- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Mênh Mông Chật Chội, Chật Chội Mênh Mông

27 Tháng Mười 200812:00 SA(Xem: 106977)
lainguyenanChuyện một cơ quan chức năng ở địa phương nọ yêu cầu kiểm điểm một nhà văn đang cư trú tại địa phương mình vì nội dung một tác phẩm mới xuất bản của nhà văn ấy, chẳng hiểu sao cứ từng lúc từng lúc gợi thức trong tôi nhiều việc cũ, nối lại nhiều suy nghĩ vẫn bỏ dở, những điều tưởng chừng rất ít liên quan nhau.

Mươi năm trước, lần đầu tới một thành phố miền Trung, tôi đã tò mò muốn hỏi xem tại thành phố này liệu có còn “nhà văn đô thị” nào (nghĩa là nhà văn từng nổi tiếng trong văn học đô thị miền Nam trước 1975) sống ở thành phố này không? Một cán bộ trong ngành văn hoá nói với tôi theo cách nói suồng sã giữa những người thân quen : “Không còn ai đâu ông, ai không di tản ra nước ngoài thì cũng đã chạy vào sống ở Sài Gòn rồi. Ông tính, siết con người ta như kiểu tuyên huấn nhà mình thì anh nhà văn cũ nào mà sống nổi ở địa phương?”

Quả thật, chính câu trả lời rất ư “nội bộ” của người cán bộ lớp trước ấy đã góp phần thúc đẩy tôi dần dà tự tìm lời giải cho mình về tình trạng cư trú của giới nhà văn xã hội chủ nghĩa thời những năm 1950-90 : số rất đông sống ở thủ đô hoặc thành phố lớn; chỉ những nhà văn tiềm năng, nhà văn chưa nổi tiếng, hoặc phải là nhà văn lớn, rất có uy tín mới dám sống ở tỉnh lẻ. Chẳng đâu xa, đó cũng là đặc điểm về cư trú của giới nhà văn Việt Nam sống ở miền Bắc trước 1975 : tuyệt đại đa số đều tìm cách để được về sống thường trú tại Hà Nội.

Mà không riêng gì giới nhà văn, số đông cán bộ, học sinh, sinh viên, thậm chí thường dân thời ấy, đều thích được sống và làm việc ở Hà Nội, đô thị lớn duy nhất tính từ Mục Nam Quan đến sông Bến Hải. Trong dân gian bảo nhau: “Giàu nhà quê không bằng kéo lê kẻ chợ”, đến thời ta dân gian thay “kẻ chợ” bằng “Hà Nội”. Riêng những người làm việc trong khu vực nhà nước hồi ấy giải thích với nhau rằng ở Hà Nội thì được thêm phụ cấp đắt đỏ 12%, rồi hàng hoá lương thực thực phẩm ở Hà Nội dù sao cũng sẵn và nhiều hơn các nơi khác, kể cả hàng hoá trong cung cấp lẫn ngoài chợ đen. Trong giới trẻ thời ấy sau lúc ra trường nếu gặp lại nhau mà có ai bảo rằng mình đang ở Hà Nội, thế nghĩa như là người ấy đã có một điểm thành đạt hơn bè bạn. Những năm 1970 tôi dạy học ở một nơi cách Hà Nội sáu chục cây số, những hôm gần đến ngày thứ bảy lại nghe tiếng mấy cô học viên hỏi ông bạn giáo viên phòng bên : “Mai về Hà không thầy ?” “” đây là nói lóng về Hà Nội. Ngày thứ bảy thời ấy đã đi vào thành ngữ của giới viên chức “cắt cơm bơm xe nghe thời tiết liếc đồng hồ vồ xe đạp... ”, hai ba giờ chiều còn bụi đỏ đầy mình, cắm cúi trên đoạn đường Sơn Tây hay Đáp Cầu, tám giờ tối đã áo quần sạch sẽ cùng vợ hoặc bạn gái tề tựu tại vườn hoa Chí Linh cạnh Bờ Hồ nghe những Quang Hưng, Bích Liên, Vân Khánh, Thanh Huyền, Kiều Hưng hát, – không phải những bài hát nào khác mà chính những bài hát mình vẫn thường nghe qua đài! – sáng chủ nhật gắng qua vườn Cổ Tân xếp hàng uống tại chỗ hoặc mua về nhà mấy “vại” bia hơi, rồi chiều chủ nhật lại trên xe đạp ngược chiều đường hôm trước. Ấy là một trong những niềm vui đời thường nho nhỏ thời ấy. Hình như chẳng ai gắng cắt nghĩa đến nơi đến chốn xem vì sao người sống ở miền Bắc thời ấy thích sống ở Hà Nội và thường thích khoe là mình đã ở Hà Nội, mình thông thạo đời sống Hà Nội, hệt như sau 1975 người ta thích khoe là đã đến Sài Gòn, đã sống ở Sài Gòn, khoe như là khoe một cái “hơn đời” của mình. Trên những nẻo đường sơ tán, đôi khi người ta lặp lại cái cảm giác lạc vào “u tì quốc” và “thiếu chân giời” của những Xuân Diệu, Nguyễn Tuân những năm 1940-50 và nhân đấy nghĩ đó là lý do để mình thiết tha với một nơi đủ đầy rộng lớn như Hà Nội. Nhưng ngẫm ra đó vẫn chẳng phải lý do thực sự. Những ai tự coi mình như “người Hà Nội”vẫn thường bị vặn hỏi : đất Hà Nội có gì hơn nơi khác mà các anh thiết tha với nó đến vậy? Một câu hỏi rành rọt nhưng hầu như không tìm được lời đáp rành rọt!

