- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

ALAIN ROBBE- GRILLET TÁC GIẢ TIỂU- THUYẾT- MỚI

15 Tháng Tư 20248:23 SA(Xem: 27745)
Boy - Vcl 2012

‘Thằng Nhỏ / Boy’ Khổ 12’X16’ trên giấy cứng.
Acylics+ Pigment+ Oilstick. Vcl 2012.

 

 


ALAIN ROBBE- GRILLET TÁC GIẢ   TIỂU- THUYẾT- MỚI

Tu le sauvas peut-être un jour.

JPS (1)
Võ Công Liêm

 

     Thế nào gọi là tiểu-thuyết-mới (Nouveau Roman). Đó là câu hỏi của những người chuyên viết về tiểu thuyết và những người thường đọc tiểu thuyết.

Giữa hậu bán thế kỷ XX; một phong trào văn chương thuộc thế hệ trẻ Pháp như Alain Robbe-Grillet, Michel Butor, Claud Simon, Jacque Derrida, Nathalie Sarraute, Pierre Bourdier…được tung ra giữa “thị trường” văn học thời ấy vào đầu thập niên 1962,cái gọi là Tiểu-Thuyết-Mới, lập tức phong trào nầy được khám phá ngay, không những ở Pháp mà ngay một vài nước khác trên thế giới,Việt Nam ta cũng chịu ảnh hưởng phong trào thời thượng lúc đó, kể cả bộ môn nghệ thuật khác, tuy không rực rở nhưng đã hội nhập được với trào lưu thời bấy giờ…

 

Trong số những nhà văn nầy ; Alain Robbe-Grillet (*) nổi tiếng là một trong những người dẫn đầu “Nouveau Roman”Tiểu-Thuyết-Mới có một văn phong khác lạ từ tư tưởng cho đến hành văn ; từ đó tạo nên tiếng vang lớn trong giới văn nghệ sĩ cũng như tạo nên một cuộc cách mạng văn học và là nền tảng của phong trào tiểu-thuyết-mới cho hôm nay và ngày mai. Tiểu thuyết của Robbe-Grillet mang tính chất khám phá, tìm hiểu hay có khi tọc mạch, chất vấn để đi sâu vào sự kiện hơn là đặt vấn đề. Ông đưa tiểu thuyết của mình vào cái trạng thái đầy mâu thuẩn và chối bỏ mọi lề thói, khuôn thước từ chương. Qua nhiều tác phẩm khác nhau, người đọc tìm thấy ở A.R-Grillet như một tác giả của siêu hình, ẩn dụ và gần như tạo nên một huyền thoại khác cho người đọc bằng những chi tiết đầy phức tạp mà tác giả không một lời giải thích hay biện minh qua từng nhân vật trong truyện. Đó là phong cách sáng tác cũng như chủ đích của tác giả chứa đựng trong nội dung của tác phẩm.

Alain Robbe-Grillet cho rằng tiểu-thuyết-mới không phải là một tiểu thuyết định hướng cho một khuynh hướng văn học mà điều quan trọng là vận dụng được một hình thức mới lạ cho tiểu thuyết đó là cơ hội diễn tả được những tương quan giữa con người và vũ trụ giới. Những gì xưa cũ của tiểu thuyết dần dà sẽ thoái hóa, nói rõ hơn, tiểu-thuyết-cũ đã trở thành lập ngôn hơn là sáng tạo và tạo nên những tác hại khác giữa vô lý và vô bổ, ảnh hưởng cho việc sáng tác văn chương mà mất dần tính sáng tạo trong văn chương, vô tình; người viết biến mình là đạo văn, thợ viết, lạc hướng của ngôn ngữ và mất luôn tính chủ động của nhà văn. Robbe-Grillet coi trọng ngôn ngữ sáng tạo; có lẽ điều đó không xa với nhà ngữ học Pháp:” chính ngôn ngữ sáng tạo ra tư tưởng” Ferdinand de Saussure.

 

Tiểu-thuyết-mới không lý giải ý nghĩa của thực tại, mà tìm ra được những ý nghĩa riêng biệt của nó. Không còn biên giới của sự thể, không băn khoăn về nội dung diễn tả, cũng chẳng cần đến qúa khứ, chẳng siêu hình, chẳng đạo đức và cũng chẳng cần đến thời gian và không gian mà cốt tủy là đem lại cho người đọc sống cùng với những diễn biến xẩy ra trong câu chuyện.

