- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

NGƯỜI VIẾT SỬ

24 Tháng Mười 202311:00 CH(Xem: 33017)
CON DAO-INTERNET
Côn Đảo - ảnh Internet

NGƯỜI VIẾT SỬ

Truyện ngắn của Nguyễn Trường



Cạn mấy ly rượu mạnh với anh chủ khách sạn Huy Hoàng để xóa đi cái âm khí nặng nề ở nghĩa trang Hàng Dương, tôi loạng choạng trở về phòng, đóng sầm cửa lại, nằm vật ra giường, chìm ngay vào giấc ngủ. Tiếng gõ cửa làm tôi giật mình thức giấc. Cửa mở, cô gái có khuôn mặt trắng hồng, dáng thon thả, tha thướt trong bộ đầm dài bằng lụa màu mỡ gà; từ đôi mắt, hàng chân mày cho đến làn môi đều xinh tươi...

-Cô tìm tôi?

-Dạ, biển đẹp như vầy, anh ngủ làm gì cho phí, đi dạo với tôi nhé.

Chúng tôi tiến ra bờ biển. Gió lồng lộng, mát rượi, sóng biển vỗ bờ cát trắng rì rầm. Ngoài xa ánh đèn các con thuyền đánh cá thao thức, nhấp nháy khôn nguôi. Tôi hồi hộp lên tiếng:

-Làm sao trên đảo bé tí, chừng mười ngàn dân lại có một cô gái xinh đẹp ngần này?

-Thời của tôi, trên đảo chỉ có vài trăm người dân, chứ không đông như bây giờ.

Tôi thầm nghĩ, lúc có vài trăm dân, hẳn là thời Pháp thuộc. Vì thời chúa Nguyễn, trên đảo đã có vài ngàn dân, lập ra làng Cỏ Ống, An Hội và An Hải. Nhưng khi thực dân Pháp xây dựng thành nơi giam giữ tù nhân thì chúng di dân ba làng đó về đất liền, trên đảo chỉ còn lại gia đình các công chức làm việc cho chính quyền Pháp.

-Đúng như anh nghĩ, dân trên đảo lúc đó chủ yếu là gia đình công chức. Tôi là con của một công chức.

-À, ra vậy. Cô đúng là hoa khôi của đảo. Một người đẹp sống giữa nơi toàn bọn cai ngục lang sói, bọn Pháp ác ôn, chắc là khó sống nhỉ.

-Anh nói không sai. Nhưng chồng của tôi là tù trọng án.

- Đức lang quân của cô trong tù, cô quen anh ấy thế nào, yêu nhau bằng cách nào?

-Chuyện dài lắm….

Nói rồi cô gái nắm tay tôi kéo đi. Người tôi nhẹ bổng, lướt theo cô.

¶¶


Chỉ chớp mắt tôi đã đứng trước một vùng bờ biển mênh mông, vịnh Côn Sơn, vị trí của thị trấn bây giờ, nhưng khung cảnh rất hoang sơ, chưa có đường nhựa, chưa có nhà cửa sầm uất. Dọc bờ biển rải rác dăm ngôi nhà thấp lè tè, nghèo nàn. Các bóng đèn điện đỏ quạch, hắt ra thứ ánh sáng tù mù.

Trong ngôi nhà nhỏ gần bờ biển, một thanh niên dáng cao gầy, chắc khỏe, tóc cắt ngắn, mặc chiếc áo màu nâu đang dạy cho cô bé hơn chục tuổi viết chữ. Cô có hai bím tóc buộc đong đưa, khuôn mặt bụ bẫm; mặc áo hồng, cổ áo bồng bềnh ngộ nghĩnh. Chiếc váy màu trắng, cao trên đầu gối, phô cặp chân thon thả; báo hiệu cô sẽ là một thiếu nữ xinh đẹp trong tương lai. Tiếng cô gái thoáng nhẹ bên tai tôi:

-Cô bé đó là tôi, còn người thanh niên ấy là thầy giáo của tôi đó.

Vậy là chúng tôi về thời cô còn niên thiếu, dễ thương.

-Tôi là con gái một của gia đình công chức nên ba má tôi cưng chiều hết mức. Vậy mà tôi đã khóc không biết bao nước mắt vòi vĩnh, làm mình làm mẩy cả tuần lễ mới được ba má chấp thuận mời ông thầy đó đến nhà dạy học.

-Sao lạ vậy, ai chả muốn cho con được học hành?

- Lớn lên, tôi mới hiểu: Người thầy ấy đang là tù nhân bị đày ra Côn Đảo. Hồi đó tôi chỉ biết rằng người ấy có tuồng chữ quá đẹp. Tôi ao ước được ông thầy này dạy chữ cho. Ba má tôi đã phải bỏ ra khá nhiều tiền điều đình với xếp Chánh để đưa người tù ra ngoài, làm thơ ký ở ty Ngân khố. Chiều đến, lúc hết giờ làm việc, tôi đón thầy về nhà dạy học cho tôi. Học thầy, tôi hiểu thêm thầy không phải là người tầm thường. Thầy hoạt động trong tổ chức chống Thực dân Pháp. Tổ chức cần tiền để hoạt động, thầy đã tham gia vào “Làm kinh tế mạo hiểm” nghĩa là đánh cướp những gia đình kẻ ác ôn, bọn chủ đồn điền người Pháp. Thầy còn là một người có võ nghệ thâm hậu. Ngoài giờ học chữ, tôi nhõng nhẽo đòi thầy dạy võ, tôi mê nhất là môn đánh kiếm.

