- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

CHỊ XÍU CỦA TÔI

03 Tháng Bảy 202211:33 SA(Xem: 33429)
tac gia -chi Xiu cua toi
Ảnh: Tác giả Hoàng Thị Bích Hà.

 

  

 

Truyện ngắn        

CHỊ XÍU CỦA TÔI     

Hoàng Thị Bích Hà       

 

 

nhà thường gọi là chị Xíu. Tên của chị là Lan Vy - chị họ của tôi. Chị em tôi chơi thân với nhau như chị em ruột. Tôi không có chị gái nên hình mẫu của tôi chính là chị để mà học hỏi. Chị nổi tiếng xinh đẹp và hiền thục ngay từ lúc còn là nữ sinh đệ nhất cấp. Khi vào lớp đệ thất (lớp 6 bây giờ) bác tôi có mời một anh sinh viên tên là Vinh về kèm cho chị học. Anh ấy nhiệt tình, kiến thức vững và tính cách cũng đàng hoàng. Năm tháng trôi đi học xong đệ nhất cấp, chị thi đỗ vào trường Nữ trung học Thành Nội. Mẹ chị là một người phụ nữ đẹp, phúc hậu và đặc biệt là có giọng hát ru và những làn điệu dân ca xứ Huế rất hay. Ngoài giờ học chị được mẹ kèm cặp, nữ công gia chánh như đan lát, thêu thùa, làm các loại bánh trái, nấu được những món ăn đặc trưng xứ Huế rất ngon. Những năm học ở trường nữ Thành Nội chị càng dễ thương hơn. Làn da trắng hồng, mái tóc vàng mơ bồng bềnh, ôm lấy khuôn mặt khả ái, rất có duyên. Đôi mắt to, lúc nào cũng long lanh với ánh nhìn ấm áp. Nhìn chị có vẻ đài các của phụ nữ Á đông nhưng có chút gì tây tây rất sang. Vì vậy, mỗi lần đi học về không thiếu “những cái đuôi” theo về tận ngõ và cũng không biết bao anh chàng trồng cây si trước cổng trường.

Tuy vậy chị Xíu tôi vẫn chăm lo học hành và về nhà phụ việc cho mạ. Tốt nghiệp tú tài, chị thi vào sư phạm. Lại nói về anh Vinh (thầy dạy kèm từ lớp 6 của chị) kèm cặp chị học từ đệ nhất cho đến đệ nhị, không ai khiến cũng tự nguyện kiêm luôn cả việc đưa đón chị đi học. Vì vậy mấy “cây si” không có cơ hội tiếp cận, cũng chỉ đứng nhìn từ xa mà thôi! Thế rồi, chị thi đậu vào sư phạm cũng là lúc anh Vinh thưa với gia đình bác tôi xin đưa ba mạ anh ấy sang thăm để bàn chuyện dạm ngõ. Bác tôi thấy anh Vinh là người có thể tin cậy để gửi gắm con gái mình, vì anh ấy học thức, con nhà đàng hoàng, lại một lòng yêu thương chị Xíu. Anh kiên trì đeo đẳng cũng đã 5- 6 năm trời, xem ra cũng có vẻ hợp với chị Xíu. Nhưng bác tôi nói:

-Nếu con Xíu thuận thì bác cũng đồng ý cho gia đình hai bên qua lại nhưng hãy để Xíu học xong sư phạm đã rồi mới tính đến chuyện hỏi, cưới.

Ngày lành tháng tốt, chị tôi xem như hoa có chủ. Chị vẫn chăm chỉ học hành cho đến khi cầm bằng tốt nghiệp sư phạm và được bổ đi dạy ở một trường trong Nội Thành. Đám cưới được cử hành trọng thể sau đó không lâu. Nhìn anh chị thật đẹp đôi và tràn đầy hạnh phúc trong ngày lễ vu quy. Bà con ai cũng vui! Rồi chị về làm dâu nhà chồng, gia đình chồng rất mực yêu mến bởi sự đảm đang, giỏi giang, tháo vát và nhân hậu của chị. Ba mẹ chồng thương chị như con gái trong nhà, anh chị em nhà chồng thì thân thiết với chị không khác gì anh chị em ruột. Mỗi lần em út trong nhà có chuyện gì cũng tâm sự với chị và chị tìm cách an ủi, tháo gỡ cho các em. Chị về làm dâu cũng góp phần cùng với ba mẹ, chồng chị để nuôi các em ăn học nên người. Anh Vinh là con đầu, sau anh còn có 7 người em cả trai cả gái.