Hai anh bạn tôi quen thường qua tai tôi để tranh cãi với nhau. Một người chỉ đặt chân lên đất Hà Nội khi tuổi đã ngoài 20 mà nay cả nhà đều thành đạt giàu sang, thường qua tôi để “ra đề” cật vấn anh bạn còn lại : Các ông cứ tự hào là “người Hà Nội” chứ ta chỉ thấy người Hà Nội gốc làm tạp dịch phu phen bưng bê...; đến đây và làm nên quan to chức lớn trên đất này bao giờ cũng là người nơi khác! Anh bạn thứ hai, bố mẹ ra đây từ sớm và sinh ra anh trên đất Hà Nội này, tình cảnh anh giờ cũng thường bậc trung nên gần tôi hơn, cũng qua tôi đáp lại như thách thức : Nhưng cả các quan lớn lẫn con cháu họ rốt cuộc đều “thị dân hoá” cả loạt đấy thôi; đời trước từ xa đến còn là chính trị gia, văn nghệ sĩ tầm cỡ, khát vọng, lý tưởng không lớn thì cũng đáng kể, đời sau lớn lên ở đây chỉ rặt phường giá áo túi cơm, không mặt nạc đóm dày, xôi thịt như con em giới chức nhà quê thì cũng chỉ ham vui ham hưởng lạc, có quan tâm đến thời cuộc thì cũng chỉ là sáng sáng để ý xem phải treo cờ màu gì nói theo giọng ai rồi thì mải đi đánh quả kiếm tiền để tận hưởng mọi lạc thú trên đời, không từ những lạc thú tệ hại nhất! Hà Nội nó thị dân hoá, “hà-nội-hoá” các vị như thế đấy! Sao không gồng mình gồng cả con cháu mình lên, tống chúng nó về lại vùng sâu vùng xa quê cha đất tổ mà rèn chí luyện tài dồi mài kiến thức để nay mai tiếp tục làm chính khách to làm nghệ sĩ lớn?!... Chà chà, những đối đáp bất tận!...

