- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

KỶ NIỆM 110 NĂM NGÀY SINH NHÀ VĂN LƯU TRỌNG LƯ (19/6/1911-19/6/2021) NHÀ VĂN CỦA TÌNH THƯƠNG

02 Tháng Bảy 20216:30 CH(Xem: 29124)


LuuTruongLu

Mai An Nguyễn Anh Tuấn

KỶ NIỆM 110 NĂM NGÀY SINH NHÀ VĂN LƯU TRỌNG LƯ
(19/6/1911-19/6/2021) 

NHÀ VĂN CỦA TÌNH THƯƠNG

 

 

                                        

 Nếu được sống trăm lần

Chúng con xin nguyện được chết trăm lần

Vì đất Mẹ

Đất vô lượng tình thương

                                            Lưu Trọng Lư

 

 

Giữa những ngày nóng nực tháng 6 này, giữa cơn "địa chấn" của lòng người trước chủ quyền Đất Nước bị xâm phạm trắng trợn từ nhiều năm nay, tôi đã bỗng nhớ đến một bài thơ yêu nước Tây Ban Nha do chính nhà văn  Lưu Trọng Lư đọc cho nghe, cách đây gần ba chục năm, trong căn buồng của nhà văn đối diện phía sau Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Có mấy câu in hằn trong tâm trí tôi:

                                                                                              

Nếu tôi đã mở môi để ngợi ca Tổ quốc

Ngợi ca mặt sáng trong và dữ dội của Người

Mở đến nỗi đôi môi tôi xé rách

Thì vẫn còn đây lời nói của tôi …

( Blax Đê Ôterô )

 

Nội dung bài thơ Tây Ban Nha trên và cái cách thể hiện nó của nhà văn đã khiến tôi rung động sâu sắc. Đôi mắt ông long lanh ngấn lệ, giọng đọc tương phản với mưa thu buồn bã bên ngoài... Lúc đó, ai dám nghĩ rằng, người say đắm những vần thơ rực lửa kia lại là người đã từng ngồi trên một gác xép nghe mưa rơi: Mưa chi mưa mãi/ Buồn hết nửa đời xuân/ Mộng vàng không kịp hái, và để dành thi hứng của một thủ lĩnh phái "Nghệ thuật vị nghệ thuật” cho những cuộc chia ly, những cuộc tìm kiếm vô vọng: Tiếng sóng vỗ trong giờ ly biệt/ Nghe vội vàng bi thiết bao nhiêu. Và cũng chính ông là người đã thâu tóm được một cách thần tình cái tâm trạng ngẩn ngơ tội nghiệp của cả một thế hệ trong bài thơ Tiếng Thu bất hủ. Nhiều người đã phân tích rất hay và thấu đáo về bài thơ đó. Nhưng theo tôi, chưa ai vạch ra được điều này: đằng sau bóng sương mù thổn thức và người cô phụ héo mòn là nỗi niềm khao khát tình yêu thương đồng loại của nhà văn, giữa một không gian thiếu vắng tình thương. Và đó cũng chính là sự "bi thiết" tận đáy lòng của một nhà văn nổi tiếng vì đa cảm và mơ mộng!

 

Ngày em ra khỏi nôi

Bập bẹ đôi tiếng làm người

Anh đã sớm hái vần thơ tội lỗi

Quằn quại tuổi hai mươi

Đôi cánh phòng khuya không hé mở

Nằm nghe vọng lại tiếng thương đau:

Nửa đời úp mặt trong đêm tối

Từ trên gác lạnh, viết thơ sầu!

 

Suốt những chặng đường sáng tác sau đó của nhà văn, sự khắc khoải đến"bi thiết" của một người tự nhận Ta: giang hồ một thi sĩ/ Dừng nghe tiếng gọi từ xoáy hồn ta bao giờ cũng là Tình thương:

 

Đi giữa vườn nhân dạ ngẩn ngơ

Vì thương người lắm mới say thơ…

 

Cái tình thương trĩu nặng và xa xót với Đời khiến trái tim nhà văn thường rỏ máu - và đó cũng là lúc Thơ xưa và Thơ nay hòa nhập trong ông để bật ra những vần thơ trang văn có "Thần" có thể giúp ông tiếp tục khẳng định vị trí không ai thay thế nổi của mình trên văn đàn Việt hiện đại:

 

Ai đưa khúc Bình Minh Anh Vũ

Cho ta, trong chiều xế Đỗ Quyên?

Ai làm hồng máu con chim

Cho tiếng hót trong ngần bên cửa số?

 

Cuộc sống gian nan đau khổ, Quỷ, người lẫn lộn/ Tình nghĩa liêu trai nhưng  cũng chan chứa ân tình đáng trọng dường như lúc nào tìm thấy ở người thi sĩ vốn nhiều nước mắt này một sự ký thác sâu nặng :

 

Trong cuộc hành trình bão táp

Tôi vẫn ngừng chân ngắm hoa dại bên đường

Mở cảng lòng đón những cánh chim cô đơn

Những hồn oan đang vật vờ trốn tuyết

 

và:

 

Có hạt máu vùi thân cho đất sạch

Có tia nắng chiều muốn hoá kiếp ban mai…

 

Khi nhà văn đề xuất một phương châm sống và tuyệt đối trung thành với nó cho đến giờ phút chót trên cõi thế: "Ta thà bị lừa còn hơn không tin vào con người", thì ông đã từng trải qua Những bão bùng và những hạn hán/ Những trận mưa lay đất, những cơn khát bỏng trời, đã Từ đỉnh mộng tôi xuống tận hố đời để chứng kiến và miêu tả biết bao câu chuyện thương tâm, những bi kịch đủ loại, những thất bại của con người nơi thôn dã hay thành thị, đã nhận ra sự mong manh của phận người; và vô tình ông đứng vào hàng ngũ của những triết gia-nhà tư tưởng, vượt xa những phạm trù đạo đức luân lý của một thời để có thể khái quát thân phận cả nhân loại, cùng triết lý ứng xử đầy nhân bản: Ta thà bị lừa còn hơn không tin vào con người! Đó là biểu hiện của một tình yêu thương rộng lớn chân thành, một nhân cách cao cả, một trí tuệ mẫn tiệp. Và đó cũng là dấu hiệu đích thực của một nhà văn lớn.