Tiểu-thuyết-mới đóng vai trò của người kể chuyện, trước sau gần như việc tường thuật; đôi khi nhân vật không rõ lý lịch, nghĩa là không có tên của vai trò, chẳng cần phải xuất xứ từ đâu, giàu hay nghèo, thuộc xã hội nào, mất luôn cả thời gian lẫn không gian, tất cả rơi vào cõi vô định. Alain Robbe-Grillet là người không ưa lối từ chương tích cú, bản thân ông sợ những chính kiến đó có thể đưa tới thói quen trong văn chương, một thể tính văn chương hư hoá. Quan niệm võ đoán như thế đã đưa lại sự phản kháng mảnh liệt ở Pháp, ngược lại ở hãi ngoại ông lại được ngợi ca và cổ vũ (báo Le Monde).

Ông được mệnh danh là nhà văn của mâu thuẩn và nghịch lý. Alain Robbe-Grillet cho rằng tất cả là vô nghĩa, chẳng phải là “có lý” hay “vô lý” chỉ có sự hiện hữu của con người đối diện với vật thể là chính yếu, ông cũng chẳng phải thắc mắc giữa có và không, giữa vắng mặt và có mặt. Vì rằng; những lề thói đó A.R-Grillet cho là sự trì trệ và khuôn thước đã làm mất tính tự do trong khi viết. Ấy là thứ ngôn ngữ mới của Grillet mà mỗi nhà văn thể hiện cách viết riêng cho mình.

Thế giới của Alain Robbe-Grillet là thế-giới-tự-nhiên và thế-giới-sự-vật; giữa hai thế giới đó không tạo thành một không gian khách quan mà là một không gian sống thực, không gian theo sự hiểu biết, cảm xúc của con người, nghĩa là không gian trong tầm xử của con người. Cho nên; không gian sống động là không gian của con người  đó là thứ tiểu-thuyết-mới biểu lộ được những quan niệm khác nhau giữa cũ và mới.Thường thường tiểu-thuyết-cũ đều bắt đầu bằng lối tả cảnh, xây dựng như một dàn cảnh mà điều đó chẳng kết nối câu chuyện muốn nói đến và cũng chẳng ăn nhập vào đâu hay cần thiết cho câu chuyện sắp kể trong truyện.Vì thế cái thế giới bên ngoài của không gian sống thực đã biến thành không gian nội tâm, vì nhà văn thu hút tất cả vào trong ý thức để xây dựng một vũ trụ riêng mình. Như cuốn “Les Gommes” (Những Cục Tẩy) cũng như “La Jalousie” (Ghen); đưa độc giả vào một khung trời mờ mịt, hụt hẳn để rồi nói lên cái không tưởng của nhân vật ảo. Đến cuối đời ông viết thêm cuốn” Un Roman Sentimental” (Tiểu Thuyết Tình Cảm) với lối miêu tả cực kỳ dục tính, cách giao tình của những người loạn luân cũng như những kẻ đồng tính, đó là điều mà những nhà phê bình cho Robbe-Grillet đã qúa “erotic” khiêu dâm trong văn chương một cách thái qúa, thực ra không phải là khiêu dâm, mà ông cho đó là vật thể giữa con người trao đổi với nhau qua những hình thức luyến ái mà không mang nặng nội dung dục tính của câu truyện. Alain Robbe-Grillet coi tiểu-thuyết-mới như một sáng tác vượt thoát ra khỏi mọi định kiến cố hữu,không còn biên giới giữa người viết và người đọc mà trọng tâm là tạo nên một không gian khách quan để biến hình vào trong không gian nội tại (espace intérieur); đó là một thức tỉnh nội giới biến cái nhìn sự vật như đã bị nội tâm hóa để dể bề khám phá được ý nghĩa cuộc đời, có thể đảo lộn cả một quan niệm về cuộc đời khi nó trở thành trung tâm của một kinh nghiệm nhận thức.Tuy nhiên vẫn có một mặt trái của sự vật đó chính là không gian đối nghịch, không còn là một không gian quen thuộc.Tất cả những nhà văn mới đều coi con người là trọng tâm của truyện, thế giới bên ngoài,thế giới bên trong là tùy thuộc của con người…

