu Công Chúa, tuy chỉ là con gái của tần phi, nhưng có danh hiệu là Cố Luân Công Chúa, (con của Hoàng Hậu), là công chúa được Càn Long sủng ái nhất, nhưng vì đại cuộc phải bấm bụng để gả cho người ngoại tộc. Cố Luân Công Chúa lúc bấy giờ tuy chỉ mới mười lăm (sinh năm 1775), nhưng mặt phấn môi hồng, nhan sắc chim sa cá lặn, trông rất thông minh và hiểu biết ý người. Đây là một cuộc hôn nhân chính trị, chính công chúa đã được giáo huấn điều đó. Vua Quang Trung giả và sứ thần nhìn cũng mê mẩn lòng người. Công chúa xin vua cha cho họa chân dung của vua Quang Trung. Thật ra đây cũng là sự sắp xếp của Càn Long. Phạm Công Trị gật đầu đồng ý. Càn Long như chợt nhớ ra điều gì, bèn hỏi vua Quang Trung (Phạm Công Trị):

 

"Sao trẫm không thấy nhà ngươi mặc áo bào ta đã ban tặng?"

 

Vua Quang Trung bèn đáp:

 

"Áo bào qúi giá, ta không dám mang theo vì đường xa gió bụi sợ hao tổn tâm sức của Ngài."

 

Càn Long, nhíu mày, rồi vả lả:

 

"Ngươi nghĩ thế cũng đúng. Đích thân ta đã sai những nghệ nhân bật nhất nước ta làm nên chiếc áo bào ấy."

 

Phạm Công Trị bỗng liên tưởng đến chiếc áo bào vua Quang Trung đã cho cất vào thư phòng. Tại sao chiếc áo tầm thường như thế mà Càn Long cũng phải chú tâm? Đây không phải là điều lạ hay sao? 

 

Càn Long cho người chuẩn bị giấy mực ra họa chân dung của vua Quang Trung. Trong lúc ấy, Vua Quang Trung cũng xin một bức chân dung của Càn Long để mang về nước. Càn Long cười lớn vang cung điện, từ chối khéo:

 

"Ta nay đã già, sức yếu, thần thái không còn như xưa. Chính ta cũng không dám nhìn ta nữa cơ mà." 

 

Nói xong, Càn Long to tiếng cười để che dấu sự bối rối trong lòng. Mặt khác như muốn áp đảo tinh thần đối phương. Càn Long sợ "gậy ông đập lưng ông". Vì Càn Long muốn có bức họa của Quang Trung để cho người làm phép trù yếm. Càn Long suy tính trong đầu, nếu mọi việc theo ý ông, thì Cố Luân Công Chúa phải bằng mọi cách để có con với vua Quang Trung sau khi xuất giá. Thế là An Nam sẽ nằm trong tay ông không cần thí một con tốt nào.

 

Trong lúc đó, ở trong nước, vua Quang Trung bắt tay vào việc xây dựng đất nước, ông khuyến khích dùng chữ Nôm, bỏ chữ Hán. Ông cho chia lại ruộng đất, và huấn thị hàng ta tự làm tự tiêu dùng, không tiêu dùng hàng hóa phương Bắc (Trung Quốc). Kinh tế nước nhà càng phát triển. 

 

Trong giai đoạn nước sôi lửa bỏng. Phía Bắc bị đe dọa bởi Càn Long, và đám tàn dư của Lê Chiêu Thống, phía Nam Nguyễn Ánh quyết tiêu diệt nhà Tây Sơn không chừa một thủ đoạn nào, phía Tây có sự quấy nhiễu của Xiêm La, Chiêm Thành. Vua Quang Trung bốn bề thọ địch. 

