- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,578,792

THƠ PHAN VÕ HOÀNG NAM

07 Tháng Chín 202110:14 CH(Xem: 705)
NguyenHoangNam
Chân dung Phan Võ Hoàng Nam


LTS: Lần đầu cộng tác cùng Hợp Lưu. Phan Võ Hoàng Nam là bút hiệu của người làm thơ ở miền sông nước An Giang. Anh làm thơ, sáng tác nhạc, viết tản văn đăng trên các tạp chí và báo mạng Internet.

Đã xuất bản tập thơ “Nhà Không Có Đàn Bà” do nxb Văn hóa-Văn Nghệ 2019.
Có in chung với các bạn văn, thơ, một số tuyển tập thơ, văn...

Ngoài ra anh còn sử dụng chất liệu đá grannit Bảy Núi tạo nên một dòng tranh riêng biệt Tranh đá Bảy Núi, và đã Triển lãm tranh đá Bảy Núi 4-2010 tại huyện Châu Phú - An Giang và tháng 12-2010 tại thị xã Châu Đốc - An Giang.

Chúng tôi hân hạnh gởi đến quí độc giả và văn hữu Hợp Lưu những thi phẩm của tác giả Phan Võ Hoàng Nam.

 

TẠP CHÍ HỢP-LƯU

 

 

 

Thơ      

PHAN VÕ HOÀNG NAM    

 

  

NHỮNG LINH HỒN LẶNG LẼ

  

Những linh hồn lặng lẽ bay lên từ ngọn lửa

Đi qua ngàn khung trời lạnh buốt

Hắt hiu

Những vì sao ngoảnh mặt cuối trời

Không có tiễn đưa

Chẳng một lời kinh thứ tội

 

Chúa ở nơi đâu để những nguyện cầu tan trong thinh lặng

Có lời sám hối nào cho phút lâm chung

Nỗi đau giờ đâu chỉ là dấu đinh trên thập giá

Tấm vải liệm hoá tro có về đến chốn thiên đàng

 

Phật có buồn

Nhìn muôn nẻo điêu linh

Thiện ác một đời thảng thốt

Những linh hồn lặng lẽ rời đi trong vô vọng

Có kịp thì thầm bao ước mộng đời người

 

Xin lời thỉnh cầu xóa hết những nỗi buồn

Đừng như sợi khói giữa hư không. Tan biến!

Dẫu khép lại ngày đi  

Cũng mong nẻo về nắng ấm

Cho những linh hồn không lặng lẽ niềm đau

 

Phan Võ Hoàng Nam

(25.8.2021-Những ngày dịch)

 

 

KHÓI CHIỀU ĐỒNG NƯỚC

 

Tháng chín

Ngẩn ngơ cơn lũ

Mẹ thở dài

Khói bếp chiều cay mắt

Mùa trôi theo dòng nước vô tình

 

Tháng chín

Con cá rô trở lại dòng sông

Cà na rụng đầy

Xao xuyến

Xuồng câu đâu còn đêm về bến

Con nước lên mẹ vẫn chong đèn

 

Phép màu nào cho đôi tay mẹ

Chắc chiu cùng đất

Tháng năm

Run rẩy lúa non chưa kịp mang giọt sữa

Chấp chới đồng sâu

Bông súng trắng chơi vơi

 

Câu hát xưa ai lấy chồng xa

Bờ điên điển buồn trông nước chảy

Cô gái xóm trên áo hoa ngày lũ

Câu ca dao rơi giữa cánh đồng

 

Mẹ một đời qua bao mùa lũ

Thời con gái theo chồng bủa lưới đồng sâu

Leo lét đèn dầu

Xuồng câu dập dềnh sóng nước

Đói no, buồn vui

Con nước lớn  ròng

 

Lũ vẫn như xưa

Mẹ giờ phất phơ tóc trắng

Tím bầm gót chân

Ngày tháng lo toan

Nước đêm

Chập chờn giấc ngủ

Mơ cánh cò lồng lộng phủ đời con

 

Tháng chín

Lục bình trôi ra biển

Nước cầm đồng

Mùa theo sóng mênh mông

Một đời đi qua bao mùa lũ

Con nước về

Mắt mẹ vẫn cay

 

Phan Võ Hoàng Nam

 

 

XA RỒI MÙA CŨ

 

Tôi đi tìm con nước tuổi thơ

Tháng bảy mưa bay

Dòng sông đỏ quạch.