Ngược với trào lưu; Alain Robbe-Grillet cũng như Nathalie Sarraute quan niệm con người hầu như lệ thuộc vào thế giới sự vật, ý thức tự nó như tan biến vào sự vật. Do đó điểm nổi bật ở đây là thế giới đồ vật; chẳng hạn nói đến cái bàn, căn phòng, thành phố, hòn đảo…và những nhân vật không nhân dáng, hình thể đều được sắp xếp trong lý tính không có trong đời thường mà trọng tâm của tiểu-thuyết-mới là mô tả vật giới như vừa có sự hiện diện của con người nằm trong cái không gian ấy. Điểm đặc biệt của tiểu-thuyết-mới là sự từ chối nhân vật. Đọc tiểu thuyết; theo tác giả nhìn bằng con mắt qua sự vật, cảnh vật xung quanh. Cái nhìn đó là hiện hữu không phải xử dụng bằng thị giác mà lãnh hội được một cách sáng suốt ở ngoại giới, cái nhìn nội giới là cái nhìn sự vật như một nhận xét chi tiết chứ không phải cái nhìn thoáng qua mà phải có cái nhìn chiều sâu, tỷ mỷ và chú tâm về cái bên ngoài của sự vật bằng con mắt thật. Lí lẽ như thế cho nên đời gọi Robbe-Grillet là nhà văn thuộc trường-phái-nhìn.

Từ quan niệm đó; tiểu-thuyết-mới của R-Grillet không còn chú trọng đến nhân vật hay bố cục của câu chuyện mà chỉ nhấn mạnh về sự tiếp cận với thế giới vật thể.Tiểu-thuyết-mới nhằm mô tả con người chưa tới giai đoạn hình thành và thế giới bên ngoài chưa hẳn tùy thuộc của con người.Vậy đâu là mục tiêu để mô tả hiện tượng luận về tiểu thuyết(?) Nói cách khác, quan niệm về cuộc đời bao hàm trong tiểu thuyết là kỷ thuật diễn tả; vì thế nhà văn có những thể cách khác nhau để biểu lộ những cuộc đời khác nhau.J.P.Sartre đã nói: ”Mọi kỷ thuật tiểu thuyết đều đưa về một siêu hình học của tác giả” (Tout technique romanesque renvoie à une métaphysique du romancier). Có được cái nhìn như thế về cuộc đời thì xử dụng cách diễn tả mới sáng tỏ khuynh hướng của mình muốn nói.

 

Truyện của Alain Robbe-Grillet không có gì cầu kỳ, bí hiểm; ngược lại càng đọc càng thấy đơn giản, không chắt lọc, diễn tả ít ỏi, không có những nhân vật sống động, những khung cảnh trử tình, trái lại; càng đi sâu vào tác phẩm của ông ta tìm thấy được những nhân vật nghèo nàn và sự vật nổi bật hẳn ra.

-Trong cuốn “Les Gommer” (Những Cục Tẩy 1953) nhân vật chính của truyện là một thám tử điều tra, khám xét, hỏi cung…như là bổn phận phải thi hành và báo cáo với cấp trên. Nhưng từ cuối câu chuyện, viên thám tử đang còn trong vòng điều tra kẻ sát nhân, thì oái ăm thay chính viên thám tử là kẻ sát nhân…Truyện nầy Robbe-Grillet viết với một phong cách mới lạ từ ý tưởng đến hình thức, đi ngược lại với phuơng cách xây dựng tiểu thuyết truyền thống, tiểu thuyết của ông đã thay đổi nhận thức và định nghĩa một cách phong phú của những vật thể thiên nhiên.

-Trong cuốn “Dans Le Labyrinthe” (Trong Cơn Mê 1959) cả hai cuốn tiểu thuyết nầy,tác giả đưa người đọc lạc bước vào một khu rừng tăm tối,những con đường rối chịt như tơ vò không lối thoát không biết đâu là đường thoát thân;người đọc rơi vào cảm giác “mê lộ”mà chủ đích của tác giả không để cho người đọc có lối về nhưng đưa độc giả lạc và mất hút vào trong truyện. Những hình ảnh và sự vật để lại cho độc giả một sự ước đoán và suy ngẫm. Trở lại với”Les Gommer”:”cuối cùng mới khám phá ra rằng viên thám tử kia đã bắt và giết nhầm người, tưởng là thủ phạm hoá ra kẻ sát nhân đó chính là con của mình”.