Có một cảm tưởng hầu như đồng nhất ở nhiều lớp người khác nhau ở nhiều thời khác nhau mà mãi về sau tôi mới nhận ra, ấy là cảm tưởng xem Hà Nội hầu như là điểm đỗ lý tưởng của bất cứ ai muốn trốn tránh một sự vụ nào đó, một tai nạn nào đó. Những năm 1950, không ít những học sinh trung học ở miền trong, khi gia đình bị quy thành phần địa chủ phú nông, đã lặng lẽ tìm ra Hà Nội, vừa làm thêm đủ nghề bán báo đánh giầy gia sư..., vừa theo học đại học vừa viết báo viết sách, và đến những năm 1980 thì trở thành giáo sư đầu ngành, về thăm quê Thanh Nghệ dẫn theo cả đám môn sinh ồn ào sặc sỡ và đủ loại phóng viên. Giới quản lý thành phố biết rằng dân sự ở Hà Nội đây là “phức tạp” nhất nước, chính quyền đô thị từ chỗ ban đầu chỉ có hai cấp (thành phố và khu phố tức là quận) đến chỗ phình lên thành ba cấp (thành phố, quận, phường) với bộ máy càng ngày càng đông chức dịch nhân viên. Nhưng trong dân sự người ta hiểu: gì thì gì, ở thành phố lớn vẫn có nhiều khoảng rộng rãi nhất, có thể nói là nhiều tự do nhất. Trong thời chiến, người ta tán phét với nhau rằng cả “giặc lái” lẫn “biệt kích”, nếu thâm nhập được miền Bắc mà muốn nằm yên không bị phát hiện thì chỉ có nước vào Hà Nội! Chuyện bàn tán với những tin tức vu vơ chẳng biết thực hư ra sao, nhưng hồi những năm 1970, một lần tình cờ đi cùng người bạn mang thư và quà tới một nhà trong một ngõ phố ở mạn Bạch Mai, tôi bất ngờ gặp một lão “khựa” không nói được tiếng Việt nào hình như vừa mới tới đây, sau hỏi ra thì đúng là một nạn nhân của cách mạng văn hoá phương Bắc vừa đến tạm trú trên đất Hà Nội! Tất nhiên giữa biển người Việt vốn rất nhạy để nhận ra những gì “dị chủng”, “khác máu tanh lòng” thì người nước ngoài đến đây rất dễ bị phát hiện nên chuyện vừa kể là chuyện hiếm. Dễ gặp hơn là chuyện người tỉnh xa bị sự cố tìm về thành phố nương náu. Tôi có biết một cặp, một cô thợ dệt và một viên sĩ quan, thuê nhà trong một xóm ven nội. Đó là hồi cuối những năm 1960. Họ quấn quýt nhau lắm, nhưng khi cô thợ dệt sắp sinh con thì viên sĩ quan nọ biến mất. Sau được biết anh ta đã có vợ có con; chị vợ cả là cán bộ phụ nữ vùng Thanh Nghệ, đã hành động rất bài bản : đầu tiên là đòi đơn vị bộ đội buộc anh và ả phải ra toà huỷ cái hôn ước sai trái, tiếp theo là đòi đơn vị “kỷ luật” anh ta, cho anh ta về phục viên với gia đình vợ con; đến lúc vị quân nhân buộc phải về quê làm dân thường rồi thì bà chính thất mới tuyên bố với họ hàng nhà chồng và chính quyền địa phương rằng bà quyết định ly hôn anh chồng bội bạc! Vợ con không nhìn nhận, ở quê không còn chốn nương thân, viên cựu sĩ quan lại mò ra Hà Nội làm thuê làm mướn độ thân và sống theo kiểu không hôn thú với cô thợ dệt vốn là “người cũ”của anh. Nhìn viên cựu sĩ quan đã thành người phu khuân vác ở cảng sông, nhiều lúc tôi tự hỏi : nếu không có không gian thành phố, chẳng biết người cựu quân nhân bị cả đơn vị lẫn gia đình ruồng bỏ kia có thể sống ở đâu trên đất nước này?

Một anh bạn hoạ sĩ có câu giải thích mang tính triết lý : “Chỉ những giòng sông lớn mới chứa được rác bẩn!” Nếu ta tính trong cái đa tạp mà thành phố lớn chứa đựng có những thành phần bất hảo, dưới đáy xã hội, tức là “rác bẩn” mà giới quản trị thành phố, dù không thể ưa thích nhưng cũng không thể trục xuất hay trừ khử, tức là buộc phải dung chứa, phải chấp nhận cho tồn tại, – có lẽ thời đó ở miền Bắc chỉ đô thị Hà Nội là có cái chất “giòng sông lớn” ấy chăng? Và chúng tôi, bọn người tứ xứ, với hàng ngàn cơ hội hay dở khác nhau đã tụ về nương náu chốn này, chẳng qua là vì nó có chút xíu tự do hơn nơi khác? “Tình yêu Hà Nội” của người sống ở miền Bắc thời đó có lẽ chỉ là sự diễn đạt “tình yêu tự do”, một thứ tình cảm tuy phổ quát nhưng từng người mang nó vị tất đã ý thức được thật rành rẽ.

Ngẫm ra con người ta vừa cần cộng sinh, cần sự trợ giúp của cộng đồng, lại cũng cần khoảng cách nhất định với chính cộng đồng mà mình chung sống. Nguyễn Minh Châu có lần ví con người với những con nhím : dù ở cạnh nhau vẫn cẫn một khoảng cách để khi xù lông lên vẫn không chạm phải nhau. Đối với đời sống cá nhân con người, kiểu cộng đồng họ hàng làng xóm ở thôn quê vị tất đã là đáng ưa thích hơn so với kiểu cộng đồng mà bề ngoài chỉ như là “nhà ai nấy biết” ở chốn đô thị.