 

Ngay cả khi "ngơ ngác" như một chú nai vàng vô tội, nhà văn cũng đã dấn bước vào con đường của những nhà văn hiện thực. Rồi tới khi trải lòng mình theo những biến cố lịch sử dân tộc, ông vẫn gắng nhìn thấu cõi đời này để tiếp tục lý giải đến tận cùng sự thật ở tận "mép bờ hữu hạn" lẫn tâm trạng của người nghệ sĩ ngôn từ - những gì mà trước kia ông đã từng lý giải trong nỗi thảng thốt giật mình ta thấy bồ hôi lạnh để rồi lại chìm sâu hơn trong chán nản tuyệt vọng:

 

Bãi nhân sinh trơ một đá ngồi

Trầm luân – căm giận

Đường xoài – chim động

Một cánh soi

Một tiếng người

Vòng vọng

Thú gào

Bụt ngủ

Em thẫn thờ

 

Sự tìm tòi hình thức thể hiện văn chương ở đây cũng chính là kết quả của một quá trình căng thẳng đào sâu vào nội tâm của người cầm bút, cũng như tới tận cốt lõi hiện thực.

 

Nhà nghiên cứu văn học Đỗ Quyên (Canada) ngay sau khi đọc nhanh bản thảo tập thơ "Bài ca tự tình" mà tôi gửi, đã được biết thêm ba bài nữa: "Từ vách này thời gian ta gõ", "Cánh vạc", "Bầy nhện và nhà thơ", và anh đã như reo lên trong một thư điện tử mới nhất: "Với nhiều sáng tác ở thể loại thơ có dung lượng lớn như vậy, nhất là về phong cách và ngôn ngữ, tôi xin được coi Lưu Trọng Lư là Nhà trường ca lãng mạn thượng thặng. Chất LÃNG MẠN của Thơ Mới thật khủng khiếp! Và tôi đã vừa thắp ngay nén hương để tạ lỗi Cụ: Như không ít người, kẻ này đã hiểu sai giai đoạn “thơ CÁCH MẠNG” của tiền bối. Rất lạ. Hiện đại mà tươi tắn, khác cả về thi pháp hình thức với dòng trường ca - thơ dài đã có; không kể với khuynh hướng sử thi thường thấy thời đó mà ngay cả với dòng thơ dài đã trở thành biểu tượng của ‘trường ca’ như các bài ‘Những người trên cửa biển’ (Văn Cao), ‘Em ơi - Hà Nội phố’ (Phan Vũ), v.v. Lạy Chúa! Chúng con chẳng ‘lãng mạn’ mà cũng chửa ‘hiện thực’ được tới độ siêu đẳng thế này, Cụ Lưu ơi:

 

Một ngày thu bừng nắng mới

Da thịt bỗng xôn xao

Em ngơ ngẩn ra vào

Xuống sân em soi mình trên “vũng sáng”

Em mổ mổ từng hạt nắng

Ôi, ngăn sao được lòng em vui?

Nhấc chân em xoay tròn điệu múa

Vướng trên mình còn đôi cánh bay bay.

Ai lượng hết chuyện sớm chiều tráo trở

(….)

Gái mười bẩy

Một dòng sông chảy

Cuộn hút cả trời xanh

Chiếc mũ rơm, hào quang sáng rực

Em phá cửa, em giộng chuông

Đường em bay lạnh giá các thiên đường

Em châm lửa đốt ba tầng địa ngục

Rạng rỡ hành tinh

Ngơ ngẩn nhân tình."

 

Với sự ra đời của bộ sách đồ sộ "Tác phẩm:Truyện ngắn &Tiểu thuyết" (NXB Lao động &Trung tâm ngôn ngữ Văn hóa Đông Tây, 2011) và tập thơ dày "Bài ca tự tình" ( NXB Hội nhà văn, 2011) gồm những bài thơ & trường ca hầu như chưa hề được công bố của nhà văn Lưu Trọng Lư, các nhà nghiên cứu văn học trong & ngoài nước sẽ đủ tư liệu văn bản để có điều kiện đi sâu vào những vấn đề thi pháp học như phong cách, phương pháp sáng tác... nhằm đánh giá một cách toàn diện, chuẩn xác về một nhà văn quá ư phong phú mà dường như bị lãng quên, bị coi nhẹ về văn xuôi hư cấu-tự sự, và về thơ ở giai đoạn sáng tác từ sau Cách mạng tới nay. (Trong phạm vi bài báo nhỏ này, với năng lực có hạn, tôi chỉ dám lạm bàn về một khía cạnh thuộc về nội dung tư tưởng của Thơ Lưu Trọng Lư mà theo thiển ý riêng tôi là hết sức quan trọng: khát vọng Tình thương )

***

 

Khi nhà văn Lưu Trọng Lư đã tìm thấy "Vòng quỹ đạo của thơ tôi" - cũng có nghĩa là tình yêu thương thường trực tìm được "địa chỉ " để gửi gắm; hàng loạt tập thơ, tập tuỳ bút, bài báo, vở kịch ra đời dồn dập giống như một thứ "nhật ký tinh thần" của nhà văn. Trong thơ văn cũng như trong đời sống thường nhật, điều đáng yêu và đáng quý nhất ở nhà văn này là sự chân thành. Chân thành đến ngây thơ và cảm động. Ở ông, văn thơ và đời hầu như không có gì tách biệt. Ông yêu những vần thơ trong trẻo của cô thợ máy Lý Phương Liên đến nỗi, trong lúc ăn cơm ông cũng dừng đũa ngâm nga: Buộc cánh anh/ Buộc cánh anh, cũng chẳng thành tình yêu... Và khi biết Lý Phương Liên cùng người chồng là nhà thơ Nguyễn Nguyên Bảy bị hành "lên bờ xuống ruộng" bởi mấy câu trong bài thơ "Nghĩ về Thúy Kiều", ông đã chảy nước mắt lo lắng xót xa... Kẻ viết những dòng này còn nhớ rõ cái lần được tháp tùng ông - lúc đó là Tổng thư ký Hội nghệ sĩ Sân khấu về thăm đoàn kịch nói ở Nam Định; trong bữa ăn trưa, giữa lúc hăng hái nhận xét về vở diễn mới của đoàn ông cũng kịp nhận thấy mâm cơm của các nghệ sĩ chỉ có rau, ông liền bưng cái đĩa thịt gà đãi khách duy nhất sang cho họ, khiến tất cả lặng đi nghẹn ngào…