Trong căn nhà nhỏ, tiếng thầy giáo trầm ấm:

- Em học đánh kiếm để làm gì, là con gái nên lo học chữ nghĩa thì hơn.

- Em học để sau này lớn lên sẽ chém đầu Tây, vì chúng cũng sang cướp nước ta như giặc Đông Hán.

Thầy trừng mắt ra hiệu cô bé nói nhỏ lại kẻo cha mẹ cô nghe thấy. Tiếng thầy vừa đủ cho cô bé nghe:

- Từ nay em không được nói chuyện đánh Tây trong nhà này. Ba má em nghe được sẽ không cho thầy đến dạy em nữa.

-Vậy thì biết nói gì với thầy?

Thầy thì thầm:

- Buổi chiều, lúc em rước thầy, chúng ta vừa đi vừa nói chuyện.

Cô bé ngoan ngoãn gật đầu.

Cô gái tiếp tục dòng hồi tưởng: 

- Sau này thầy nói lại, rất ngạc nhiên vì tôi là cô bé sống trong gia đình công chức, cha mẹ ăn lương của Pháp mà con lại căm thù người Pháp. Nhưng ngày vui ngắn chẳng tày gang, năm 1936, mặt trận Bình dân Pháp lên cầm quyền, bọn Thực dân Pháp đưa thầy về đất liền, giam  thầy ở Hà Tiên, rồi Phú Quốc. Tôi đã phải xa thầy từ đó. Mãi đến đến năm 1942, thầy lại bị đày ra Côn Đảo. Năm 1945, tình hình thế giới có nhiều biến chuyển, Côn Đảo đã được giải phóng. Thầy được đưa từ Hầm Xay Lúa ra làm Tổng thư ký phụ trách mục Hương vị nguồn thơ cho tạp chí Tiếng nói tự do. Cha tôi lên làm Giám thị trưởng. Cô bé Hương ngày xưa được cử làm giáo viên lớp nhất kiêm luôn hiệu trưởng. Lúc đó chúng tôi mới được gặp nhau sau 9 năm xa cách. Hôm đầu tiên gặp tôi, thầy tròn mắt ngạc nhiên: “Cô bé Hương ngày xưa đây ư? Đã trở thành một thiếu nữ rồi, lại quá xinh đẹp!”. Tôi cười sung sướng vì được thầy khen. Tôi là hoa khôi của đảo là điều không phải bàn cãi, xung quanh tôi biết bao người xun xoe, khen nịnh, kể cả người Pháp nữa, nhưng lòng tôi dửng dưng. Trái tim tôi đã dành cho thầy, mặc dù biết chờ một người trọng án trong tù là vô vọng. Gặp thầy, tôi như được hồi sinh. Thầy vẫn vô tư, không biết trong lồng ngực cô thiếu nữ, trái tim đang thổn thức. Mãi rồi tôi mới có dịp thổ lộ tình yêu với thầy. Lần đó tôi đọc số tạp chí đầu tiên, mục Hương vị nguồn thơ có bài thơ của thầy, tựa là “Vịnh Hai Bà Trưng”. Bài thơ thật hay, nói về lòng yêu nước của Trưng Trắc, Trưng Nhị, dù là phụ nữ dám đứng lên đánh đuổi giặc ngoại xâm. Nhưng thầy bỏ trống hai câu kết như muốn hỏi: Ngày nay ai là người như Hai Bà Trưng? Tôi sực nhớ lại buổi đối đáp của tôi với thầy hồi còn thơ bé, lớn lên em sẽ như Hai Bà Trưng, cầm gươm giết Tô Định. Có phải thầy nhắc tôi về lòng yêu nước, tinh thần chống Pháp có còn như xưa? Tôi liền cắt trang tạp chí có bài thơ ấy và điền vào hai câu thơ còn bỏ trống thành ra câu kết bài thơ, ý nói rằng ngày nay, người đứng lên chống Pháp sẽ có em trong đó. Tôi gửi lá thư này đến cho anh.

Vì anh lớn hơn tôi những 17 tuổi nên hay mặc cảm, tôi phải chủ động như vậy.

Những lần gặp nhau, chúng tôi dành nhiều thời gian bàn cách trốn về đất liền cùng cầm súng đánh Tây. Anh đã bàn với một số đồng chí, đóng thuyền, mua sắm mọi thứ cần thiết cho chuyến vượt biển về đất liền. Nhưng không may, buổi xuất phát, thuyền của chúng tôi bị sóng đánh vào bãi đá, vỡ tan tành. Chúng tôi lại chuẩn bị cho chuyến đi mới, nhưng một biến cố trọng đại xảy ra. Chính quyền non trẻ tồn tại chỉ trong vòng 5 tháng, ngày 18  tháng tư năm 1946, giặc Pháp tấn công lên Côn Đảo. Chồng tôi bị bắt, lại quay lại cảnh tù đày, chính quyền thân Pháp lại trỗi dậy.

¶¶


Ngừng một lúc, cô gái quay sang tôi, nhỏ nhẹ - Chắc anh vẫn còn ngạc nhiên vì sao tôi lại rủ anh đi chơi giữa đêm khuya và kể chuyện tình cảm của chúng tôi cho anh nghe, đúng không? Số là chúng tôi biết anh là nhà văn, chồng tôi cũng là nhà văn, bút hiệu là Thành Ngọc, anh có từng nghe danh chồng tôi?