Cộng đồng thôn quê thường chỉ thừa nhận con người trong các vai trò theo thứ bậc ở đại gia đình và giòng họ, ngoài ra là một số rất ít những vai của “xã hội” làng xã : các bề trên về tuổi tác (các bô lão) hoặc chức quyền ( lý trưởng, phó lý, trương tuần, cạnh đó là những vai “cựu” tương ứng, dù hết chức quyền vẫn còn chút oai hơn so với dân thường) hoặc các trưởng họ...; dân thường là “tứ dân” tức là xét theo 4 loại (nghề) sĩ nông công thương; cũng trong thường dân nhưng bị coi là thấp hơn gồm những người ngụ cư, người làm những việc bị coi là thấp hèn ( mõ làng, quét chợ...,); ở làng xã cũng có thành phần “bất hảo” ví dụ đám du thủ du thực, trộm cướp chuyên nghiệp, có thể có gốc gác quê quán ở đây nhưng sống kiểu “bán trú”, ngoài vòng pháp luật, dù chính quyền làng xã có thể kiểm soát ít nhiều. Đôi khi, do định kiến, người làng xã tính vào hạng “bất hảo” cả những phụ nữ chửa hoang, những người bị bệnh phong cùi, v.v... Đặc điểm của cư dân làng xã là từng cá nhân đều được định rõ danh phận; con người ở đây là “con người chức năng” trong các quan hệ tông tộc hoặc “xã hội” làng xã (trong tiếng Việt không có các đại từ nhân xưng đích thực, mà thường phải mượn các danh xưng chức năng tông tộc như anh, chị, em, cô, chú, bác, ông, bà, cụ, v.v... có lẽ là bởi điều này) mọi hành vi của “con người chức năng” đều được kiểm soát và đối chiếu với danh phận của nó : hành động phù hợp danh phận sẽ được biểu dương, hành động không phù hợp danh phận sẽ bị lên án thậm chí trừng phạt, nhân danh đạo lý và trật tự làng xã.

Kẻ sĩ dù được kể đầu tiên trong tứ dân vẫn chỉ là dân; kẻ sĩ lang bạt ra thiên hạ kiếm sống, dù lập được danh mà không thành quan, trở về làng khi có việc nhà vẫn phải lụy đám chức dịch làng xã. Hãy nghe Trạng Quỳnh khấn thổ thần làng mình :

“Chú là kẻ cả trong làng

Ta là người sang ngoài nước

Đôi bên chức tước

Chẳng kém gì nhau

Vì vợ tớ đau

Phải ra khấn vái ...”

Thổ thần tức là phiên bản “tâm linh” của chức dịch làng xã sở tại; kẻ sĩ không thành quan dù có mạo xưng “người sang ngoài nước” để nạt rằng ta chẳng kém mi, tựu trung vẫn phải đà lụy, nhờ vả đám chức dịch làng quê.

Trong nghề làm sách, dăm bảy năm trước tôi từng biết một cây bút nông dân “nằm lỳ” ở quê vùng Nam Định viết được một cuốn tiểu thuyết, in ra, ban đầu được khen là ngồn ngộn chất sống, nghe nói quê hương tự hào lắm vì có anh ta; nhưng rồi người ta bới ra được những lỗi đụng chạm đến thần tượng hoặc uy tín nào đó, thế là cơn phê phán nổi lên, mà dư luận tại quê hương anh ta lại là gay gắt nhất!

“Quê hương nếu ai không nhớ

Sẽ không lớn nổi thành người!”

Người ta cứ việc hát như thế mà không để ý đấy là một câu rủa sả, đe nẹt ! Buộc phải nghe lời rủa lời đe nặng nề ấy, nhiều khi tôi muốn cãi : Sự thực lại là đã có biết bao nhiêu lớp người chỉ thành danh thành người được khi đã ra khỏi quê hương. Lại cũng phải nói: quê hương không chỉ đáng yêu, quê hương còn đáng sợ, đáng ngại, đáng ghét nữa chứ, trong mọi trạng thái tâm lý của mọi loại người?

Ai đã đọc Hemingway hẳn nhớ một truyện ngắn ông tả một anh lính sau chiến tranh về làng, bỗng thấy làng cũ của mình xấu xí đến nỗi chỉ có thể bỏ nó mà đi! Nguyễn Minh Châu cũng có truyện ngắn tả anh lính xa nhà lâu ngày, hình ảnh quê hương như đồng nhất với hình ảnh cô thôn nữ xinh xắn anh hằng thầm yêu trộm nhớ; nỗi sầu xứ đã đưa anh trở về ngôi làng cũ tan hoang sau chiến trận, để rồi anh phải thất vọng khi nhận ra “cố nhân” trong hình hài một mụ bán cá xiêu vẹo chao chát tanh tưởi!