 

 Và đêm nay, giữa những con người

Tôi vẫn gửi thầm một tiếng thương trong trẻo

 

Bí quyết lớn nhất tạo cho nhà văn sức mạnh tinh thần để sống qua mọi nỗi cam go và dũng cảm viết phải chăng chính là giữ mãi hồn thương? Ông thương khóc cho "Bé Nga" ở Thanh Hóa bị bom Mỹ giết hại. Ông thao thức trằn trọc khi nghĩ tới những con người vô gia cư mà ông gọi là Những cánh vạc trong đêm Niu Đenli... Cả đời ông khao khát được đi trong nghĩa tình không biên giới. Cả đời ông băn khoăn vì chữ thương chưa trọn... Ông căn dặn các con:

 

Như con ong phải săn hương sục mật

Con người phải trải đẹp tấm thương

Và trên  những  tờ giấy trắng  tinh

Con ghi lại những gì đời lặng thầm bỏ sót

Và những gì con người đã làm được

Cho con người !

 

Tình thương mà ông có được và hiểu được sau bao nỗi cô đơn lạnh người đã trở thành nguồn thi hứng lớn nhất cho sáng tạo thơ văn:

 

Có khúc nhạc nào bằng khúc nhạc ấy

Của lời trao tiếng gửi giữa con người

Cũng bấy nhiêu tiếng khóc tiếng cười

Mà vàng ngọc thế gian không sánh nổi

 

Tình thương đáng kể nhất của nhà văn là dành cho người phụ nữ xưa nay - những người vợ, người mẹ, người chị, người em gái, mà đối với họ “không những tôi có một tình thương mà còn nhìn thấy một vẻ đẹp mà tôi trân trọng suốt đời” (Mùa thu lớn). Nhà văn viết nhiều về người mẹ và người chị của mình mà "cả cuộc đời chỉ có nước mắt ", và sau đó là về những người mẹ Việt Nam mang "tấm lòng đại nghĩa" tiễn chồng tiễn con đi mỗi khi có tiếng gọi non sông... Ở đoạn đời nào, nhà văn cũng dành bao xót thương cùng sự bênh vực tha thiết cho Thúy Kiều - nhân vật "từ bao giờ làm tôi quý thương hơn bội phần", nhân vật xã hội - thẩm mỹ đặc biệt ám ảnh ông và buộc ông trăn trở đến cháy lòng về sự nghiệp giải phóng phụ nữ, giải phóng con người…

 

Nhà văn diễn đạt về sứ mệnh của người nghệ sĩ trước cuộc sống một cách độc đáo, hồn hậu, và sao cũng trĩu nặng tình thương :

 

Một câu thơ cũng phải mồ hôi từng giọt đổ

Cũng sẽ làm toát mồ hôi

Những uỷ ban kế hoạch...

Thơ tôi không có buổi có giờ

Giữa cuộc sống thường xuyên có mặt!

 

Là một nhà văn giàu tình thương cố gắng nhặt từng hạt ngọc mà đời lặng thầm bỏ sót, ông cũng là một cây bút nguyện bằng thơ văn Đạp đổ những thành trì hờ hững. Nhà văn nhiều lần khảng khái tuyên bố: "Tôi là kẻ thù của khuôn sáo, của thờ ơ, của cỗi cằn" và chỉ mặt gọi tên: "Tội nhân cũng là ai đó hững hờ!"  Sự hờ hững mà thi sĩ nói đến hôm nào phải chăng chính là sự vô cảm hiện đang có sức tàn phá ghê gớm trong tâm hồn không ít những người cộng sản tha hoá và trong nền tảng đạo đức xã hội đương trên đà xuống dốc! Nặng lòng yêu thương nhưng minh mẫn, rạch ròi, ông tuyên ngôn mà như tự nói với chính mình :

 

Đừng loá mắt trước những hào quang lộng lẫy

Hay đếm từng vết hằn trên lưng sự thật !

Và thơ nữa, thơ ơi

Thôi đừng làm duyên làm dáng nữa !

 

Tình thương lớn đã cho nhà văn một nỗi xót xa căm giận trước những bất công xã hội, trước "những bữa ăn láo xược" khi mà đời sống của phần đông người lao động còn vất vưởng... Càng về sau, thơ văn ông càng chất chứa một sức mạnh tinh thần có khả năng cảnh tỉnh xã hội:

 

Cái lương thiện chết mòn

Cái bất nhân lên mặt

Nghênh ngang những hình người

...

Đuổi vô luân

Đuổi dốt nát, thờ ơ vô cảm

Đuổi cái thói coi con người chỉ là cái cán cờ, cán cuốc!

 

Vào cái thời mà sự nể sợ quá đáng trước công quyền vẫn còn thống trị, ông đã dám ngang nhiên nói thẳng :

 

Bạn bè đồng chí đi đâu hết

Sợ chưa, buốt lạnh một cung đàn

Trên tường treo lớn chữ thờ Dân

Giấu khéo trong sương lụa lộng tàn

Chỉ biết một đời lo lót ổ

Quỷ cướp mất hồn, tiếng chẳng oan !

 

Lòng căm giận tới độ uất hận của một trí thức chân chính nặng tình yêu dân thương dân được diễn đạt như nét panh-xô của người họa sĩ xiết mạnh trên mặt vải:

 

Phải biết bao sông núi

Mới rửa sạch cặn bã tâm hồn

Mới kỳ cọ sạch nham nhở lương tâm

Trong biết bao bộ ngực đẫy đà phồng căng

Không phải những trái tim mà lửng lơ những thớ thịt!