-Tôi không những nghe danh nhà văn Thành Ngọc, mà còn đọc mấy cuốn tiểu thuyết của anh ấy, những cuốn sách lên án tội ác của thực dân Pháp ở Việt Nam và bênh vực cho người nghèo khổ.

-Chính vì vậy nên chúng tôi mới mời anh ra đây gặp mặt.

Từ phía bãi biển, người đàn ông, dáng cao gầy nhưng khỏe mạnh thoăt thoắt đi về phía chúng tôi. Trông thấy tôi, anh bước nhanh đến, giơ tay ra bắt. Bàn tay to, chắc khỏe:

-Hương đã giới thiệu về tôi với anh rồi. Chúc mừng anh đến với Côn Đảo.

-Chào nhà văn, tôi đã đọc cuốn “Lời thề”,  “Duyên nợ” của anh.

Thành Ngọc tỏ ra ngạc nhiên, vui vẻ tiếp: Tôi cũng đã đọc mấy tác phẩm của anh. Tôi tâm đắc cách anh sử dụng tư liệu, dù có sắp xếp, có hư cấu nhưng không thay đổi bản chất sự việc đã xảy ra. Ồ, đúng như bà xã tôi nói, chúng ta có duyên tiền định.

Thành Ngọc kéo tôi ngồi xuống gốc cây dương đổ nghiêng giống chiếc ghế dài ở công viên. Cả ba chúng tôi cùng ngồi nhìn ra biển. Tiếng sóng ngoài kia thầm thì ca hát xen trong âm thanh vi vu đệm nhạc của hàng dương. Tiếng Thành Ngọc như gió thoảng:

- Tôi muốn nhờ anh chuyển đến mọi người một ý nguyện mà nếu không nói ra chắc là tôi sẽ ân hận mãi.

Thành Ngọc kể chuyện về anh, tôi tóm tắt như sau:

Hồi còn làm trong tòa soạn tạp chí Tiếng nói tự do anh có đăng mấy bài “Núi chúa là gì?”; “Sự tích bà cậu Côn Lôn” do anh sáng tác. Anh viết bài đó ở dạng lịch sử, nhưng vì để câu chuyện đi vào lòng độc giả, anh chọn góc nhìn duy tình …Xuất phát từ lòng yêu nước, căm thù bọn Pháp xâm lược mà viết. Căn cứ vào Đại Nam thực lục tiền biên do Quốc Sử quán triều Nguyễn biên soạn có đoạn: “Mùa thu, tháng 7 (1783) Nguyễn Văn Huệ nghe tin vua ở Côn Lôn, sai người đảng là Phò mã Trương Văn Đa đem hết thủy binh đến vây ba vòng, tình thế rất nguy cấp ...”, anh tưởng tượng ra chuyện Nguyễn Ánh chạy ra Côn Đảo, vua đóng trên đỉnh núi cao, cho khắc bàn cờ trên hòn đá để đánh cờ giải khuây với bộ hạ. Một đêm vua bàn với quần thần đưa hoàng tử Hội An, mới 7 tuổi làm con tin theo Bá Đa Lộc sang Pháp cầu viện. Chẳng may mẹ của hoàng tử là Phi Yến nghe được, bà nói với vua: “Việc nhà Nguyễn với nhà Tây Sơn là chuyện tranh chấp nội bộ trong nước, ta không nên cầu viện nước ngoài can thiệp vào, dễ di họa về sau, nếu giành thắng lợi thì cũng chẳng vẻ vang gì, chưa kể sẽ bị nước ngoài khống chế, không giữ được độc lập, chủ quyền, còn mang tiếng đến muôn đời sau”. Vua nổi giận cho rằng Phi Yến thông đồng với Tây Sơn, bắt xử tử bà, may có đô đốc Ngọc Lân cầu xin, nhà vua mới bớt giận cho giam Phi Yến vào hang đá bên kia Sở Đầm. Nghe tin quân Tây Sơn đang kéo ra đảo, nhà vua hạ lệnh lên đường. Vì để cho nhẹ, đi cho nhanh nên nhà vua ra lệnh chôn lại vàng bạc châu báu trên đỉnh núi. Dọc đường hoàng tử Hội An không thấy mẹ, kêu khóc. Nhà vua nóng giận, ném hoàng tử xuống biển. Chuyện còn có chi tiết con báo đen và con vượn trắng  được mẹ con Phi Yến nuôi nên rất trung thành đã cứu bà Phi Yến ra khỏi hang đá và tìm xác hoàng tử chôn ở chân núi. Còn bà Phi Yến ở lại với dân làng Cỏ Ống, làm  nhiều việc thiện giúp dân, khắp vùng ai cũng quý mến bà. Tên Biện Thi thấy bà có nhan sắc, nửa đêm lẻn đến định giở trò sàm sỡ. Bà tri hô, dân làng bắt tên Biện Thi xử trảm. Nhưng bà Phi Yến cũng cho rằng thân  bị ô uế nên gheo mình xuống biển tự trầm. Bà Phi Yến trở thành tấm gương yêu nước. Còn Nguyễn Ánh bị người đời nguyền rủa vì “Cõng rắn cắn gà nhà”, là người cha ác độc, mất nhân tính. Để bài viết có tính thuyết phục, anh đã dùng hai câu ca dao cổ để gán ghép vào hoàn cảnh của mẹ con bà Phi Yến. Muốn thế bà Phi Yến còn có tên là Răm, Hoàng tử Hội An có tên là Cải mới hợp với câu ca dao: “Gió đưa cây cải về trời/ Rau răm ở lại chịu đời đắng cay”.