Anh Vinh là công chức nhà nước. Lúc thời bao cấp khó khăn, lương hai anh chị cũng không đủ đắp đổi, nên anh chị đều phải chạy vạy làm thêm mới nuôi con ăn học và trang trải gia đình, hiếu sự với cha mẹ đôi bên. Ba đứa con anh chị lần lượt ra đời, đứa nào cũng mặt mũi khôi ngô tuấn tú và chăm lo học hành. Lúc này anh chị mua được miếng đất cách trường chị dạy khoảng 1km, rồi làm một cái nhà nhỏ đơn sơ nhưng ấm cũng, ríu rít tiếng trẻ thơ và lúc nào cũng tràn ngập hạnh phúc. Anh lúc này làm quản lý một cơ quan, có vẻ bận rộn hơn, thời gian dành cho cơ quan nhiều hơn. Ngoài việc quản lý anh còn được mời dạy kỹ năng sống cho các lứa tuổi vì anh ăn nói lưu loát, nghe rất xuôi tai bởi vì anh có kiến thức và tỏ ra rất am hiểu. Rồi năm tháng trôi đi cũng có thuyên chuyển đảm nhiệm một vài chức vụ khác trong thành phố. Chị dạy gần nhà và chị còn phát huy tài nấu nướng của mình mà lúc nhỏ mạ chị đã dày công bày vẻ. Ngoài giờ dạy chị làm thêm bằng cách nhận hợp đồng nấu đám cưới, đám hỏi, tiệc tùng cho người ta. Công việc đem lại cho chị thu nhập cũng rất đáng kể ngoài đồng lương nhà giáo thời bao cấp. Chị cũng thay nhà cũ, xây lại được một ngôi nhà hai tầng khang trang với trang thiết bị hiện đại, đủ tiện nghi ngay trên mảnh đất ngày xưa anh chị đã tạo dựng. Làm thì có tiền thật nhưng vất vả lắm, tất bật lắm để tròn cả hai vai. Ai từng đi dạy sẽ không lạ gì các áp lực công việc. Tới lớp lo dạy đủ tiết, về nhà còn phải chấm bài, soạn bài và ghi chép các loại sổ sách. Có khi giáo án, và cả những loại sổ sách rườm rà, không thiết thực gì cho việc dạy học mà chỉ là phục vụ thanh tra kiểm tra mà thôi. Ngoài ra còn phải thao giảng, dự giờ…đủ các kiểu. Chị dậy đi làm từ 3 giờ sáng, đến 7 giờ sáng, sau đó giao lại cho bộ phận khác trong nhóm dịch vụ của chị tiếp tục công việc rồi chị lại hối hả tới trường cho kịp giờ dạy. Trong lúc chồng con chị vẫn còn yên giấc điệp. Có lần chị dậy lật đật, đánh răng rửa mặt và trang điểm qua quýt tới chỗ làm. Chị vớ lấy cây bút chì kẻ viền môi màu đỏ mà chị tưởng là bút chì kẻ lông mày. Chị đưa tay quệt nhanh 2 vệt trên đôi lông mày rồi tất tả nhắc xe, tới chỗ làm. Tới nơi ai cũng lo công việc của mình: người gọt rau củ quả, kẻ tỉa bông trang trí, người hông xôi, luộc gà… Đến lúc gần sáng bỗng có một em nhân viên cười nghiêng ngửa vì nhìn thấy đôi lông mày của chị màu đỏ. Nó la lên:

-Ôi trời! Chị Xíu hôm nay trang điểm độc và lạ quá! Từ thuở cha sinh mẹ đẻ, em chưa thấy ai kẻ lông mày màu đỏ chót rứa tề!