Tìm đâu dễ một hồn thơ tài tình và tha thiết với đề tài quê hương như Nguyễn Bính? Nhưng sau quãng đời tha hương, đến quãng hồi hương mới thật ngậm ngùi làm sao! Mà gần như ông bị buộc về quê như cách đi “an trí” chứ đâu phải ông muốn về? Nhà thơ nổi danh khi ra ngoài thiên hạ, lúc về lại quê hương lại là lúc thân bại danh liệt; sự vinh danh chỉ trở lại 20 năm sau khi ông đã lìa đời! Cứ theo tình cảnh cuối đời của hai tài thơ đất Bắc là Tản Đà và Nguyễn Bính thì phải cay đắng mà kết luận rằng: chừng nào người đời tránh xa, quê hương ruồng rẫy, – ấy là thời điểm một thiên tài được xác nhận!

Nếu ở thôn quê con người bao giờ cũng được định danh thì ở đời sống đô thị, con người không phải bao giờ cũng hữu danh. Thậm chí có thể nói yếu tố vô danh (hoặc ẩn danh) hiện diện thường trực trong các quan hệ con người ở chốn đô thị. Anh chàng thi sĩ dù gắng kiếm tìm âm hao một “bóng hồng” từng thoáng qua mắt mình mà không dễ quên thì cũng chỉ có thể trở lại đúng nơi chốn cũ mà hỏi bâng quơ : “Cô gì hôm ấy lấy chồng hay chưa ?” (thơ Nguyễn Duy). Nếu một mặt, tính vô danh của con người nơi đây khiến các quan hệ chốn đô thị luôn ẩn chứa rủi ro, buộc người ta phải trù định những điều kiện ràng buộc, những ứng xử theo phương châm “cưa đứt đục suốt”, “tài tượng phân minh” nhằm hạ thấp mức độ rủi ro; thì mặt khác, tính vô danh lại là tấm áo giáp vô hình mà hữu dụng che chắn cho cá nhân, cả về các liên hệ dân sự thực tế lẫn về tâm lý, khỏi con mắt tọc mạch của người ngoài. Cá nhân vừa mạnh mẽ lại vừa yếu đuối. Đời sống cá nhân người ta có không ít điều không nên, không buộc phải cho người khác biết. Người ở số nhà bên cạnh, người ở căn hộ bên cạnh không cần phải biết họ tên, nghề nghiệp, nhiệm sở của bạn; sự “không biết” đó là khoảng tự do dành cho nhau giữa những “người dưng” nơi đô hội. Phải thừa nhận rằng về mặt bảo vệ tự do cá nhân và bí mật riêng tư thì không gian đô thị tỏ ra tốt hơn không gian làng xã, và ngay giữa các đô thị thì đô thị lớn tốt hơn đô thị nhỏ. Có lần, đến tận nơi một thành phố cao nguyên mà không thể gặp anh bạn nhà văn, bọn tôi đành gửi lời nhắn anh rằng : nếu ông ở Hà Nội hay Sài Gòn thì ai mà “phong toả” nổi ông?

Giữ lấy cho mình tự do cá nhân và bí mật riêng tư là nhu cầu phổ quát của mọi người sống trên đời, không riêng gì văn nghệ sĩ. Có một điều thoạt nhìn thì hơi trái ngược nhưng chẳng có gì khó hiểu lắm là khá nhiều người đã nổi tiếng trong hoạt động văn học nghệ thuật, đã quen tên quen mặt trên báo trên đài trên tivi, nhưng ở nơi mình cư trú lại muốn yên thân, muốn được coi như người vô danh không ai biết đến. Cá nhân con người vốn rất cần những không gian và thời gian chỉ một mình mình biết mình làm gì với ai ở đâu. Người đang sáng tác thường có nét tâm lý là rất ghét bị nhòm ngó từ gần hoặc từ xa, có lẽ vì sáng tác là hành vi rất mực cá nhân (ngay người thưởng thức nghệ thuật, dù đang ngồi sát cạnh những người khác trong rạp trong khán phòng thì hành vi thưởng thức cũng là một mình thế giới nội tâm từng người đối mặt với các dữ kiện đang diễn ra trên sân khấu hay màn ảnh trước mắt chứ không phải là người nọ tiếp nhận hộ người kia; hành vi tri giác bao giờ cũng là hành vi cá nhân).