Nhà văn Thành Ngọc thành thật: Tôi biết chuyện của tôi có nhiều điều vô lý... Lặng đi một lúc, nhà văn ngậm ngùi: Bài báo đã hại tôi. Sau khi Pháp chiếm lại Côn Đảo, chúng bắt tôi giam vào Hầm Xay Lúa, là nơi còn hơn địa ngục trần gian, phần lớn tù nhân giam ở đây bị “ngợp thở” mà chết trước khi bệnh lao kéo đến. Bọn Cò Út, Đoàn Công Thành là hai tên có thù với tôi, chúng âm mưu hãm hại tôi để trừ hậu họa. Chúng thẻ thọt với tên cò Pellier và cò Gimbert rằng Thành Ngọc là cháu mấy đời của vị cận thần vua Gia Long có giữ bản đồ kho vàng chôn trên núi Chúa. Chúng chứng minh với tên cò Pellier bài báo tôi viết có đoạn “Vừa nhốt xong bà thứ Phi Yến, bỗng có tin cấp báo: Quân Tây Sơn sắp tràn ra bao vây hải đảo. Chúa Nguyễn Ánh bèn tạm chôn một số vàng và ngọc ngà châu báu để lại trên đỉnh núi Chúa rồi tức tốc cùng đám tùy tùng đem cung quyến xuống mấy chiếc thuyền chạy ra đảo Phú Quốc”. Vốn tham, hai tên Cò Pháp tin là thật, chúng đưa tôi ra dỗ dành ngon ngọt, nếu tôi chỉ chỗ chôn kho báu, chúng sẽ chia cho tôi một nửa của cải khai thác được, đồng thời chạy giấy tờ cho tôi được tự do. Tôi sẽ có cuộc sống giàu sang. Dĩ nhiên làm gì có kho vàng. Tôi không chỉ ra được, chúng cho tôi tham, không chịu khai báo nên tập trung vào tra tấn tôi. Từ trò dùng cây ba trắc, roi gân bò đánh lên khắp người tôi đến dùng cây sắt nung đỏ, dí lên khắp người tôi. Chúng tra tấn tôi còn tàn ác hơn cả bọn cai ngục ở bót Catinat Sài Gòn hay bót Polo trong Chợ Lớn. Bọn tra tấn tù nhân với vai trò công vụ cũng khác bọn trả thù cá nhân đang tối mắt vì vàng bạc. Có bữa chúng còng hai tay tôi ra  phía sau rồi dùng túi ni lon trùm lên đầu tôi, thắt lại ở nơi cổ làm tôi ngộp thở ngất xỉu. Hễ tôi ngất đi, ngã xuống thì chúng lại tháo ra cho thở, được mấy hơi cho tỉnh rồi lại trùm túi ni lon lên đầu, tôi lại ngất xỉu, cứ như thế. Kiểu tra tấn này mệt vô cùng vì não thiếu ô xy nên đầu óc mụ mị đi, không còn nhớ gì nữa. Sau này ngoài bị thương tật do tra tấn, tôi còn bị bệnh hay quên vì kiểu tra tấn này làm chết rất nhiều tế bào não. Lúc tôi tỉnh lại vẫn nghe giọng đều đều của tên Cò Út: “Có khai không”. Tôi nghĩ, chúng mày bắt ông khai, thì ông khai đây. Tôi bảo chúng lấy giấy bút, tôi vẽ bản đồ để chúng đi mà tìm lấy. Tôi đã bị chúng tra tấn người mềm oặt như trái chuối chín rục, còn đi sao được. Tên Cò Út cả mừng vội đưa giấy cho tôi vẽ sơ đồ kho vàng chúa Nguyễn với nụ cười đắc thắng. Tên Đoàn Công Thành hỏi tôi “Nếu không đúng thì sao?” Tôi bảo chúng “Thì cứ về bắn tôi đi. Từ bàn cờ tướng của Nguyễn Ánh, nhìn về hướng đông mười thước, đào xuống hai mét sẽ gặp”. Bọn chúng tin là thật, sáng hôm sau đoàn của chúng gồm Gimbert, Cò Út, Đoàn Công Thành, cùng một toán rờ - sẹt cơm đùm cơm nắm hăm hở kéo nhau lên đỉnh núi Chúa. Bọn chúng bỏ ra ba bốn ngày đào xới, hì hục lật tung cả một vùng, chẳng thấy kho vàng đâu. Lúc đó bọn chúng mới biết tôi chơi trác. Dĩ nhiên là chúng căm giận tôi thấu xương. Nhưng tôi mặc kệ chúng, cùng lắm là tôi chết, mà chết đi còn nhẹ nhõm hơn sống bị tra tấn thảm khốc như thế này. Tên Gimbert cho người trói ké hai tay tôi về phía sau, kéo tôi lên khỏi mặt đất rồi thi nhau đấm đá. Khi thấy tôi không còn cục cựa mới hạ tôi xuống. Chúng không giết tôi chết vì còn sợ vợ tôi vốn quen biết nhiều người Pháp, cô ấy sẽ tố cáo chúng bên chính quốc.