 

Trong lúc đó thì Thế tổ Cao hoàng Nguyễn Ánh đã lấy lại được Gia Định và chiếm Bình Thuận, Bình Khang, Diên Khánh. Thanh thế chấn động đe dọa đến vua Quang Trung. Xét thấy đất nước rối ren, và quân Nguyễn Ánh là mối đe dọa to lớn. Việc hòa hoãn với nhà Thanh lúc bây giờ là việc nên làm. Vua Quang Trung nghĩ đến lời đề nghị của Càn Long 2 năm về trước, khi Phạm Công Trị (Quang Trung giả) về nước khai bẩm rằng Cố Luân Hòa Hiếu công chúa, có nhan sắc, tính khí hơn người. Nếu Càn Long lật lọng xua quân sang đánh lần thứ hai thì vua Quang Trung đã có Cách cách công chúa làm con tin. Thấy lời đề nghị của Càn Long không có hại trước mắt, vua Quang Trung sai hổ tướng Võ Văn Dũng qua hỏi cưới Cách cách của Càn Long. Với điều kiện không phải cống nạp người bằng vàng như lệ trước và nhà Thanh phải đồng ý trả hai tỉnh Quảng Tây và Quảng Đông lại cho An Nam. Càn Long bằng lòng. Theo Càn Long, cũng như ý nghĩ của người Trung Quốc, "Quân tử trả thù mười năm chưa muộn". Huống chi việc "cấy" người trên đất An Nam là một việc nên làm. Hy sinh một công chúa để làm bá chủ thiên hạ thì đúng là thả con tép bắt con tôm. Càn Long nói với đại thần trung tín trong triều. Công chúa của nhà Thanh lấy Quang Trung, sau này sanh rồng, thì với thế lực hùng mạnh, bằng mọi cách, Càn Long cũng lập con công chúa Mãn Thanh, tức cháu ngoại mình làm An Nam Quốc Vương. Không sớm thì chày, An Nam cũng sẽ thuộc về nhà Thanh (Trung Quốc). Cả triều thần ngơ ngác, xem quyết định của Càn Long là không đúng. Nhưng vị quan Đại Thần thân tín của Càn Long lại hiểu ý Hoàng đế của mình hơn ai hết. 

 

Ngọc Hân nghe nói rất đau lòng. Nhưng vì vận mệnh quốc gia, Ngọc Hân đành giấu lệ. Một hôm ở điện Đan Dương, trời bắt đầu chuyển thu, lành lạnh. Vua Quang Trung đang ngồi trong thư phòng làm việc, bỗng có một cơn gió thổi tốc vào. Vua cảm thấy ớn lạnh, chóng mặt. Nhà vua hoa mắt nhận ra có một ông lão râu tóc bạc phơ đang cầm gậy đánh vào đầu mình. Rồi biến mất như một làn khói. Vua ngã xuống, hôn mê bất tỉnh. Triều thần vội vã vơ lấy chiếc áo bào Càn Long tặng ngày trước được máng gần đó, khoác vào người Vua Quang Trung rồi dìu vua đến long sàn. Người vua ướt đẫm mồ hôi. Thấm vào chiếc áo bào. Ngọc Hân sai ngự y chẩn bệnh và sắc thuốc cho vua uống. Khi thuốc đã xong, đợi cho nhà vua tỉnh giấc, đích thân Ngọc Hân cho vua uống thuốc. Trán vua vã mồ hôi hột. Ngọc Hân lo lắng hỏi ngự y:

 

"Hoàng thượng bị bệnh gì vậy?"

 

Ngự y vội vã trả lời. Vua vì việc nước, ngày lo trăm việc nên sức khoẻ suy yếu. Hạ thần thiết nghĩ, cho long thể được nghỉ ngơi vài ngày chắc là không sao."

 

Nhà vua khoát tay. Ta vừa thấy một ác mộng. Nói xong, vua bèn kể việc thấy một lão ông râu tóc bạc phơ vung gậy gíáng vào đầu ông rồi biến mất. 

 

Đã qua hai ngày, bệnh tình vua Quang Trung lại không thuyên giảm. Ngọc Hân cho truyền mọi danh y trong nước đến chữa bệnh cho ngài. Nhưng tất cả mọi người lại quên chiếc áo bào Càn Long tặng vẫn còn trên mình vua. Ai cũng nghĩ đó là chiếc áo thích hợp để ngự hàn. Có biết đâu, chất độc trong chiếc áo đã thẩm thấu theo mồ hôi của vua vào trong long thể. 