 

Khi nhà văn "Nghĩ phận mình", ông khiến không ít kẻ phải giật mình xấu hổ - nếu như họ còn chút liêm sỉ:

 

Hết rét lại lụt liên tục

Dân đen tai nạn không hồi phục

Chẳng cách gì làm dân yên

Cũng đường đường kẻ sĩ

Nghĩ mà nhục! ( Dịch thơ Cao Bá Quát)

 

Không phải ngẫu nhiên mà ông yêu thích Maiakôvski - người đã từng viết những vần thơ bỏng lửa ném thẳng vào mọi ung nhọt của xã hội Xô-viết và khinh thường lũ "hoạn quan trữ tình”* cơ hội vốn chỉ quen nhấm nháp thú buồn vui bé nhỏ lạc lõng... Lao động nghệ thuật không mệt mỏi cũng là một cách để nhà văn tự hoàn thiện mình và vỡ lẽ ra những quy luật đau đớn của "Đường vào chân lý":

 

Qua mỗi hoàng hôn, xé xác

Mỗi ban mai con chim nhỏ lại chào nắng hót trên cành

Cả trời đất phải cúi đầu trước uy nghiêm

Định luật.

.....

Không trồng hoa giả trên mặt đất

Chẳng bán rao văn giữa chợ trời

....

Từ trong điệu vần khổ đau nhức nhói

Ta đổi mới đời ta

Ta đổi mới thơ ta

Tiến lên và cùng hát

Lương tâm đã chắn hết nẻo lui rồi…

 

Trong những năm cuối đời, khi tình yêu không cô quạnh nữa, và khi  tim anh còn chan chứa ân tình, mạch thi hứng của nhà văn vẫn giữ được sự hồn nhiên, say đắm, ngỡ ngàng của thuở hoa niên, đồng thời lại vươn tới sự khái quát sâu sắc và trầm tĩnh về chính đời mình, về những chặng đường lịch sử của dân tộc, về những vấn đề lớn lao và gay gắt đang đặt ra trên quy mô cả hành tinh. Với "trữ lượng tình thương" chưa bao giờ vơi cạn, nhà văn đã nhìn trước được hàng chục thập kỷ những vấn nạn xã hội trên nhiều lĩnh vực - đặc biệt là văn hóa, đời sống tinh thần... Không hiếm những lúc Trong đêm đen tắt phụt ngọn đèn/ Mặc cho số phận từng cơn lửa chớp, nhưng ông luôn tự trăn trở vượt qua bao dằn vặt để Bình minh đến với một tiếng đàn trong trẻo nhất. Trên giường bệnh, nhà văn vẫn căm cụi viết không kể ngày đêm - thơ, kịch, tuỳ bút, hồi ký, thư từ, kiến nghị... ông không mệt mỏi thể hiện sự trân trọng đối với tài năng của tuổi trẻ, cổ vũ tình yêu thương giữa con người với con người, đức hy sinh vì nghĩa lớn... Có thể nói, ông là một trong những nhà văn hiếm hoi đủ sức dựng lên cả một triết lý về tình thương rồi vận nó vào số phận của một dân tộc, và truyền tới người đọc một cách trực cảm đầy sức lay động.

 

Ôi! Bé bỏng một tấm thân người

Một chiếc thuyền nan bồng bềnh giữa hai bờ sống chết.

Có nỗi thương của Jêsu, có nước mắt của Phật

Và trên tay áo này,

Trên tay áo này

Những giọt đau!

Những giọt đau!

Của mẹ, của em của những bọt bèo số phận

Nằm nghe những tiếng chao chân

Trên một bến bờ vực thẳm.

Đời sao có những say đắm

Trong cõi lạnh hư vô?

 

Chính vì thế ông có đủ lý do, đủ tư cách để trân trọng thi hào Tagore và đưa ra tuyên bố đàng hoàng của một trí thức Việt Nam: "Ca-muýt! dẫu người là ai, ta cũng muốn đuổi người ra khỏi mảnh đất nầy,Tổ quốc của tình thương”. Trong trường ca Thơ-Văn xuôi mượn hình thức tình ca "Từ vách này thời gian ta gõ", nhà văn có viết một đoạn "luận chiến" cũng độc đáo như thời các ông ra Tuyên ngôn Thơ Mới:

 

Anh đã hỏi Niết-sơ, cả Sô-pen-hao

Anh giữ lại Ca-muýt để tra hỏi.

Và cái giọng của anh thật là dứt khoát: “Các người thật là thông minh tài giỏi, nhưng các người đã làm vẩn đục, làm đen tối cuộc sống. Các người đã phá phách cuộc sống. Đất này của sự trân trọng, của tình thương. Xin các người đừng cập bến. Ở Paris, ở New York còn ít nhiều ngõ trống cho các người làm ăn được. Nhưng chúng tôi cảnh cáo các người: Xin đừng có bén mảng đến cái xứ sở thần thánh của chúng tôi, nơi các mẹ chúng tôi đang theo từng giấc ngủ các con. Ôi, những người mẹ đau khổ nhất của chúng tôi trên trái đất này, nhưng không dung thứ sự phá phách của các người. Qua khe cửa nhìn vào, các người có thấy gì không? Một “đạo sĩ” đầu bạc, râu bạc. Tagore đấy, Người đã nói: “Trái tim dào dạt niềm vui, hân hoan sinh thú, ca ngợi mùa xuân, gửi qua trăm năm tiếng nói yêu đời!” Nhà thơ ấy cũng là bạn của chúng tôi".

 

Khi cuộc sống của nhà văn chỉ còn tính bằng những giây phút cuối cùng, một cô y tá đề nghị ông làm thơ, ông đã thốt lên những lời sau rốt: "Vô ích" -  tổng kết toàn bộ "triết lý tình thương" và khát vọng tình thương mà ông theo đuổi trọn đời:

 

Vô ích!

Không ai giữ nổi ta hết!

Ta đi tìm người ta yêu

Cứu nhân của đời ta...