Sau tên Cò Út lại thỏ thẻ với tên Gimbert: Hồi cuối năm 1945 Thành Ngọc đã đào kho vàng về giấu ở Sở Đầu Lâu, hắn ta đã thủ tiêu hết người đi đào vàng nên không ai biết.

Tên Gimbert lại tra tấn tôi, bắt tôi khai nơi chôn giấu vàng. Cái bi kịch của tôi là sự thật không có kho vàng, mà chúng lại tin là có, uy lực lại nằm trong tay chúng, nên tôi khai cũng chết mà không khai cũng chết. Nhiều lần tôi nói với chúng, chúa Nguyễn có chôn giấu vàng thật, nhưng khi đất nước thống nhất, chúa đã cho người ra thu về rồi, đâu còn để đến bây giờ. Nhưng tôi giải thích thế nào chúng cũng không tin. Tôi nghĩ thầm, nếu nói có chúng cho là không. Vậy thì hãy nói không, chúng sẽ cho là có. Quả nhiên thầy trò chúng lại tin là có, kéo nhau ra Sở Đầu Lâu đào bới cả mấy ngày nữa. Thất bại, nhưng lần này chúng không có cớ cay cú trả thù tôi vì tôi đã nói là không. Chỉ có tên Gimbert là bực mình, hắn trút hết sự tức giận lên lũ đệ tử ăn hại. Tuy vậy chúng còn hành hạ tôi một thời gian dài nữa vì cho rằng tôi giấu kho vàng để thủ lợi một mình.

Bỗng Hương lên tiếng:

- Lúc vô thăm nuôi ảnh, tôi không còn nhận ra ảnh nữa. Khắp người anh sưng vù, trông như con bê thui, mình mẩy đầy thương tích. Hồi nằm trong chồng cọp cũng không đến nỗi như vậy. Chúng đánh anh ấy mềm nhũn như trái dưa gang chín rục. Tôi vừa ứa nước mắt xót thương  anh vừa lẩm bẩm: “Sao anh lại phải khổ thế nầy”. Hồi bài báo của anh mới ra, tôi đã tranh luận với anh, không được nhân danh lòng yêu nước, căm thù giặc Pháp để viết bài bóp méo sự thật. Chợt thấy mình nghĩ không đúng với người đang bị trọng thương nên an ủi anh: “Văn chương cũng cần sự trung thực, anh nhỉ”.

Thành Ngọc hắng giọng kể tiếp:

-Những trận đòn của bọn chúng dù cho có đau về thể xác nhưng tôi nghĩ, mình vốn duy tình, thành ra sai sự thật nên ráng mà chịu, còn vết thương tinh thần mình gây ra cho xã hội thì tôi không thể nào chịu nỗi. Không ngờ câu chuyện của tôi được lưu truyền như một truyện dân gian làm nhiều người nhớ. Đến năm 1958, Ông Nguyễn Kim Sáu, nguyên Trưởng ty Ngân khố Côn Sơn, đã cho dựng lên ngôi miếu trên miểu thờ “Thánh Mẫu Thiên Hậu” vốn là vị thần biển trong tín ngưỡng dân gian. Bằng chứng là hai bên trái phải trang thờ bà vẫn còn hai câu đối bằng chữ Hán “kể lại sự tích, công lao, đối tượng được thờ”. Rồi người ta dựa vào truyện của tôi dựng vở cải lương “Mẹ hiền con thảo”, lâm ly, lấy không biết bao nhiêu nước mắt của khán giả. Không ngờ rằng bài báo đã có tác dụng ghi địa danh ở Côn Đảo: Nơi Nguyễn Ánh đánh cờ thành Núi Chúa, dãy núi bên kia Sở Đầm gọi là Núi Bà, rồi miếu thờ bà Phi Yến, và miếu thờ hoàng tử Hội An, ngày nay được hiểu như là sự thật. An Sơn Miếu được công nhận Di tích lịch sử văn hóa. Rồi lễ giỗ bà Phi Yến vào danh mục Di sản Văn hóa phi vật thể quốc gia, hàng năm cứ đến ngày 18 tháng 10 âm lịch tổ chức cúng tế rất linh đình...

Tôi chỉ có ý định viết dã sử, không ngờ người đời sau lại dùng nó để toan tính thay đổi lịch sử.

¶¶


-Chú ơi, dậy đi thôi - Tiếng của Cường, người hướng dẫn viên du lịch gõ cửa làm tôi bừng tỉnh. Tôi ngồi dậy và nhận ra đêm qua đã ngủ một giấc đầy mộng mị. Bộ quần áo viếng nghĩa trang Hàng Dương vẫn còn mặc nguyên trên người. Tôi vội vàng thay quần áo, rửa mặt rồi bước ra khỏi khách sạn. Nắng chói chang trên mặt biển. Đường phố rợp bóng mát bởi tán những cây bàng cổ thụ. Cửa hàng bán đồ lễ bày toàn hoa trắng, nón trắng, quần áo trắng....giăng khắp nơi. Cường chở tôi lượn qua mấy dãy phố rồi vòng lên Họng Đầm. Điểm đến là miếu Bà Phi Yến. Nhớ lại chuyện đêm qua người bỗng nổi gai ốc.