 

Biết thấy mình không qua khỏi. Trong cung điện Đan Dương, Trước khi hấp hối vua Quang Trung trối trăn với Trần Quang Diệu, phải mang Thái tử Quang Toản về Phượng Hoàng Trung Đô ở Nghệ An:

 

"Sau khi ta mất rồi, phải trong một tháng lo chôn cất sơ sài cho xong việc mà thôi. Các người phải phò Thái tử ra Vĩnh Đô để khống chế thiên hạ. Nếu không, khi quân Gia Định kéo ra, các ngươi không còn chỗ chôn thây đấy." (3)

 

Vua Quang Trung còn căn dặn triều thần không được để lộ việc chôn cất ở đâu; khi báo tin với nhà Thanh thì cố tình giấu nhẹm địa điểm chết ở Phú Xuân, mà nói là chết ở Nghệ An. 

 

Trong khi đó, Hổ tướng Võ Quang Dũng vừa bàn xong chuyện với Càn Long thì được mật báo vua Quang Trung đã băng hà. Võ Quang Dũng khóc thầm trong lòng và vội vàng từ biệt Càn Long, nói là về sớm để hồi báo Vua Quang chuẩn bị ngày lành tháng tốt qua rước Cố Luân Công Chúa. Trên đường về, Hổ tướng Võ Quang Trung lòng đau như dao cắt.

 

Mấy tháng sau, Càn Long mới biết tin vua Quang Trung băng hà. Ông liền đập gậy rồng xuống sàn nhà, quát lớn:

 

"Tại sao bẩm cáo cho Trẫm muộn màng như thế?"

 

Rồi Càn Long bấm độn ngón tay, xong phá ra cười khoái trá:

 

"Đúng như ta dự tính, hắn chết năm Nhâm Tý."

 

Ngay sau đó Càn Long sai sứ thần của nhà Thanh là Thành Lâm sang điếu tang, cùng một đoàn tùy tùng, trong đó trà trộn những tên địa lý thượng thặng do Càn Long bố trí đi theo. Phải phá cho bằng được long mạch của đất An Nam. Phái đoàn sứ nhà Thanh bị ngăn cản. Triều đình Tây Sơn đưa Thành Lâm cùng bầy đoàn đến Nghệ An. Nhưng Thành Lâm không tin đòi phải đẫn cho bằng được vào Phú Xuân. Cuối cùng, triều đình Tây Sơn phải đưa sứ Thành Lâm và bầy đoàn đến Phú Xuân. Ở đây, không ai biết được mộ thật của vua Quang Trung ở chỗ nào. Ngôi mộ mà Thành Lâm đến chỉ là một ngôi mộ giả do vua Quang Trung đã toan tính trước.

 

Chiếc áo ngày xưa Càn Long ban tặng cho vua Quang Trung, bây giờ triều thần mới hiểu được toàn ý, nó như một lời nguyền, một câu bùa chú của Càn Long đã cho người yếm lên đó. "Xa tâm chiết trục, đa điền thử" nghĩa đen là: "Bụng xe gãy trục, nhiều chuột đồng". Chữ Xa và chữ tâm hợp lại thành chữ Huệ - tên vua Quang Trung. Chuột thuộc về Tý, ý nói năm Tý vua Quang Trung chết.

 

Triều thần trong triều đều cho rằng Vua Quang Trung đã bị Ngọc Hân cho uống thuốc độc vì ghen tuông. Cũng có người ác miệng hơn, đồn thổi rằng Ngọc Hân đầu độc vua Quang Trung để lấy Nguyễn Ánh (vua Gia Long). Nhưng tội cho công chúa Ngọc Hân. Trăm dâu đổ đầu tằm. Không biết phải than oán cùng ai chỉ biết kể lể trong bài văn tế "Ai Tư Vãn".