 

Phải, tất cả là vô ích, là vô phương cứu chữa nếu như con người sống nguội lạnh tình thương! Cuộc sống sẽ là vô nghĩa, là bãi sa mạc khủng khiếp khi tình thương trở thành thứ để mua bán, đổi chác! Thông điệp cuối cùng mà nhà văn gửi lại cho đời tựa một tiếng sấm âm u khiến ta bất giác lặng người, và chắc có kẻ phải cúi đầu sượng sùng...

***

 

Ở một bài thơ có tên "Thơ trong quỹ đạo con người", nhà văn đã viết: Với dân tộc của tôi, thơ tôi không chệch ngoài quỹ đạo.

 

Nhưng Lưu Trọng Lư không chỉ là nhà văn của tâm hồn tình nghĩa Việt Nam, ông còn là nhà văn của những vẻ đẹp trong Con Người mà nhân loại đang phải vươn tới.

 

Ta biết người với người còn dạ sói

Trong đêm đen còn nhe trắng hàm nanh

Những tuổi trẻ của hành tinh

Có những chuyến đi vĩ đại

Đi trong nghĩa tình không biên giới

Cùng Bình Minh bủa bắt Hoàng Hôn

Đạp hờ hững, phá cô đơn!

 

Có một bài thơ ông viết vào cuối năm 1975, sau đó được dịch ở Mỹ và đã gây chấn động trong lòng nhiều người dân nước Mỹ: bài thơ “Lại tiễn con” khóc người con trai thứ năm của ông đã hy sinh trước ngày 30 tháng 4 năm 1975 tại chiến trường miền Tây Nam Bộ, khi vừa tròn 20 tuổi. Bài thơ khóc con không một chữ nào nói đến nước mắt khiến hàng triệu người phải rơi lệ ấy có thể nói là một trong những bài thơ hay nhất của nền thơ ca Việt Nam đương đại.  Đây là đoạn kết:

 

 Vàm cỏ Tây, con sẽ về yên giấc ngủ

Nơi mênh mông có mẹ hiền: ngọn gió

Cuộc sống đâu chỉ một lần

Của cha, da tóc nửa phần

Gửi lại, trên mình con đó

Và của con,  tuổi hai mươi dòng máu đỏ

Cha mang theo, nóng hổi trọn đời

Cả Đất Nước mình, giờ về đó, con ơi !...

 

Chiến tranh ngày một lùi xa, đời càng ngổn ngang trăm mối, thơ văn ông ngày càng nhức nhối một nỗi đau và day dứt một niềm thương vô bờ - vẫn bằng cách nói chân thành giản dị đi thẳng vào lòng người:

 

Giặc còn đầy ngoài biên ải

Đó đây nổi dậy âm binh

Ôi thần thánh mồ hôi

Máu lệ nghìn năm

Thiêng liêng lời nguyện

 

Giữa những ngày tháng Biển Đông trào lên cơn sóng cồn của lòng Tự trọng Dân tộc bị xúc phạm, thơ văn Lưu Trọng Lư lại đến với cuộc đời mà ông từng yêu thương như một lời tâm sự đớn đau và chân thành đến ứa lệ; ông đang nói hộ biết bao tâm hồn đang phẫn nộ và quặn đau lo lắng cho vận mệnh Tổ Quốc:

 

Phải trả bình minh cho bình minh

Phải trả lại lịch sử cho lịch sử

Ôi Đại Việt một thuở oai hùng

Xin tạ lỗi với Nguyễn Trãi, Nguyễn Du

Tạ lỗi Bạch Đằng, tạ lỗi Điện Biên, tạ lỗi Trường Sơn

Và các mẹ, chúng con ngàn lần tạ lỗi các mẹ

Những đứa con của mẹ đã ngã xuống

Nào đâu chỉ đỏ ngực xanh mồ.

...Lòng ơi! Ta muốn trăm lần nghìn bận

Giữa muôn vàn cay đắng

Hôn lên ngọn cờ Tổ Quốc

Hôn lên lời thề non nước

 

Phải chăng từ mấy chục năm trước, khi mà Ai lượng hết chuyện sớm chiều tráo trở, nhà văn đã dặn dò thế hệ thanh niên hôm nay trong những vần thơ cảnh báo về sự "đểu cáng" của bọn "ma giáo côn đồ" dám bất chấp tất cả để thỏa mãn lòng tham vô đáy được nuôi dưỡng từ ngàn xưa; đồng thời khích lệ lòng dũng cảm và niềm tự tôn Dân tộc :

 

Em nghĩ gì trong thân hình bé nhỏ

Em dập dưới chân em

Không phải những loài dế, giun

Mà những thiên triều mũ mãng

Những cao sang đểu cáng

Những mưu toan ma giáo côn đồ

Tình em dội sáng cả hư vô.

 

Nhà văn kể lại chuyện mình cũng là để mong thức tỉnh bầu máu nóng thường trực sẵn có trong mỗi con người Việt Nam dù đã và đang chịu không ít nỗi bất hạnh khổ đau; nếu được thế và chắc chắn là phải thế, nhà văn sống gần trọn thế kỷ XX đầy bão tố có thể ngậm cười nơi chín suối:

 

Trong những năm tháng xói mòn

Khi hai tay buông lỏng

Trên da lạnh, chợt nghe làn hơi nóng

...Khắp phố phường một điệu nhạc bay quanh

"Nước đến ngày giải phóng

Tiếc gì thân sống

Thanh niên ơi!"

 

                                                                   Hà Nội, 16/6/2021

                                                        Mai An NGUYỄN ANH TUẤN (Đạo diễn điện ảnh)

___________________

* Chữ dùng của Maiakôvski

Những chỗ in nghiêng và trong ngoặc kép là tên tác phẩm và trích đoạn thơ của nhà văn Lưu Trọng Lư, lấy từ các nguồn:

- Tuyển tập Lưu Trọng Lư - NXB Văn học,1987

- Bài ca tự tình - Thơ- NXB Hội nhà văn, 2011

- Sổ tay riêng của tác giả bài báo

- Di cảo do gia đình nhà thơ lưu giữ.