Không phải ai cũng có thể sống và làm việc chỉ một mình, mình với mình hoặc với thiên nhiên. Người thường không dễ thích sống một mình, dù chỉ là những thời gian đơn độc dành để bồi bổ tri thức, thưởng ngoạn nghệ thuật hay dưỡng dục nhân cách. Ở các thành phố và cả các miền quê đang diễn ra một hiện tượng đáng quan sát, ấy là khi người ta có cơ hội làm được cơ ngơi bốn năm tầng với hàng chục phòng, nhưng “tân gia” được ít lâu thì mọi người trong nhà lại ít ở phòng riêng mà thường tụ tập về một phòng nào đó, căn phòng ấy mặc nhiên diễn lại cái quá khứ cả nhà chỉ có vẻn vẹn một phòng, người ăn cơm người xem tivi người chuyện vãn người ngáp vặt người ngủ gật người lọc xọc điếu cày, trong khi một loạt phòng khác đóng cửa phủ bụi! Sống bầy đàn có vẻ dễ hơn sống đơn độc; phải có nội lực, có văn hoá mới có thể sống đơn độc. Ở nước Nga trước trong và sau thời xô-viết vẫn luôn có những phụ nữ không lập gia đình, sống với những công việc buồn tẻ nhưng có ích lâu dài cho người đời ví dụ soạn từ điển, làm chú giải các tác phẩm kinh điển của văn học nước mình hoặc văn học các nước khác.

Có một điều không nên lảng tránh là các cá nhân trên đời, trong từng cộng đồng nhỏ hoặc cộng đồng lớn, – các cá nhân ấy có quy mô không ngang nhau. Tôi nói “quy mô cá nhân”, “tầm cỡ cá nhân” không theo cách nhà lý luận mà theo cách người quan sát đời sống.

Tôi nhớ, khi nói về Tản Đà những năm cuối đời, một ký giả từng nhận xét trạng thái của ông giữa những người khác là “kềnh càng”. Hiểu theo nghĩa trật tự giao thông ngày nay thì từ này trỏ phương tiện giao thông chở hàng cồng kềnh quá khổ quá tải; tức là nói “kềnh càng” là nói kích cỡ lớn hơn chiếm không gian nhiều hơn kích cỡ thường. Một con người tài năng với những thành tựu nhất định cộng thêm một vài cá tính nhất định sẽ mặc nhiên mang kích cỡ khác người thường dù thân hình thật của con người ấy vẫn ngồi lọt vừa trong một chiếc ghế thường. Chính cái kích cỡ “tinh thần”, “tính cách” của con người ấy mới là vấn đề cho những người xung quanh. Nếu người dân thường, nhất là thị dân, cứ việc vỗ tay xúm vào tung hô công kênh nếu thích ai đó “tầm cỡ”, hoặc lùi ra xa “mặc kệ nó” nếu không thích; thì giới chức dịch “nghĩ mình phương diện quốc gia” lại dễ xem sự hiện diện con người tầm cỡ khác thường trong khu vực mình quản trị là vấn đề không đơn giản. Giới chức dịch các xứ sở dân chủ lâu đời đã quen ứng xử với xã hội dân sự; cách quản trị của họ đảm bảo cho các cá nhân dù kềnh càng đến mấy cũng đặt vừa trong xứ sở ấy; ông Solzhenitsyn kềnh càng đến độ xã hội xô-viết phải trục xuất, vẫn đặt vừa vào đất Hoa Kỳ mà chẳng cần đặc cách hay ngoại lệ gì, dù sống nơi đất lạ cũng chỉ để tiếp tục làm Solzhenitsyn đến cùng mà thôi! Chứ còn như ở nơi nghe nói là sạch nhất thế giới là đất Singapore thì có người đến đấy trở về bảo rằng người thường sống được chứ người tài không sống được nơi ấy; nếp sống đất ấy vẫn thừa những cố chấp mà lại vẫn thiếu độ khoan dung cần thiết, không thể đẻ ra và dung dưỡng được thiên tài! Tôi chưa đến đất ấy dù chỉ một giờ, nên chỉ có thể ghi lại nhận xét của người khác!

Ta hãy đem vấn đề “quy mô cá nhân” trở lại “xã hội” làng xã để luận xem một nhà văn, một nghệ sĩ thời nay có thể tồn tại ra sao ở không gian vẫn cũ kỹ này?