-Truyện”Le Voyeur”(Kẻ Dòm Trộm 1955)cũng theo một lối xây dựng tương tợ,xoáy quanh một vụ sát nhân(homicide)khác mà mọi dữ kiện đều là nghi ngờ,dự  ước,lời đối thoại không đi sâu vào câu chuyện để phân tích hoàn cảnh mà độc giả không bao giờ được biết rõ và ngay cả tác giả cũng không giải thích cụ thể khía cạnh tâm lý : …Nhân vật Mathies một người bán đồng hồ trên đảo bị nghi ngờ là sát nhân và hành động sát nhân đó cũng không nói rõ là do nguyên nhân nào, trường hợp nào đưa tới giết người. Đọc cuốn nầy người ta thấy được cái mâu thuẩn nghịch lý, thế mà được trao giải thưởng của những nhà phê bình chọn lựa là giải Critics Prize (1955) Đó là lý do làm cho Alain Robbe-Grillet sáng danh trong thể loại tiểu-thuyết-mới và giòng văn học của thế kỷ XX nầy.

-Truyện “La Jalousie” (Ghen)là cuốn tiểu thuyết nổi bật của A. Robbe-Grillet, truyện viết về một nhân vật chính không có tên gọi mà cũng chẳng thấy xuất hiện trong truyện. Mở đầu truyện; tác giả có xin độc giả hiểu như sau:” nhân vật nầy không có tên xưng hô, mặt mày chẳng thấy ra làm sao cả. Nó là một trống không giữa cuộc đời này. Một chỗ trống ở giữa các đồ vật. Nhưng mọi con đường khởi thủy từ NÓ và kết thúc cũng ở TỪ NÓ. Cái chỗ trống đó; cuối cùng trở nên cụ thể, vững chắc cho câu chuyện. Khung cảnh  của cuốn “La Jalousie” nói về một đồn điền trồng chuối ở vùng nhiệt đới, một người đàn bà có chồng, ngoại tình với người hàng xóm quen biết nhau trong gia đình, có những cử chỉ khả nghi mà người chồng biết được; tất cả những điều đó được tác giả miêu tả kỷ càng, tỷ mỷ từng chi tiết cho người đọc có thể nhìn thấy, nhưng người chồng, nhân vật chính không thấy xuất hiện, người chồng chỉ xuất hiện ở ”chỗ trống” và người chồng đó không bao giờ xử dụng danh từ ngôi thứ nhất ”je/moi/tôi” mà chỉ là ý niệm(conception)của sự có hay sự vắng mặt của người đàn ông như sự kiện giữa ảo và thực.Tác giả không đặt ta đứng trước một người ”ghen” để quan sát những cử chỉ,hành động. Nhưng đứng trước một cái ghen như thế người đọc đoán được mỗi sự cố xẩy ra, cách lắp ráp những đồ vật được mô tả trong câu chuyện mà nhận biết. Lối hành văn và bố cục câu chuyện của A. Robbe-Grillet là đưa độc giả vào sự khám phá hơn là xây dựng mạch lạc của câu chuyện. Đọc truyện của ông viết nên hiểu cái chiều sâu trong truyện hơn là đặt vấn đề khúc chiết…Tiểu-thuyết-mới của Alain Robbe-Grillet là thế đó!

 

Theo quan niệm của Alain Robbe-Grillet về tiểu-thuyết-mới là nhằm tẩy rửa, gạt bỏ những ý nghĩ, cảm xúc mà con người đã gán cho sự vật. Sự vật trước cái nhìn của con người thường chứa đựng những tính chất nhân loại. Thái độ ấy là một thái độ chiếm đoạt để xử dụng sự vật hoặc để thưởng thức; sự vật mất đi ý nghĩa tự tại, vì nó chỉ còn lại “sự có” (have/avoir)” của đến và đi” đó là sự hiện hữu duy nhất mà thôi!

Tiểu-thuyết-mới của A. Robbe-Grillet “thiếu chiều sâu”. Đúng! đó là đặc điểm cốt tủy trong tiểu thuyết của ông. Tiểu -thuyết-cũ bao giờ cũng khai thác chiều sâu, chiều sâu xã hội, chiều sâu tâm lý, triết lý.A. R-Grillet không nhìn người, vật với đôi mắt tra hỏi của một ông quan tòa mà với đôi mắt bình thường như một người đi ngoài đường, chỉ thấy độc một cảnh tượng là phố xá với tất cả cái vẻ bề ngoài không hơn không kém. Chủ đích của Robbe-Grillet là phản kháng lại quan niệm thần-thánh-hóa tiểu thuyết, trong đó người và vật là nạn nhân của nhà văn. Tác giả phản ứng thái độ bi đát của cuộc đời trong các nhân vật mà tiểu-thuyết-cũ đã dựng lên…ông chủ trương thái độ khách quan, vô tư để xây dựng một tiểu thuyết hiện thực.