                 

 Tác phẩm của nhà văn Lưu Trọng Lư đã in sách, đã dựng trên sân khấu:

Thơ: Tiếng Thu, Toả sáng đôi bờ, Người con gái sông Gianh, Từ đất này, Bài ca tự tình.

 Văn: Mùa Thu lớn, Nửa đêm sực tỉnh, Đi giữa vườn Nhân, Tác phẩm Truyện ngắn & Tiểu thuyết (2 tập)... 

Kịch: Tuổi hai mươi, Kiệu hoa, Hương bưởi, Chuyện Nhụy, Bình minh Anh vũ, Trăng xoan...

v.v

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
13 Tháng Hai 20262:55 CH(Xem: 288)
Tháng Hai / ru nhẹ tình thơ / khẽ nâng vạt tóc / ngủ nhờ trên vai / Tóc thơm một đóa / trăng cài / Đêm quỳnh / thoảng mộng mơ hoài trong ta
13 Tháng Hai 20262:13 CH(Xem: 289)
Inoue Seigetsu (1822−1887) là người có học thức cao và là chuyên gia về thư pháp. Vì vậy, ông được các nhà bảo trợ nghệ thuật giàu có chào đón và thường đến thăm các nhà thơ và học giả, dạy kèm các nhóm thơ haiku và giảng dạy Nho giáo. Seigetsu đã viết khoảng 1.700 bài thơ haiku. Ông ngưỡng mộ Basho nhưng vẫn có phong cách riêng.
13 Tháng Hai 202611:18 SA(Xem: 323)
Tháng chạp ấm áp ngọn đèn / Cơn mưa tha hương lao xao song cửa / Như có tiếng vó ngựa hồng tan vỡ / Bóng mẹ ngồi thao thức cánh nhân duyên
10 Tháng Hai 20263:12 SA(Xem: 335)
Bài viết này đặt ra một nghịch lý của Việt Nam đương đại: khi lý tưởng cộng sản vẫn được nhắc tới như nền tảng chính danh, nhưng vai trò thực tế của nó trong đời sống xã hội đã thay đổi sâu sắc. Thay vì tranh luận đúng–sai hay kết tội, tác giả chọn cách phân tích sự dịch chuyển của lý tưởng từ mục tiêu giải phóng sang ngôn ngữ quyền lực. Cách tiếp cận này giúp nhìn lại mối quan hệ giữa ổn định, phát triển và bất bình đẳng dưới một góc nhìn tỉnh táo hơn. Tòa soạn giới thiệu bài viết như một đóng góp cho đối thoại xã hội, với tinh thần viết để hiểu và cùng suy ngẫm
08 Tháng Hai 202610:45 CH(Xem: 581)
Xuân đến rồi sao chẳng thắm hoa / Đây đổ quyên / Đây rừng Bà Nà / Xuân chưa thắm nhưng lòng đã thắm / Bốn mùa mưa nắng bốn mùa hoa
08 Tháng Hai 20268:09 CH(Xem: 589)
LTS: Lần đầu cộng tác cùng Tạp Chí Hợp Lưu. Việt Nguyên là bút danh của Bùi Văn Long, quê ở Long Xuyên, An Giang. Thơ Việt Nguyên viết về những góc đời rất nhỏ — một góc phố đêm, bữa cơm một người, một cử chỉ tử tế thoáng qua. Thơ lặng, buồn vừa đủ, không than thở, chỉ nhắc ta rằng giữa đời sống mỏi mệt này, nhân gian vẫn còn ấm. Chúng tôi hân hạnh gởi đến quí độc giả và văn thi hữu những bài thơ của Việt Nguyên sau đây. (Tạp Chí Hợp Lưu)
08 Tháng Hai 20267:36 CH(Xem: 330)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
08 Tháng Hai 202612:04 SA(Xem: 560)
*** Đài Phát Thanh của Thi Sĩ - RADIO del POETA 01/02/2026 MUSICA y POESIA del MUNDO - Âm nhạc và Thi Ca Thế Giới *** Trong chương trình Âm nhạc và Thi Ca Thế Giới ngày thứ bảy tuần 31/01/2026 Đài Phát Thanh của Thi Sĩ CALIDOSCOPIO, phát sóng từ Mexico và Argentina cho khắp Châu Mỹ La tinh và TBN cũng như Ý, lại tiếp tục trình bày Thơ NCT.
07 Tháng Hai 202610:48 CH(Xem: 629)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
07 Tháng Hai 202610:40 CH(Xem: 451)
Sắp đến Tết truyền thống, như một “tập quán” bất đắc dĩ mới, nhiều người đang lo lắng chuẩn bị đón đợi nhằm chống đỡ các chiêu trò hài nhạt chọc cười nhảm trên các phương tiện truyền thông, thì đã bị đầu độc đến nôn mửa bởi hàng loạt thứ văn hóa rác được gọi là “Thơ Văn”, mà lại là “Thơ Văn” đoạt các giải cao ngất ngưởng, được ngợi ca ngút trời theo kiểu “quá lời nguyện hết thành hoàng thổ công”…
16 Tháng Tám 2025(Xem: 7001)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 13938)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 12810)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 13385)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
13 Tháng Hai 20262:55 CH(Xem: 288)
Tháng Hai / ru nhẹ tình thơ / khẽ nâng vạt tóc / ngủ nhờ trên vai / Tóc thơm một đóa / trăng cài / Đêm quỳnh / thoảng mộng mơ hoài trong ta
13 Tháng Hai 20262:13 CH(Xem: 289)
Inoue Seigetsu (1822−1887) là người có học thức cao và là chuyên gia về thư pháp. Vì vậy, ông được các nhà bảo trợ nghệ thuật giàu có chào đón và thường đến thăm các nhà thơ và học giả, dạy kèm các nhóm thơ haiku và giảng dạy Nho giáo. Seigetsu đã viết khoảng 1.700 bài thơ haiku. Ông ngưỡng mộ Basho nhưng vẫn có phong cách riêng.
13 Tháng Hai 202611:18 SA(Xem: 323)
Tháng chạp ấm áp ngọn đèn / Cơn mưa tha hương lao xao song cửa / Như có tiếng vó ngựa hồng tan vỡ / Bóng mẹ ngồi thao thức cánh nhân duyên