 

Ngoại Truyện:

 

Vua Quang Trung mất ngày 16 tháng 9 năm 1792, ông mất đột ngột lúc mới 40 tuổi. Ngọc Hân than khóc ông trong bài văn tế "Ai Tư Vãn", một trong những bài văn Nôm đẹp nhất.

 

Lê Chiêu Thống thì bị chết trên đất khách quê người (Yên Kinh, Trung Quốc)  năm 1793 (sau vua Quang Trung khoảng 1 năm), lúc ông chỉ mới 28 tuổi. Hài cốt được đưa về Việt Nam vào năm 1804 và chôn cất ở làng Bàng Thạch huyện Lôi Dương, (nay là xã Xuân Quang, huyện Thọ Xuân (Thanh Hóa), nơi quê cha đất tổ của ông.

 

Cố Luân Hòa Hiếu Công Chúa (Hoàng Thập Nữ) sinh ngày 2 tháng 2 năm 1775. Sau khi vua Quang Trung băng hà, công chúa hạ giá lấy Phong Thân Ân Đức, con trai của đại thần Hòa Thân và mất năm 1823, lúc đó Cố Luân công chúa chỉ mới 42 tuổi.

 

Càn Long Sinh ngày 25 tháng 9 năm 1711 và chết sau vua Quang Trung khoảng 7 năm (ngày 7 tháng 2 năm 1799). Thọ 88 tuổi.

 

Việt Phương

 

Cước chú:

 

(1) và (2) Ngô Gia Văn Phái - Hoàng Lê Nhất Thống Chí - Hồi thứ 14

(3) Đại Nam Chính biên liệt truyện

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 1797)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20262:56 SA(Xem: 1335)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 1927)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 1632)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 1958)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 1856)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
23 Tháng Tư 202611:15 CH(Xem: 1719)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 202610:39 CH(Xem: 1537)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 20269:06 CH(Xem: 2316)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
23 Tháng Tư 20264:50 CH(Xem: 2463)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9470)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16308)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15280)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15655)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 1796)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 1926)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 1958)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
23 Tháng Tư 20269:06 CH(Xem: 2314)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 4379)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 6191)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 5518)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
(Xem: 6118)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 1631)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 1856)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
23 Tháng Tư 20262:19 CH(Xem: 2042)
Xe lăn bánh, bụi mù mịt xóm Chùa. Tôi nhìn theo cái xe biển xanh của Thuận, vừa buồn cười vừa thấy lòng nhẹ nhõm. Thuận có làm đến bộ trưởng thì cái tính khôn lỏi, dỗi dai và cái kiểu "anh anh em em" nửa đùa nửa thật để rồi dúi vào tay người khác cái chổi quét nhà, con dao băm bèo, thái khoai chắc cũng chẳng bao giờ bỏ được. Mà thôi, cái làng Đá này nếu thiếu một thằng Thuận cứ thích bĩu môi, thích mắng người khác là "ngu lắm cơ" rồi nguây nguẩy cái mông quay mặt đi cười thầm thì chắc cũng chẳng còn chuyện hay ho gì để mà kể.
19 Tháng Tư 202611:05 CH(Xem: 1919)
Biển Nha Trang có những ngày lặng gió. Nước trong xanh. Nhưng cái lặng ấy không phải lúc nào cũng bình yên. Có những cơn sóng được giấu rất sâu. Cuộc đời Thục Nhi cũng vậy.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1719)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1536)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1731)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 1717)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 12486)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 28693)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35237)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
07 Tháng Năm 2021(Xem: 35111)
...một thập kỷ gian nan của nông dân Dương Nội qua cuộc trò chuyện với anh Trịnh Bá Phương - một trong những người có mặt từ đầu - đã góp phần không nhỏ trong nỗ lực xây dựng sự đoàn kết đấu tranh dai dẳng của bà con. Mong rằng chúng ta sẽ học được nhiều điều từ họ, những người mà nhà thơ Hồng Nguyên gọi là “Áo vải chân không đi lùng giặc đánh”.
(Xem: 10010)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 12084)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 1334)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 1926)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 2314)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 2463)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 2852)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 7134)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 6545)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 8566)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.