 

Alain Robbe-Grillet đã mạnh dạn phủ nhận mọi chiều sâu của sự vật, lạm dụng trong việc chiếm đoạt sự vật nhưng vấn đề quan trọng trong tiểu-thuyết-mới; có phải vì thế mà xóa bỏ sự tiếp xúc hay chỉ xóa bỏ sự lạm dụng để tìm thấy những tương quan đích thực? Ông cho rằng vị trí của con người trong tiểu-thuyết-mới không phải là ở trong những sự vật được diễn tả mà nằm trong sự chuyển động của sự diễn đạt, ấy là sự khát khao của văn-chương-mới. Cho nên cái sứ mạng đó như một vai trò của nhà văn là người biết khám phá để thử nghiệm một cảnh sống toàn vẹn và mới mẻ mà sự hoài nghi và chối bỏ vẫn là xiềng xích, ràng buộc tư duy của con người. Đó là những gì người đọc có thể nêu lên khi đi vào tiểu-thuyết-mới của Alain Robbe-Grillet.

Ngày nay; những tiểu-thuyết-mới của ông cũng như những nhà văn cùng trường phái đều có chỗ đứng vững chắc và được thừa nhận như những nhà văn đương đại của thế kỷ. Đặc biệt hơn nữa đối với văn học thế giới cũng như văn hóa Pháp; tạo được cho người đọc cũng như người viết một ý thức về sáng tạo của văn chương, ngoài ra còn khai thác triệt để lối viết mới một cách sáng sủa hơn và lý giải nguồn sáng tạo vô biên của tiểu-thuyết-mới cho hôm nay và ngày mai./.

 

VÕ CÔNG LIÊM
(đầu năm 2010)

 

(1)” Một ngày nào đó bạn sẽ hiểu” Jean-Paul Sartre (1905-1980)

(*) Alain Robbe-Grillet.Sanh ngày:18/8/1922 tại Brest (Pháp) Chết:18/2/2008 tại Caen (Pháp)

Có tên trong Viện Hàn Lâm Pháp (1961) Ông để lại nhiều tác phẩm cũng như phim ảnh có giá trị:

-Les Gommes (1953)

-Les Voyêurs (1955)

-La Jalousie (1957)

-Dans Le Labyrinthe (1959)

-Pour Un Nouveau Roman (1961)

-Un Roman Sentimental (2007)

Đạo diễn phim :

-L’immortelle

-Trans Europe Express

-L’homme Qui Ment

SÁCH ĐỌC :

-Xây Dựng Tác Phẩm Tiểu thuyết (Gs Nguyễn Văn Trung) NXB Tự Do.Huế 1962.

-Danh Nhân Thế Giới.NXB: Văn Hóa Thông Tin-Tp HCM.Việtnam 12/1998.

- A Roman Sentimental. Landoll, Inc 2007 USA.
Tranh Vẽ: ‘Thằng Nhỏ / Boy’ Khổ 12’X16’ trên giấy cứng. Acylics+ Pigment+ Oilstick. Vcl 2012.

                                            

                                                                                  

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 854)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 904)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
05 Tháng Sáu 20262:52 CH(Xem: 747)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
05 Tháng Sáu 20262:02 CH(Xem: 666)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 2968)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20262:56 SA(Xem: 1897)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 2803)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2349)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 2737)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 2510)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9756)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16599)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15603)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16030)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 904)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 2968)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 2803)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 2737)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
(Xem: 747)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
(Xem: 4999)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 6874)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 6162)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 854)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2349)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 2510)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
23 Tháng Tư 20262:19 CH(Xem: 2747)
Xe lăn bánh, bụi mù mịt xóm Chùa. Tôi nhìn theo cái xe biển xanh của Thuận, vừa buồn cười vừa thấy lòng nhẹ nhõm. Thuận có làm đến bộ trưởng thì cái tính khôn lỏi, dỗi dai và cái kiểu "anh anh em em" nửa đùa nửa thật để rồi dúi vào tay người khác cái chổi quét nhà, con dao băm bèo, thái khoai chắc cũng chẳng bao giờ bỏ được. Mà thôi, cái làng Đá này nếu thiếu một thằng Thuận cứ thích bĩu môi, thích mắng người khác là "ngu lắm cơ" rồi nguây nguẩy cái mông quay mặt đi cười thầm thì chắc cũng chẳng còn chuyện hay ho gì để mà kể.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2230)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2057)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2214)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 2258)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 666)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 13204)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 29227)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35565)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 10518)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 12420)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 1896)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 2803)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 3047)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 3103)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 3851)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 7552)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 6916)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 9441)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.