- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

THÁNG TƯ... XÓT XA.

14 Tháng Tư 20216:52 CH(Xem: 33803)



Thang 4 Xot Xa-minh hoa

LTS:Tác giả Topa:

Lần đầu cộng tác cùng Tạp Chí Hợp Lưu.

Topa sinh tại Sài Gòn, định cư tại Hòa Lan 1981.

Khởi viết từ 1995, có bài đăng ở  Vietnamdaily, Quán văn, Việt Nam Nguyệt San v.v... Chúng tôi hân hạnh gởi đến quí độc giả và văn hữu truyện ngắn “Tháng Tư... Xót Xa” của tác giả Topa.

TCHL
 

 

 

 

Mỗi năm cứ đến ngày... Tháng tư

Lòng buồn vời vợi dạ xót xa!

*

Chỉ còn khoảng hơn hai tháng nữa thôi, mùa mưa sẽ lại đến với thành phố buồn muôn thuở; đến với thành phố Ban Mê Thuột nghèo nàn nhưng đầy tình thương yêu giữa người Kinh và người Thượng. Thành phố có hai mùa mưa nắng rõ rệt bắt đầu từ tháng năm cho đến tháng mười.Tôi đã sống ở thành phố này và đã trải qua hai mùa mưa nên tôi biết, khi mùa mưa đến thì chiều nào cũng có mưa. Một thứ mưa nguồn bỗng chốc ầm ầm đổ ập xuống thành phố để rồi không bao lâu sau thì tạnh.

 

Ngày tôi theo chồng đến thành phố này sinh sống, vì thường nhớ nhà nên tôi cũng thường khóc bởi cảnh vật nơi đây quá im lìm và hoang vắng đúng như cái tên Buồn Muôn Thuở mà người nào đó đã đặt. Tôi có nhiều bạn ở quê nhà nhưng ở thành phố này tôi chưa có bạn. Người bạn gái đầu tiên tôi quen là người Thượng còn rất trẻ tên là Sai Luông. Sai Luông một tuần một lần đem rau muống từ trong buôn làng của cô ra chợ Ban Mê Thuột bán. Sai Luông chỉ bán mỗi một thứ là rau muống thôi. Mỗi lần đi bán như vậy, Sai Luông gùi trên lưng hai mươi lăm bó, có đôi khi hơn được một vài bó. Tôi nghĩ, Sai Luông bán như vậy sẽ không được bao nhiêu tiền nên tôi thường mua ủng hộ mỗi lần ba bốn bó. Mua riết rồi Sai Luông và tôi quen nhau. Một ngày kia khi Sai Luông trên đường trở về nhà, tình cờ tôi nhìn thấy Sai Luông đi ngang qua nhà tôi và tôi đã mời cô vô nhà uống ly nước. Một tuần sau nhân ngày cuối tuần, Sai Luông đến nhà mời tôi vô buôn của Sai Luông cho biết cuộc sống của gia đình người Thượng như thế nào. Buôn làng của Sai Luông cách Ban Mê Thuột chỉ khoảng ba cây số thôi nhưng như vùng hoang sơ trong rừng già vậy. Sai Luông và tôi đến buôn làng khoảng mười giờ sáng . Ngày hôm đó tôi đã có một cuối tuần thật vui trong khu rừng mát mẻ với nhiều loại trái cây lạ tôi được Sai Luông hái cho ăn. Sai Luông đưa tôi đi tắm suối. Sai Luông tự nhiên khoả thân tắm mà tôi thì không dám. Nhìn tấm thân săn chắc và đen bóng của Sai Luông trông chẳng khác gì pho tượng vệ nữ bằng đồng đen mà tôi nhìn thấy trong tờ tạp chí nào đó mà tôi không còn nhớ. Khoảng ba giò chiều Sai Luông sắp đưa tôi về lại nhà tôi thì trời bỗng đổ cơn mưa lớn. Đến bốn giờ mà mưa vẫn chưa dứt làm cho tôi lo lắng vô cùng. Thấy tôi lo lắng Sai Luông nói cho tôi yên lòng: “Đừng có lo vì ông trời sẽ làm mưa ngừng trong chốc lát nữa thôi. Tôi đi đường tối khuya quen rồi nên không sợ gì đâu. Đừng có lo… cho tôi.”