Thế là cả nhóm phá lên cười, đau cả bụng.

Chị vui tính, hòa nhã lại siêng năng nên chị em ai cũng thương. Tới trường chị cũng rất được lòng đồng nghiệp. Bởi chị tốt tính, nhân hậu, hay giúp đỡ đồng nghiệp, thương yêu học trò và làm việc lúc nào cũng đầy trách nhiệm. Duy chỉ có sếp là giữ thái độ khó hiểu. Khi thấy chị làm việc như thế mà việc trường vẫn tròn vành vạnh. Nếu muốn tìm cơ hội để làm khó nhau thì không có dịp nào tốt hơn là thanh, kiểm tra trong đó có dự giờ và soi hồ sơ sổ sách. Mỗi lần thanh tra cấp trên về trường, họ thường dự giờ 3- 5 người. Sếp chỉ ai thì họ dự giờ người đó (Nay thì bỏ rồi, giờ chỉ còn gọi là thanh tra nội bộ trong trường). Nhưng có người cả đời dạy học ít ai dự giờ vì những lý do khác nhau. Thế là có lần vào lúc 12 h trưa mà sếp báo chị là chiều nay lúc 1 h 30 có đoàn thanh tra về và chị là một trong những GV cần dự giờ. 1h chiều chị hớt hơ hớt hải tới trường, vừa chuẩn bị hồ sơ, sửa soạn tiết dạy, chị vừa làm vừa khóc vì thấy có vẻ như bị ép. Nhưng cuối cùng chị cũng hoàn thành các tiết dạy thành công và đạt kết quả tốt. Kể sơ sơ vậy để biết cô giáo, người chị của tôi đã vất vả như thế nào của để có cơ ngơi như ngày hôm nay. Trong lúc anh rể tôi thì với đồng lương nhà nước, nhưng đi về quần áo bao giờ cũng bảnh bao, càng ngày càng trẻ đẹp, ra dáng đàn ông trí thức, lịch lãm lắm!

Các con chị được học hành nên người, đứa nào cũng có công ăn việc làm ổn định. Anh chị cũng đã hoàn thành việc dựng vợ gả chồng cho con. Cũng là lúc sức khỏe chị ngày càng xuống sắc. Da dẻ không còn nõn nà và mái tóc không óng mượt như hồi trẻ nữa. Những năm tháng việc vàn bù đầu đã in dấu lên khóe mắt và khuôn mặt của chị. Tuy vậy chị bước vào thu vẫn là một phụ nữ đẹp. Chị làm việc vất vả là vậy nhưng cũng rất chiều chuộng anh. Ngay cả những việc như anh muốn trở lại “chiến trường xưa” ở một tỉnh khác thăm cô bồ cũ mà chị cũng đồng ý và cùng đi với anh. Chị nói cho anh thăm một lần cho anh khỏi eo oóc vì chị biết cô ấy nay cũng lớn tuổi rồi, nhan sắc cũng đã phai tàn. Khi gặp lại quả thật, sau mấy chục năm anh nhìn người cũ không ra. Chị ấy già nua quá, thế là từ đó về sau anh không còn muốn nhắc lại chuyện đi thăm người cũ nữa.

Anh chị giờ đã về hưu, sau khi nghỉ hưu chị vẫn tiếp tục đi nấu nướng một thời gian nữa. Nay có lẽ cũng mệt mỏi rồi, sức người có hạn mà! Chị cũng không còn đi làm thêm nữa. Con cái đã lập gia đình ra riêng và có cuộc sống ổn định, những tưởng chuyện hôn nhân của anh chị đến đây có thể gọi là viên mãn. Không ngờ, bẵng đi khoảng chục năm không gặp chị vì tôi ở xa, gọi điện thăm chị thì chị nói anh chị đã li thân vì anh có người khác. Tôi nghe qua vậy không thể tin nổi nên an ủi chị rằng:

- Chắc anh say nắng thôi, ít bữa nữa chán thì anh lại về. Chứ anh chị đã sống với nhau gần trọn cuộc đời thế cơ mà.