Rau muống bò lên triền đê

Đợi nước

Cây gáo rụng hoa vàng, tiếc những mùa qua

 

Ừ, đã xa

Thuở ôm cây chuối lội sông

Ba bốn đứa tranh nhau trái cà na thơm lựng

Xuồng nhỏ tròng trành, cha quăng mẻ lưới

Chiều xóm quê! 

Canh chua rau nhút thơm lừng

 

Mùa nước về quê

Thuyền xuôi ngược trên đồng

Mẹ đón cá ra sông ủ thêm lu nước mắm

Em đến trường xắn quần lội qua cầu khỉ

Con nước rong

Trăng giỡn giữa đồng


Ai trả lại tôi mùa cũ

Ngày thơ

Con cá linh buồn xuôi dòng ra biển

Phía đầu bãi em thôi gánh nước
Phù sa trôi

Quặn thắt lòng nhau

Điên điển đâu còn vàng rực ven sông

Chiếc cần câu giờ im mình bên chái bếp
Chốn quê ơi! ngược xuôi bao con nước
Mùi canh chua quyện mãi một đời người.

 

Phan Võ Hoàng Nam

 


BÊN KIA CON ĐƯỜNG

 

Em vụt khỏi vòng tay anh
Bên kia con đường
Rực nắng

Ở đây mưa. Dòng sông đầy
Nước mắt
Chuyện tình buồn như lá mùa đông
Xao xác cõi lòng

Sao vụt khỏi đời nhau
Lẩn trốn tháng ngày
Hư ảo
Mong manh như khói sương chiều…
Tan biến!
Nơi trú thân bình yên vụt mất
Vụn vỡ thiên đường

Sao đánh mất đời nhau
Mênh mang mùa thu
Héo hắt
Khép lại ước vọng ba sinh
Mộng mị
Vương miện vàng hóa cành hoa héo
Hoàng hậu mất ngôi

Ở giữa dòng sông trôi
Chia đôi con nước
Ngã rẽ
Phương trời  mờ mịt khói sương
Ngược xuôi
Ngày tháng hao gầy, mùa thu qua cửa
Gậm nhấm niềm riêng...

Bên kia con đường
Nắng
Tiếng mưa đêm có nhức cõi lòng
Thênh thang đời sao không chung lối
Hoàng hôn buông
Tiếc nuối...
Tàn phai

 

Phan Võ hoàng Nam

 
                                   

NHÀ KHÔNG CÓ ĐÀN BÀ

Nhà không có đàn bà
Chái bếp bao năm chưa một lần dọn dẹp
Ba gã đàn ông
Buổi cơm chiều hiu quạnh
Chén rượu buồn đắng chát bờ môi

Ba mươi mùa thu qua cửa
Trôi xuôi
Không có những nụ hôn
Đêm thở dài cùng với bóng
Người đàn ông già tóc phai bị neo vào ký ức
Từ độ người về phía hư vô

Nhà không có đàn bà
Những  gã đàn ông say quắt quay
Mơ giấc mơ có hương hoa huệ
Đầu bạc đầu xanh
Ước mong, nuối tiếc...
Kỷ niệm phai, con sóng  xa bờ

Nhà không có đàn bà
Những đứa con trai loay hoay bên triền ký ức
Lóng ngóng tìm
Chấp chới những cơn mê
Người tóc trắng đêm đêm đợi sáng
Dấu hài xưa... cánh nhạn cuối chân trời

  

Phan Võ Hoàng Nam

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 1069)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1138)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 1826)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 5867)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 5839)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13181)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 30066)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81205)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20237)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
18 Tháng Chín 20215:41 CH(Xem: 364)
hai người trò chuyện / hơi ấm mặt trời mơn trớn / cửa bên trong người đàn bà hé mở / miền đất từ lâu không dung nạp sự sống / dòng nước chảy ngang nảy hạt / cong về ánh sáng quên lòng đất tối