 

Tôi thương Sai Luông như em ruột vì vậy tôi nguyện sẽ tạo tình cảm chị em cho đến mãi mãi.

 

***

 

Chỉ còn hơn hai tháng nữa thôi tôi lại sẽ vui mừng được đón mùa mưa lần thứ ba. Tôi vui là vì cứ chiều đến, khi mà mọi công việc tôi đã thu xếp xong xuôi để khi mưa đổ xuống là tôi lại cuộn mình trong cái mền ấm nằm đọc truyện chờ anh về cùng ăn bữa cơm tối với nhau. Tôi thích mùa mưa ở thành phố này nhưng anh thì không. Anh nói: “Anh bực mình vì thứ đất badan đỏ như son môi người thiếu nữ đẹp nhưng lại như có chất keo làm dính vào bánh xe, làm dính vào đôi giầy như cố níu anh ở lại với nó, trong khi anh lại muốn mau mau được về nhà để nhìn thấy em và ôm em.”

Mùa mưa ở đây hoa hướng dương, hoa bướm, hoa thạch thảo... mọc tràn lan thành rừng dù chẳng ai trồng. Cứ sau mỗi mùa mưa thì những củ thược dược ngủ vùi trong lòng đất lạnh để khi mùa mưa kế tiếp đến nó lại đâm chồi nở ra những cái bông cúc đại đóa đủ màu sắc. Tôi thường ví những củ thược dược là những cô gái Thượng đẹp yêu kiều và man dại… như Sai Luông. Còn những giọt nước mưa là những giọt nước mắt của những chàng trai hào hoa và đa tình đã nhỏ xuống những gương mặt đẹp và diễm kiều để rồi các cô gái Thượng bừng tỉnh lại, sống lại... trang hoàng cho thành phố đẹp hơn.

 

Tôi theo anh đến sống ở thành phố này đã hơn hai năm. Làm vợ lính trong thời chiến tôi chấp nhận cuộc sống nay đây mai đó và luôn sẵn sàng đón nhận những chuyện bất trắc sẽ xảy đến với mình và gia đình mình. Thành phố này là thành phố thứ hai tôi đến sinh sống, sau thành phố núi, nơi tôi đã ra chào đời, và, nơi đó cũng là thành phố của lính. Vì biết rằng đời lính có nhiều rủi ro nên ngày nào anh và tôi còn được bên nhau thì ngày đó chúng tôi sống hết mình cho nhau. Anh luôn nuông chìu tôi và lo lắng cho tôi có cuộc sống tạm đầy đủ với đồng lương của viên Thiếu úy An ninh Tiểu Khu. Ngược lại tôi luôn yêu thương anh, kính trọng anh, và không làm bất cứ một điều gì cho anh phải buồn lòng.

 

Mấy tuần nay quân Bắc Việt đã đánh phá ở nhiều nơi nên anh thường ở trong đơn vị chứ ít khi về nhà. Anh buồn nhiều vì bạn bè lớp bị thất lạc lớp bị chết vì đạn pháo kích. “Quận Đức Lập Tỉnh Quảng Đức đã bị đánh và bị chiếm mất rồi. Tỉnh Quảng Đức mà không giữ được thì … sẽ nguy lắm.” Anh nói vậy và thấy anh lo lắng tôi càng lo cho anh nhiều hơn lo cho tôi.

Sau nhiều ngày vắng nhà liên tục, bất ngờ chiều hôm nay anh xuất hiện ngay trước cửa làm cho tôi vô cùng mừng rỡ. Anh ôm hôn tôi như anh vẫn thường hôn tôi. Nhưng, lần này anh có vẻ lo lắng chứ không được vui mà tôi thì thấy không tiện hỏi. Bữa cơm tối anh ngồi vô bàn ăn vội qua loa một chén cơm rồi buông đũa. Tôi kiên nhẫn chờ đợi anh sẽ nói cho tôi biết điều đã làm cho anh buồn và làm cho anh lo lắng. Anh không để tôi phải chờ đợi lâu. Khi tôi vừa buông đũa sau khi ăn được nửa chém cơm thì anh nắm hai bàn tay tôi rồi âu yếm nói:

 

“Anh vừa đi công tác ở một Buôn Thượng cách thành phố mình ba cây số. Tuy chỉ cách có ba cây số thôi, nhưng đến Buôn Thượng của người Êđê đó giống như mình đi đến một vùng hoang dã hoang sơ trong rừng già vậy. Tại đây anh nhận được tin tức là quân Bắc Việt sắp mở trận đánh lớn, thật lớn, vào một trong những thành phố ở vùng cao nguyên này. Đây sẽ là trận đánh xả láng của quân đội miền Bắc quyết chiếm cho được một thành phố để làm thủ đô cho Mặt trận giải phóng miền Nam trước khi mùa mưa đến.”