Người đến viếng Miếu Bà tấp nập. Người đi cúng đội mâm lễ gồm hoa quả, quần áo, hài, vàng mã... Tiền du khách nhét đầy thùng phước sương. Đông đến nỗi người đến sau vái lạy vào mông người đến trước. Khói nhang mù mịt, đèn nến lung linh. Cường thẻ thọt bên tai tôi: “Bà linh thiêng lắm, ai thành tâm cầu khấn điều gì bà đều phù hộ độ trì. Chú có thấy cây thị trước miếu, khoảng chục năm trước bão quật đổ, suýt đè sập ngôi miếu, nhưng nhờ sự linh thiêng của bà, cây thị đổ xuống gần mái miếu thì dừng lại”...

Tôi bước vào trong miếu. Tượng bà đang ngồi, phương phi trong áo màu xích đào thêu đoàn loan, cổ đeo tràng hạt khá to, thả dài xuống đến bụng. Bà đội mão thêu ngũ phượng, cài 10 trâm hoa, lấp lánh nhiều màu sắc. Trên cao, bức hoành phi có dòng chữ “Oai linh Nương Nương”. Bên dưới phía trong cũng là bức hoành phi bằng chữ quốc ngữ đắp nổi màu đỏ chói “Đức Bà Phi Yến”. Tôi chợt nhớ đến lời nhà văn Thành Ngọc đêm qua nên cố tìm đôi câu đối bằng chữ Hán nói về Thánh Mẫu Thiên Hậu- chủ nhân thật sự của ngôi miếu cổ này. Để ý kỹ mới thấy hai câu đối ở hai bên trang thờ, chữ màu đen trên các ô hình tròn nền màu vàng đã cũ:

Thánh đức phối Thiên an hải quốc”

Mẫu nghi xứng Hậu ấm Côn bang”.[1]


Tôi bừng tỉnh: Nhà văn Thành Ngọc ơi, tôi sẽ thực hiện ý nguyện của anh. Đã từng trả giá cho sai lầm của mình nên anh hiểu người cầm bút cần phải như thế nào.

NGUYỄN TRƯỜNG

Trại sáng tác Phú Yên 26/4/2023.

 

Chú thích:
Truyện có sử dụng một số cứ liệu trong hồi ký “Quần đảo Côn Sơn máu hòa nước mắt” của Sơn Vương, NXB Văn học 2007 và bài báo “Góp thêm tài liệu về An Sơn miếu ở Côn Đảo thờ ai?” của TS. Hồ Tường đăng trên tạp chí điện tử "Người đô thị" ngày 6/8/2022.

[1]Câu đối này hiện vẫn còn ở Miếu Bà.

Tạm dịch:

“THÁNH đức sánh THIÊN yên lành Hải quốc

MẪU nghi xứng HẬU ơn giúp Côn bang”

(Cao Vĩnh phiên âm, dịch nghĩa)