Một nhà văn hay một nghệ sĩ hoặc một trí thức tự do nói chung, nếu không là quan chức viên chức, ở không gian làng xã sẽ được liệt vào hạng kẻ sĩ không thành đạt, sẽ thuộc hạng “dân thầy” , – không gần “quan thầy” nhưng gần “dân thợ”, – tức là gần với thầy giáo thầy cúng thầy bói xưa kia. Giới chức làng xã, giới chức địa phương nói chung, với quyền quản trị vốn có, đương nhiên tự xem mình ở trên hạng “dân thầy” này, tuy “tầm cỡ cá nhân” từng người trong giới chức dịch là chuyện rất mù mờ. Và nếu các loại “thầy”này tài sơ trí thiển, lam lũ kiếm ăn, lại cống nạp đúng lệ, thì giới chức địa phương làng xã có thể tạm vừa lòng. Chỉ những “dân thầy” tạo ra những sản phẩm có hiệu năng xã hội rộng lớn mới dễ làm bất an tâm trí cả giới chức lẫn xã hội thứ bậc làng quê! Nguyên nhân bề sâu chính là “quy mô cá nhân” của những “dân thầy” nào, do sản phẩm sáng tạo của mình mà tạo ra được hiệu quả xã hội rộng lớn, sẽ trở nên “kềng càng” giữa xã hội địa phương làng xã! Dùng lại chữ của thời Trạng Quỳnh, “người sang ngoài nước” bao giờ cũng mang tiềm năng gây khó chịu cho “kẻ cả trong làng”! Thành thử, “người sang ngoài nước” thường chọn nơi sống xa làng, vì biết cái luật đời “xa thơm gần thối”, ở gần dễ mất thiêng, dân thường hay ghen tỵ, đám sai nha hay quấy quả, bọn chức dịch hay rình rập, chỉ cần trong tiếng tăm “người sang” có thoảng mùi “phức tạp” là có cơ hội cho bọn họ ra tay!

Sống trên đời này dù ở đâu cũng không dễ. Những so sánh về môi trường đô thị và nông thôn làng xã nêu trong bài này cũng chỉ là những nét chính, có thể rút từ các nghiên cứu xã hội học hoặc dân tộc học về cư dân Việt, tuy người viết những dòng này thiên về kinh nghiệm, trải nghiệm riêng với tính cách một người Việt sống trong cộng đồng Việt.

Nói về sự thuận tiện hay khó khăn của môi trường xã hội, môi trường cư dân đối với đời sống cá nhân nói chung, cá nhân văn nghệ sĩ nói riêng, nếu chỉ đặt trong những lựa chọn nêu trên (đô thị,nông thôn) thì thật ra, ta vẫn mới chỉ tiếp cận ở phía thụ động. Nhưng cũng chưa dễ gọi tên từ phía chính diện vấn đề này là gì? Là nói về chất lượng xã hội của môi trường cư trú cho cá nhân con người? Hay là về một trong số các chỉ tiêu về chất lượng sống?

Trên những rao vặt về nhà đất trên báo chí trong nước bây giờ có thể thấy người ta lưu ý đến phương diện chất lượng cư dân, thể hiện ở lời rao: ngôi nhà, căn hộ hay mảnh đất được rao bán kia thuộc khu vực “dân trí cao, an ninh tốt”. Nhưng thật ra đấy cũng chưa phải tất cả nội hàm cần có trong chất lượng môi trường cư trú. Thậm chí có thể đoan chắc rằng các cộng đồng cư dân Việt trên đất Việt nói chung còn thiếu trải nghiệm để có thể là nơi cho những cư dân khác nhau về tôn giáo, về chủng tộc, về văn hoá, về xác tín chính trị hay đạo đức có thể chung sống ổn thoả cạnh nhau. Hình như học giả nhiều nước thường dùng phạm trù “khoan dung”(tolerance) để xác định các phương diện vừa nêu. Cách nay chưa lâu, có một năm nào đó mà “khoan dung” được quốc tế lựa chọn làm chủ đề văn hoá của năm; hình như giới văn hoá Việt Nam chỉ hưởng ứng ở mức tối thiểu, với một “hội thảo kỷ niệm” gì đó rồi cho qua. Thế mà ngẫm ra “khoan dung” lại chính là cái tinh thần còn thiếu nhiều hơn cả ở hầu hết các vấn đề của các cộng đồng Việt. “Khoan dung” chủ yếu không phải chỉ là khoan thứ, tha thứ, dung thứ theo đó người ta buộc phải chịu đựng cái mà mình cho là sai trái, lỗi lầm... được tồn tại cạnh mình; cái cách đầy hạ cố ấy không phải là tinh thần chính của khoan dung, dẫu rằng trong nội hàm khoan dung có ý nghĩa đó. Khoan dung (tolerance) chủ yếu là nói khả năng chấp nhận những khác biệt với mình được tồn tại bình thường bên cạnh mình, dù đó là khác biệt về niềm tin chính trị hay tôn giáo, khác biệt về chủng tộc hay văn hoá. Các cộng đồng người Việt, theo tôi, còn thiếu thốn đáng kể về tính khoan dung, còn cần được bồi bổ đáng kể về đức tính khoan dung, để có thể chung sống cùng nhân loại trong hiện tại và tương lai.