08 Tháng Hai 202610:45 CH(Xem: 581)
Xuân đến rồi sao chẳng thắm hoa / Đây đổ quyên / Đây rừng Bà Nà / Xuân chưa thắm nhưng lòng đã thắm / Bốn mùa mưa nắng bốn mùa hoa
(Xem: 330)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
(Xem: 628)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
(Xem: 2680)
Nhờ có Facebook mình và Miên đã gặp lại nhau. Cô bạn thuở xưa của tuổi học trò đầy mơ và mộng. Bây giờ mỗi đứa một mảnh đời riêng, Miên sung sướng bình yên và hạnh phúc bên chồng. Mình gãy cánh uyên ương từ khi còn rất trẻ nhưng cuối cùng mình cũng có được chút hạnh phúc bình yên bên con và cháu của mình. Hai đứa gặp nhau mình tíu tít kể chuyện vui buồn nhắc chuyện ngày xưa.
(Xem: 2845)
Tôi là người vượt biển. Một người tỵ nạn của những năm đầu thập niên 80. Đặt chân lên đất Mỹ với hai bàn tay trắng và vài bộ quần áo cũ — cùng một niềm tin mỏng manh rằng, ở đâu đó phía trước, đời mình rồi cũng sẽ có mùa đông bớt lạnh. Đêm Giáng Sinh vừa qua, trong căn nhà yên ắng, con gái tôi kể lại một câu chuyện cũ. Một mùa Giáng Sinh của nhiều năm về trước, khi anh em nó còn đang đi học, khi BA tôi — ông nội của tụi nhỏ — vẫn còn ngồi đó, chậm rãi nhìn quanh căn phòng. Hôm ấy, gần đến lễ Noel, ông nội bỗng chép miệng, giọng buồn buồn: “Nô-en năm nay sẽ vui biết mấy nếu nhà mình có cây thông để đón lễ Chúa Giáng Sinh…” Nói xong, ông im lặng. Khuôn mặt già nua thoáng một nỗi buồn không giấu được.
07 Tháng Hai 202610:25 CH(Xem: 562)
Trường tiểu học Sunshine Elementary. Một buổi sáng như bao buổi sáng khác, cô giáo Lopez viết lên bảng đề luận: “Viết Về Nước Mỹ.” Lớp học lập tức xôn xao bàn tán. Có đứa quay qua hỏi bạn, có đứa chống cằm nhìn ra cửa sổ như tìm kiếm điều gì . Riêng Khang chỉ nhìn hàng chữ trắng trên nền bảng xanh . Em không hỏi, cũng không biết mình sẽ viết gì. Nhưng khoảnh khắc rất đỗi bình thường ấy lại in sâu vào trí nhớ em.
07 Tháng Hai 20269:31 CH(Xem: 682)
Chiếc xe đò nhỏ lừ đừ chạy vào bến vắng đang thiu thiu ngủ dưới ánh nắng đã lợt màu của chiều ba mươi Tết. Đây là chuyến xe cuối cùng trong ngày, trong tháng, trong năm cũ. Bến xe vắng hoe. Giờ này còn ai ra đây làm gì nữa. Tiếng xe thắng mạnh trước khi ngừng hẳn lại khiến một vài hành khách đang ngủ vật vờ giật mình choàng tỉnh dậy. Ai nấy đều đứng cả lên, quơ tay lấy hành lý và lục tục ra khỏi xe.
26 Tháng Mười Một 202511:06 CH(Xem: 3477)
Cô bé Lò Thị Chang đã sống ở chỗ cao nhất trên mái nhà sàn của một gia đình Thái đen gồm 5 người suốt ba ngày đêm. Nước lũ ngập vào bản em từ hôm ấy đến tối nay chỉ rút được chút ít, rồi như trêu ngươi, làm lộ rõ hơn các mái nhà sàn và các ngọn cây cao đang chơi vơi tô điểm cho những xác trâu bò, gà lợn nổi lềnh phềnh - tựa cuộc “trình diễn” chưa bao giờ có của bản em giữa đất trời xám xịt…
18 Tháng Mười Một 20257:07 CH(Xem: 3871)
“Trên từng cây số” là tên một bộ phim truyền hình nhiều tập của Bun-ga-ri vốn quen thuộc với khán giả Việt Nam đầu những năm 80 của thế kỷ trước. Nhưng chưa tới thập niên sau, “Trên từng cây số” của màn ảnh xứ hoa hồng đã biến thành nỗi ám ảnh đậm nước mắt, và cả máu nữa của nhiều người Việt đi xuất khẩu lao động tại các nước Đông Âu. Đây chỉ là vài mẩu chuyện do em trai tôi – một họa sĩ kể lại sau khi đã trải nghiệm trên từng cây số cuối cùng của con đường khổ ải này…
10 Tháng Hai 2026(Xem: 335)
Bài viết này đặt ra một nghịch lý của Việt Nam đương đại: khi lý tưởng cộng sản vẫn được nhắc tới như nền tảng chính danh, nhưng vai trò thực tế của nó trong đời sống xã hội đã thay đổi sâu sắc. Thay vì tranh luận đúng–sai hay kết tội, tác giả chọn cách phân tích sự dịch chuyển của lý tưởng từ mục tiêu giải phóng sang ngôn ngữ quyền lực. Cách tiếp cận này giúp nhìn lại mối quan hệ giữa ổn định, phát triển và bất bình đẳng dưới một góc nhìn tỉnh táo hơn. Tòa soạn giới thiệu bài viết như một đóng góp cho đối thoại xã hội, với tinh thần viết để hiểu và cùng suy ngẫm
07 Tháng Hai 2026(Xem: 451)
Sắp đến Tết truyền thống, như một “tập quán” bất đắc dĩ mới, nhiều người đang lo lắng chuẩn bị đón đợi nhằm chống đỡ các chiêu trò hài nhạt chọc cười nhảm trên các phương tiện truyền thông, thì đã bị đầu độc đến nôn mửa bởi hàng loạt thứ văn hóa rác được gọi là “Thơ Văn”, mà lại là “Thơ Văn” đoạt các giải cao ngất ngưởng, được ngợi ca ngút trời theo kiểu “quá lời nguyện hết thành hoàng thổ công”…
07 Tháng Hai 2026(Xem: 616)