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
11 Tháng Chín 202611:04 CH(Xem: 203)
chợt nghe như lá rơi ngoài cửa / dịu dàng đem tới một làn hương / đã làm chiếc ghế nghiêng qua cửa / khi bóng chiều buông xuống mặt đường
10 Tháng Chín 202612:47 SA(Xem: 495)
Tôi chưa đọc "Chuyện làng Nhô", cũng chưa đọc "Chuyện với Thanh" nên không biết "nội tình" các "Chuyện..." đó thế nào, những "uẩn khúc" ẩn nấp phía sau 2 "Chuyện..." đó với nhà thơ Nguyễn Quang Thiều ra sao nên tôi không lạm bàn về 2 tác phẩm này nhưng tôi tin khi nhắc đến tiểu sử và sự nghiệp của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều người ta không thể không nhắc đến "Chuyện làng Nhô" và "Chuyện với Thanh" như 2 "Quả Nghiệp" đã "quật" vào cuộc đời ông với nhiều tầng "cảm xúc". Và cả 2 tác phẩm này sẽ dai dẳng ám ảnh, buộc ông phải nhìn nhận lại với những day dứt, cay đắng.
10 Tháng Chín 202612:22 SA(Xem: 391)
Cách đây chín năm, một bài viết của Ngô Thế Vinh đã nhìn Cao nguyên Tây Tạng như “Cực Thứ Ba của Trái Đất”, kho dự trữ băng tuyết khổng lồ và là nơi phát nguyên của những dòng sông lớn nuôi sống hàng tỉ cư dân châu Á, trong đó có Sông Mekong. Đức Dalai Lama từ rất sớm đã cảnh báo rằng vấn đề môi sinh Tây Tạng còn cấp thiết hơn cả những vấn đề chính trị: băng tuyết tan nhanh, phá rừng, khai thác khoáng sản, ô nhiễm nguồn nước và những con đập đang làm biến dạng các dòng sông. Từ đầu nguồn Tây Tạng tới các đồng bằng hạ lưu, tất cả nằm trong cùng một hệ sinh thái liên lập. Thông điệp bài viết năm 2017 vẫn nguyên tính thời sự: “Nếu Tây Tạng khô hạn, Châu Á chết.”
18 Tháng Tám 20269:54 CH(Xem: 2576)
Thu nằm trong bệnh viện đã được 7 ngày. Cũng vào ngày cuối cùng của “tuần chung thất” theo một lễ tục người Việt từ cả ngàn năm nay mà Thu được biết qua chuyện trò của mẹ với các bà vãi hàng xóm, phải đúng ngày này, khi nỗi đau ghê gớm của cơ thể từng chuyển hóa lẫn lộn trong những cơn mê sảng chưa từng có trong quãng đời 18 cái xuân xanh đã dịu đi chút ít, em mới bàng hoàng nhận ra: em đã bị mất toàn bộ chân trái…
09 Tháng Tám 20267:14 CH(Xem: 1758)
“Một suy ngẫm nối tiếp Từ bài viết “CUỘC TỰ VẤN LƯƠNG TÂM LỚN NHẤT VÀ RUNG CẢM NHẤT TRONG ĐIỆN ẢNH” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey của Christopher Nolan, chúng tôi thử đi thêm một bước: từ Troy của Homer nhìn về những cuộc chiến của thế giới hôm nay.” MINH HẠO -
09 Tháng Tám 20266:02 CH(Xem: 1426)
Hợp Lưu trân trọng giới thiệu bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey — bộ phim mới của đạo diễn Christopher Nolan. Không chỉ là một bài điểm phim, tác giả đã đọc cuộc trở về của Odysseus như một hành trình trở về với lương tri và Nhân tính; nơi chiến thắng, quyền lực và những cuộc chinh phạt cuối cùng phải đối diện với món nợ máu của những người vô tội. Từ thành Troy của Homer đến một thế giới hôm nay vẫn còn “gió tanh mưa máu”, bài viết đặt ra một câu hỏi tưởng cổ xưa mà vẫn nhức nhối: Sau mỗi cuộc chiến, ai sẽ là người trả giá cho những gì con người đã gây ra cho con người? — BAN BIÊN TẬP HỢP LƯU
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 2508)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:11 CH(Xem: 1974)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
07 Tháng Tám 202611:05 CH(Xem: 2626)
tháng giêng hoa xoan chưa nở / thì em đã vội lấy chồng / mùi hương còn đang dang dở / rụng đầy xuống cả dòng sông / *** tháng hai ánh trăng vừa cũ / chênh chao ngõ vắng im lìm / em không còn gì để nói / chỉ màu nắng nhạt qua tim /
07 Tháng Tám 202610:29 CH(Xem: 1827)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
07 Tháng Tám 2026(Xem: 1827)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 11734)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18320)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17357)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
11 Tháng Chín 202611:04 CH(Xem: 203)
chợt nghe như lá rơi ngoài cửa / dịu dàng đem tới một làn hương / đã làm chiếc ghế nghiêng qua cửa / khi bóng chiều buông xuống mặt đường
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 2508)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:05 CH(Xem: 2626)
tháng giêng hoa xoan chưa nở / thì em đã vội lấy chồng / mùi hương còn đang dang dở / rụng đầy xuống cả dòng sông / *** tháng hai ánh trăng vừa cũ / chênh chao ngõ vắng im lìm / em không còn gì để nói / chỉ màu nắng nhạt qua tim /
22 Tháng Bảy 202610:23 CH(Xem: 4015)
Bão Maysak đổ bộ vào Móng Cái / các bản tin điện tử dồn lên trang nhất / suốt nhiều giờ chống bão / anh đợi bản tin em
(Xem: 495)
Tôi chưa đọc "Chuyện làng Nhô", cũng chưa đọc "Chuyện với Thanh" nên không biết "nội tình" các "Chuyện..." đó thế nào, những "uẩn khúc" ẩn nấp phía sau 2 "Chuyện..." đó với nhà thơ Nguyễn Quang Thiều ra sao nên tôi không lạm bàn về 2 tác phẩm này nhưng tôi tin khi nhắc đến tiểu sử và sự nghiệp của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều người ta không thể không nhắc đến "Chuyện làng Nhô" và "Chuyện với Thanh" như 2 "Quả Nghiệp" đã "quật" vào cuộc đời ông với nhiều tầng "cảm xúc". Và cả 2 tác phẩm này sẽ dai dẳng ám ảnh, buộc ông phải nhìn nhận lại với những day dứt, cay đắng.
(Xem: 1974)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
(Xem: 3795)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
(Xem: 3287)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
18 Tháng Tám 20269:54 CH(Xem: 2576)