Chị nói: - Họ bây giờ say nhau quá rồi, không thể cứu vãn. Người đàn bà mới của anh là người trẻ hơn chị tuy cũng đã có con riêng. Bây giờ chuyện này vỡ lỡ đã 2 năm.

Chị cũng đã giấu cho anh chừng ấy năm nhưng nay có lẽ không cần thiết nữa nên chị thật thà kể cho tôi nghe! Tôi rụng rời cả người vì tôi không thể ngờ câu chuyện có kết cục tệ như vậy. Thật bất công cho chị khi mà một con người vừa đẹp người, vừa đẹp nết, lại giỏi giang, tháo vát đem hết cả sức mình chăm lo chồng con, lo tròn hiếu đạo với nội ngoại hai bên mà tuổi xế chiều lại đau khổ như vậy. Chị giờ về nhà mẹ đẻ sống, hàng ngày tụng kinh niệm phật với mạ. Để lại cho anh một ngôi nhà khang trang với tiện nghi đầy đủ, chị gởi lại cho cô con gái đã có gia đình. Còn anh cứ qua lại hàng ngày vui bên tình mới. 

Tôi không biết nói gì để động viên chị cả, bởi tôi thấy nghèn nghẹn ở cổ họng vì thấy đời bất công quá! Tôi vẫn không tin vào câu: “Hồng nhan đa truân” mà chỉ vận vào người chị của tôi xem như là môt câu nói để mà an ủi thôi! Chứ tôi vẫn nghĩ chị khổ vì không may vướng phải chữ bạc tình. Có người ta vụng về bao nhiêu, nhan sắc cũng không lấy gì làm nổi trội nhưng họ may mắn gặp người chồng tử tế, chung thủy, hết mực trân trọng, thương yêu cả đời. Nhưng anh thì có lý của anh, anh than vãn với bạn của chị là “Xíu ít quan tâm đến anh”. Tôi nghe kể như vậy thì tôi cũng không ngạc nhiên gì trước lý lẽ biện minh này. Khi chán người ta có thể đưa ra cả 1001 lý do chứ chừng đó mà nhằm nhò gì. Nhưng sao anh không nghĩ ngược lại là anh đã quan tâm đến chị chưa? Đã thấu hiểu vất vả một gánh hai vai, đi sớm về trưa, giấc ngủ không tròn của chị chưa? Lẽ ra anh phải đỡ đần chị thì mới đúng, chị việc ngập đầu thế kia mà, nhiều khi đi làm không kịp ăn uống gì, chị có để ý gì cho bản thân đâu vì chị bận lo cho gia đình. Chị ngủ không đủ giấc. Mỗi lần trường đi tham quan, đồng nghiệp thấy chị nằm đâu ngủ đó, Khi di chuyển trên thuyền, hay trên xe… mọi người khen chị dễ ngủ nhưng tôi nghe kể mà xót xa lắm! Tôi hiểu chị thiếu ngủ, thèm ngủ vì chị thường dậy sớm mỗi ngày trong một thời gian dài năm này qua năm khác như thế. Thời diểm 2- 4 giờ sáng là thời gian người ta ngủ ngon nhất mà chị lại phải dậy rồi. Điều này đối với tôi thì chị phi thường quá. Tôi thì không thể học chị điều này. Vì tôi đêm nào lỡ  bận việc gì mà buộc phải hoàn thành cho xong như vậy chỉ  thiếu 1- 2 tiếng đồng hồ trong giấc ngủ là ngày mai tôi cứ lờ khờ như con gà dịch rồi. Còn chị vẫn tươi mươi, đi làm năng nổ, nhiệt tình, việc nào ra việc nấy trọn vẹn thật đáng nể. Sức khỏe trời cho chị như vậy như thể là để bù đắp cho chị.