Bụt trong văn hóa Việt Nam là một hiện thân vừa nhân hậu vì hay cứu khổ giúp đời mang hình ảnh đức Phật, vừa là vị thần linh có quyền phép trấn tà, trừ vọng mang hình ảnh thần thánh. Đó là biểu tượng hiền thần, hỷ thánh trong nếp sống tinh thần dân gian Việt Nam. Hễ nơi nào có đau khổ, bất công, nguy khốn là có Bụt hiện lên cứu cấp. Người Việt đi vào đời bằng Bụt, rồi đi sâu vào đạo bằng Phật.
30 Tháng Mười Hai 2025(Xem: 2848)
Dẫn Nhập: Sau khi đọc bài viết thứ 7 mới đây, một chuyên gia về môi trường từ Đại học Cần Thơ nhận định: “Hiện nay, giữa Thái Lan – Cam Bốt đang có đấu pháo tranh chấp biên giới, chưa dừng được, phần thua thiệt có lẽ nghiêng về phía Cam Bốt nhiều hơn, dù ông TT Trump có gọi điện can thiệp. Có lẽ dự án kênh Funan Techo tiếp tục bị "treo", khó triển khai lúc này, dù đã gần 3 năm Hun Sen phát lệnh khởi công.” Một số bạn đọc ở trong và ngoài nước cũng có cùng nhận định như vậy. Và đây là bài viết thứ 8 như một Đánh giá Phân tích Ảnh hưởng cuộc xung đột biên giới giữa Thái Lan – Cam Bốt trên Tiến độ Công trình Xây dựng Kênh đào Funan Techo. Bài này được viết từ ngày 07.12.2025 khi cuộc chiến tranh biên giới Cam Bốt – Thái Lan tái bộc phát, cuộc chiến đã bước sang ngày thứ 20 với nhiều thương vong cho cả hai bên.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 9632)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 26078)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 32429)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
07 Tháng Năm 2021(Xem: 32746)
...một thập kỷ gian nan của nông dân Dương Nội qua cuộc trò chuyện với anh Trịnh Bá Phương - một trong những người có mặt từ đầu - đã góp phần không nhỏ trong nỗ lực xây dựng sự đoàn kết đấu tranh dai dẳng của bà con. Mong rằng chúng ta sẽ học được nhiều điều từ họ, những người mà nhà thơ Hồng Nguyên gọi là “Áo vải chân không đi lùng giặc đánh”.
(Xem: 7367)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 9793)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 2448)
BIỂN CÓ NHIỀU MÀU HỞ ANH – bài thơ của Đặng Hiền viết ngày 16.12.2017, hôm nay trở lại trong một hình hài mới: Blue Rock, với giọng nam trầm ấm, chậm rãi và đầy suy tư. Từ câu hỏi giản dị mà ám ảnh “Biển có nhiều màu hở anh…”, ca khúc mở ra một thế giới yêu thương rất đời: cà phê buổi sáng, âm nhạc không lời, những ước mong nhỏ bé nhưng bền bỉ. Giai điệu Blue Rock khoác lên bài thơ một lớp sóng mới – vừa hoang hoải, vừa ấm nồng – để tình yêu vang lên như biển: không chỉ một màu, mà sâu, rộng và không ngừng chuyển động.
(Xem: 2497)
ĐÔI MẮT EM là một thí nghiệm nhỏ nhưng đầy mở rộng của thời đại AI: nơi một bài thơ có thể hóa thân thành nhiều phiên bản—hay và chưa hay, đơn ca hay song ca, với giai điệu và hòa âm luôn biến chuyển, không còn bị giam trong sự lặp lại sáo mòn. Nhưng sau tất cả, điều còn lại vẫn là phần hồn: ca khúc có chạm được trái tim người nghe hay không, và giọng hát có đủ cảm để ở lại trong ký ức. Phiên bản này được gửi đi như một trải nghiệm—lắng, điện ảnh, và mong manh—để người nghe tự tìm thấy mình trong đôi mắt em. TẠP CHÍ HỢP LƯU
(Xem: 2520)
“Mỹ Hương” là một bản Jazz Ballad dịu ngọt, nơi giọng nam trầm ấm và giọng nữ mượt nhẹ hòa quyện, kể lại một buổi sớm bình yên bên cầu San Francisco. Từ những “hoa cúc trong lòng”, từ bài hát cũ của mùa thu nơi xứ Mỹ, ca khúc mở ra một không gian phủ sương, đầy gió biển, và đầy nỗi nhớ như sương. “Mỹ Hương” là một lời thì thầm Jazz Ballad từ sương thu San Francisco Thân mời quí ACE cùng nghe Ca khúc: MỸ HƯƠNG - thơ Đặng Hiền- (Phiên bản Trắng Đen- Song Ca)
(Xem: 2864)
Trong phiên bản Dream Pop này, bài thơ Mỹ Hương được khoác lên một lớp không khí mờ ảo và chậm rãi, như bước chân ai đó đi giữa màn sương lạnh của San Francisco. Giọng nam trầm thì thầm, hoà vào reverb dày và những lớp ambient pads lơ lửng, tạo cảm giác như một ký ức đang tan ra trong ánh đèn vàng trên cầu Golden Gate.
(Xem: 5043)
Giữa khoảng lặng mênh mang của một đêm trăng rụng, bài hát “Sao Sa Khẽ Rụng Thiên Hà Xẻ Đôi” vang lên như một khúc chiêm nghiệm về tình yêu, định mệnh và sự buông bỏ. Từ những câu thơ thấm đẫm nỗi trầm tư của Trương Đình Trác, ca khúc mở ra một không gian mờ ảo – nơi nỗi buồn hóa thành ánh sao, nơi tiếng lòng con người hòa cùng nhịp ngân của vũ trụ.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 4356)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 3981)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 5095)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.