Thu nằm trong bệnh viện đã được 7 ngày. Cũng vào ngày cuối cùng của “tuần chung thất” theo một lễ tục người Việt từ cả ngàn năm nay mà Thu được biết qua chuyện trò của mẹ với các bà vãi hàng xóm, phải đúng ngày này, khi nỗi đau ghê gớm của cơ thể từng chuyển hóa lẫn lộn trong những cơn mê sảng chưa từng có trong quãng đời 18 cái xuân xanh đã dịu đi chút ít, em mới bàng hoàng nhận ra: em đã bị mất toàn bộ chân trái…
30 Tháng Bảy 20261:56 CH(Xem: 2515)
XÓM BỜ MƯƠNG – Truyện thứ hai trong bộ ba "Tam Quan" của Phạm Ngọc Lương. Hôm qua, chúng tôi giới thiệu CÁT HOANG. Hôm nay là XÓM BỜ MƯƠNG – truyện ngắn thứ hai trong bộ ba Tam Quan của nhà văn trẻ Phạm Ngọc Lương, từng đăng trên Hợp Lưu số 87 (2006). Hơn hai mươi năm trước, nhà phê bình Thụy Khuê đã gọi đây là "một câu chuyện cổ tích kinh dị", nơi cái chết của một dòng sông song hành với sự mục rữa của môi trường, sự tha hóa của con người và số phận bi thảm của một đứa trẻ. Một truyện ngắn đầy chất thơ, nhưng càng đẹp càng khiến người đọc rùng mình. Hai mươi năm đã trôi qua. Dòng sông trong truyện có còn là một ẩn dụ của hôm nay? Xã hội Việt Nam đã thay đổi đến đâu trước những vấn đề mà XÓM BỜ MƯƠNG đặt ra: môi trường, bạo lực, sự vô cảm, và phẩm giá con người? Chúng tôi xin giới thiệu lại truyện ngắn này. Câu trả lời, có lẽ, xin dành cho mỗi bạn đọc.
29 Tháng Bảy 20263:34 CH(Xem: 2896)
Có những tác phẩm không thuộc về một thời điểm. Chúng lặng lẽ nằm lại trên trang giấy nhiều năm, rồi một ngày nào đó bỗng hiện lên với sức nặng như thể vừa mới được viết hôm qua. Cát Hoang là một truyện ngắn như vậy. Lần đầu xuất hiện trên Tạp chí Hợp Lưu bởi lối viết tối giản, đứt đoạn như điện ảnh, ngôn ngữ đầy ký hiệu, và một thế giới nghệ thuật khiến người đọc vừa bối rối vừa ám ảnh. Nhà phê bình Thụy Khuê từng nhận xét đây là một truyện ngắn có cấu trúc của thơ hiện đại, nơi mỗi câu chữ đều trở thành một ám hiệu, buộc người đọc phải đọc bằng trực giác nhiều hơn bằng cốt truyện. Trong thế giới ấy, có một bãi đất nổi giữa dòng sông, một cộng đồng sống như chưa từng biết đến ánh sáng của văn minh, nơi trẻ em không được học chữ, nơi người biết chữ bị gọi là "con điên", và nơi bạo lực dần trở thành trật tự bình thường. Đó là một không gian hư cấu. Nhưng điều khiến Cát Hoang sống mãi không nằm ở tính hư cấu ấy, mà ở khả năng đánh thức những câu hỏi chưa bao giờ cũ:
22 Tháng Bảy 202610:14 CH(Xem: 2843)
Đất nước ta khởi đi từ hình bóng một người mẹ thuở hồng hoang. Lịch sử chúng ta khởi đi từ lời ru và những cuộc phân ly. Giữa huyền thoại về những người anh hùng, thấp thoáng bóng dáng những người mẹ trầm mình trên sông.
10 Tháng Chín 2026(Xem: 391)
Cách đây chín năm, một bài viết của Ngô Thế Vinh đã nhìn Cao nguyên Tây Tạng như “Cực Thứ Ba của Trái Đất”, kho dự trữ băng tuyết khổng lồ và là nơi phát nguyên của những dòng sông lớn nuôi sống hàng tỉ cư dân châu Á, trong đó có Sông Mekong. Đức Dalai Lama từ rất sớm đã cảnh báo rằng vấn đề môi sinh Tây Tạng còn cấp thiết hơn cả những vấn đề chính trị: băng tuyết tan nhanh, phá rừng, khai thác khoáng sản, ô nhiễm nguồn nước và những con đập đang làm biến dạng các dòng sông. Từ đầu nguồn Tây Tạng tới các đồng bằng hạ lưu, tất cả nằm trong cùng một hệ sinh thái liên lập. Thông điệp bài viết năm 2017 vẫn nguyên tính thời sự: “Nếu Tây Tạng khô hạn, Châu Á chết.”
09 Tháng Tám 2026(Xem: 1758)
“Một suy ngẫm nối tiếp Từ bài viết “CUỘC TỰ VẤN LƯƠNG TÂM LỚN NHẤT VÀ RUNG CẢM NHẤT TRONG ĐIỆN ẢNH” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey của Christopher Nolan, chúng tôi thử đi thêm một bước: từ Troy của Homer nhìn về những cuộc chiến của thế giới hôm nay.” MINH HẠO -
09 Tháng Tám 2026(Xem: 1426)
Hợp Lưu trân trọng giới thiệu bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey — bộ phim mới của đạo diễn Christopher Nolan. Không chỉ là một bài điểm phim, tác giả đã đọc cuộc trở về của Odysseus như một hành trình trở về với lương tri và Nhân tính; nơi chiến thắng, quyền lực và những cuộc chinh phạt cuối cùng phải đối diện với món nợ máu của những người vô tội. Từ thành Troy của Homer đến một thế giới hôm nay vẫn còn “gió tanh mưa máu”, bài viết đặt ra một câu hỏi tưởng cổ xưa mà vẫn nhức nhối: Sau mỗi cuộc chiến, ai sẽ là người trả giá cho những gì con người đã gây ra cho con người? — BAN BIÊN TẬP HỢP LƯU
22 Tháng Bảy 2026(Xem: 2780)
MẢNH ĐẤT ÍT NGƯỜI NHIỀU MA… NGƯỜI, viết hoa, theo tính chất triết học cả Đông lẫn Tây, và theo cách hiểu của tâm lý đời thường nhiều biến động này là “Tử tế”, đang ít dần đi cùng với sự teo tóp của Lương tri, sự lẩn trốn của cái Thiện, sự đánh mất Tình thương và Lòng trắc ẩn… Ma, theo nghĩa khái quát về bản chất Ma Quỷ trong con người đang trỗi dậy, không chỉ là hình tượng dọa nạt con trẻ nữa mà đang trở thành thế lực khủng khiếp đe dọa thống trị toàn bộ cơ chế hoạt động lẫn tinh thần – đạo lý xã hội…
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 4660)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 14904)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 31036)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 37783)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 12748)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 14038)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 5263)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 7788)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 6861)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 7281)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 8242)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 9851)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 9064)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 11936)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.