Trở lại chuyện cư trú của giới nhà văn nêu ở đầu bài viết này, người ta nhận rằng ở Đông Âu và hầu khắp các nước trong Liên bang Xô-viết cũ, hiện giờ mức tản mác về các địa phương của giới nhà văn tăng lên; có thể bởi nhiều lý do nhưng chắc hẳn sự “phi tập trung hoá” giới này có liên quan với sự mở rộng không gian xã hội dân sự ở các nơi này. Ở nước ta, sau 1975, một phần khá lớn giới cầm bút vào sống ở Sài Gòn khiến nơi đây trở thành điểm cư trú của giới nhà văn đông đảo có lẽ ngang Hà Nội. Ngoài hai điểm tập trung này, ở những nơi khác số lượng nhà văn cư trú ít hơn hẳn, và ở nông thôn lại ít hơn ở đô thị. Sự việc một vài nhà văn cư trú ở thôn quê hoặc ở tỉnh nhỏ bị một số chức dịch địa phương “hành” dễ hơn nhà văn cư trú ở đô thị cho thấy môi trường cư trú ở đây vẫn ít thuận lợi cho những người làm nghề sáng tạo tinh thần, nghĩa là môi trường cư trú vẫn chưa đổi thay chất lượng. Đây là cả một giới hạn chưa dễ vượt qua trong nhiều năm tới.

LẠI NGUYÊN ÂN
(Hà Nội, 30/4/2006)

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 844)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20262:56 SA(Xem: 876)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 1172)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 1037)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 1256)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 1363)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
23 Tháng Tư 202611:15 CH(Xem: 1326)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 202610:39 CH(Xem: 1193)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 20269:06 CH(Xem: 1769)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
23 Tháng Tư 20264:50 CH(Xem: 1914)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9311)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16146)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15164)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15505)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 844)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 1172)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 1256)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
23 Tháng Tư 20269:06 CH(Xem: 1769)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 3500)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 5300)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 4840)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
(Xem: 5468)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 1037)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 1363)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
23 Tháng Tư 20262:19 CH(Xem: 1678)
Xe lăn bánh, bụi mù mịt xóm Chùa. Tôi nhìn theo cái xe biển xanh của Thuận, vừa buồn cười vừa thấy lòng nhẹ nhõm. Thuận có làm đến bộ trưởng thì cái tính khôn lỏi, dỗi dai và cái kiểu "anh anh em em" nửa đùa nửa thật để rồi dúi vào tay người khác cái chổi quét nhà, con dao băm bèo, thái khoai chắc cũng chẳng bao giờ bỏ được. Mà thôi, cái làng Đá này nếu thiếu một thằng Thuận cứ thích bĩu môi, thích mắng người khác là "ngu lắm cơ" rồi nguây nguẩy cái mông quay mặt đi cười thầm thì chắc cũng chẳng còn chuyện hay ho gì để mà kể.
19 Tháng Tư 202611:05 CH(Xem: 1665)
Biển Nha Trang có những ngày lặng gió. Nước trong xanh. Nhưng cái lặng ấy không phải lúc nào cũng bình yên. Có những cơn sóng được giấu rất sâu. Cuộc đời Thục Nhi cũng vậy.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1326)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1193)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1463)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 1524)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 12190)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 28571)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35068)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
07 Tháng Năm 2021(Xem: 34968)
...một thập kỷ gian nan của nông dân Dương Nội qua cuộc trò chuyện với anh Trịnh Bá Phương - một trong những người có mặt từ đầu - đã góp phần không nhỏ trong nỗ lực xây dựng sự đoàn kết đấu tranh dai dẳng của bà con. Mong rằng chúng ta sẽ học được nhiều điều từ họ, những người mà nhà thơ Hồng Nguyên gọi là “Áo vải chân không đi lùng giặc đánh”.
(Xem: 9704)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 11922)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 876)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 1172)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 1769)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 1914)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 2218)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 6937)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 6345)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 8301)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.