Thôi giờ chỉ cầu mong cho chị và mẹ thật an lành, sức khỏe, thâm tâm an lạc tuổi già. Thỉnh thoảng có mấy chị bạn học cũ về chơi, chuyện trò với chị cho khuây khỏa phần nào. Tôi nay ở cách chị cả ngàn cây số, ít khi có dịp trở về để lại bên chị tỉ tê như ngày nào. Tôi cảm thấy mình thật có lỗi với chị, nhất là như lúc này. Nhưng tôi vẫn tin chị tôi luôn mạnh mẽ như chị đã từng như thế!

Hoàng Thị Bích Hà

SàiGòn,23/7/2021.


 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
09 Tháng Sáu 202612:52 SA(Xem: 488)
Tôi trở lại thăm Hà-Nội sau hơn bốn mươi năm xa cách. Trong gần một tuần lễ, tôi bận rộn và mệt nhoài theo các con tôi đi thăm gần hết các thắng cảnh trong thành phố và các vùng lân cận mà các con tôi đã lập chương trình từ trước theo đề nghị trong các sách du lịch. Nơi cuối cùng là đi thăm Tam Cốc, sáng đi chiều về, và hôm sau sẽ trở lại Mỹ. Tôi chiều các con tôi, nên những nơi mà tôi muốn đến để tìm lại những kỷ niệm ngày xưa thì chưa có thời giờ, mà nếu không đến được thì đó là một điều thiếu xót cho chuyến đi của riêng tôi.
09 Tháng Sáu 202612:06 SA(Xem: 377)
Chị Tư hơn tôi hai tuổi. Tôi cá tính bao nhiêu thì chị Tư hiền lành, dịu dàng bấy nhiêu. Lại xinh nữa. Ngày xưa, chị được bình bầu là "hoa khôi xóm". Bà bán mì đầu hẻm bảo thế. Bả bảo, mấy người thường ăn mì ở đây khen : “Xóm này không ai đẹp và hiền như con Tư ”.
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 1159)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 1187)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
05 Tháng Sáu 20262:52 CH(Xem: 1044)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
05 Tháng Sáu 20262:02 CH(Xem: 923)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 3131)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20262:56 SA(Xem: 2011)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 2977)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2501)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9832)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16681)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15670)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16109)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 1187)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 3131)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 2977)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 2901)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
(Xem: 1043)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
(Xem: 5144)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 7102)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 6414)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
09 Tháng Sáu 202612:52 SA(Xem: 487)
Tôi trở lại thăm Hà-Nội sau hơn bốn mươi năm xa cách. Trong gần một tuần lễ, tôi bận rộn và mệt nhoài theo các con tôi đi thăm gần hết các thắng cảnh trong thành phố và các vùng lân cận mà các con tôi đã lập chương trình từ trước theo đề nghị trong các sách du lịch. Nơi cuối cùng là đi thăm Tam Cốc, sáng đi chiều về, và hôm sau sẽ trở lại Mỹ. Tôi chiều các con tôi, nên những nơi mà tôi muốn đến để tìm lại những kỷ niệm ngày xưa thì chưa có thời giờ, mà nếu không đến được thì đó là một điều thiếu xót cho chuyến đi của riêng tôi.
09 Tháng Sáu 202612:06 SA(Xem: 375)
Chị Tư hơn tôi hai tuổi. Tôi cá tính bao nhiêu thì chị Tư hiền lành, dịu dàng bấy nhiêu. Lại xinh nữa. Ngày xưa, chị được bình bầu là "hoa khôi xóm". Bà bán mì đầu hẻm bảo thế. Bả bảo, mấy người thường ăn mì ở đây khen : “Xóm này không ai đẹp và hiền như con Tư ”.
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 1158)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2499)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2341)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2164)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2346)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 2361)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 923)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 13421)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 29509)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35652)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 10616)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 12592)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 2011)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 2977)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 3170)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 3296)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 4015)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 7692)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 7033)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 9699)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.