 

Anh ngưng nói và cầm ly nước trà nóng lên uống một hớp. Rồi anh lại nắm chặt hai bàn tay tôi và nói tiếp:

 

“Vì sự an toàn của em... và cũng dễ dàng cho anh trong những công tác sắp đến nên em hãy thu xếp để về ở trong Saigon. Anh đã nhờ một người bạn muớn giùm cho anh, cho vợ chồng mình một căn gác nhỏ ở khu Bàn Cờ, vì người bạn của anh cũng ở đây...”

 

Nghĩ đến những ngày sống ở nơi đô hội mà lại thiếu vắng anh nên tôi không để anh nói hết câu:

 

“Có lẽ... không sao đâu anh à. Quân đội mình ở đây cũng đông. Vả lại Bộ Tư Lệnh Sư đoàn 23 cũng ở đây... mà.”

 

Anh ngắt lời tôi và nói với vẻ mặt nghiêm nghị:

 

“Việc quân sự em không rành nên nói vậy. Khi quân đội Bắc Việt muốn chiếm bất cứ thành phố nào của ta thì họ phải huy động quân đông gấp nhiều lần quân đóng trong thành phố đó. Ngoài ra thì... trước khi tiến chiếm sẽ có màn pháo kích mà đạn pháo thì... biết rơi ở đâu để mà tránh chứ.”

 

Tôi cố nói thêm để mong anh đổi ý và đừng bắt tôi phải xa anh, xa thành phố này:

 

“Vả lại... mình cũng chưa biết họ định đánh thành phố nào mà anh. Em không muốn...”

 

“Anh biết em không muốn xa anh và chính anh cũng không muốn chuyện đó xảy ra. Cũng vì chưa biết quân Việt Cộng sẽ đánh thành phố nào nên anh mới lo chứ biết rồi thì… còn lâu.”

 

“Nhưng...”

 

“Hãy nghe anh một lần này cho anh yên tâm đi em yêu. Anh chỉ còn mỗi mình em là người thân nhất mà anh yêu nhất trên đời này... nghe anh đi em!”

 

Nghe những lời như khẩn nài của anh, tôi biết là anh đã quyết định dứt khoát rồi. Như vậy là chỉ trong nay mai đây thôi tôi sẽ phải rời xa anh và rời xa thành phố thân yêu này nên nước mắt tự dưng trào ra ở hai bên khóe mắt.Thấy tôi khóc anh vội ôm tôi an ủi và nói rồi anh sẽ đón tôi về lại với anh và về lại thành phố này, trước mùa mưa.

 

Ba ngày sau anh trở về và nói cho tôi biết một điều mà anh dặn tôi không được hở môi ra với bất cứ người nào:

 

“Tiểu Khu Ban Mê Thuột khi khai thác một sĩ quan tù binh Bắc Việt trong toán Tiền Thám của Sư Đoàn 320 Điện Biên Phủ . Trong người viên sĩ quan này có tài liệu cho biết, Cộng quân sẽ đại tấn công Ban Mê Thuột… nên em phải chuẩn bị sẵn và chu đáo để khi anh nói đi là đi ngay… em nhé.”

 

Sáng ngày hôm sau, Sai Luông cũng đến nhà nói cho tôi biết; “Chị hãy mau mau rời khỏi thành phố vì sắp có đánh nhau, sắp có chiến tranh trong thành phố.” Sai Luông và tôi đã nắm chặt tay nhau khi Sai Luông từ giã tôi, nhưng vì lo sợ nên cả hai chúng tôi không thể hứa hẹn với nhau điều gì  được .

 

Hai ngày sau anh trở về nhà thật sớm và thật vội vã để đưa tôi ra phi trường cho kịp theo chuyến bay quân sự về Saigon. Tôi đi tôi đã bỏ anh, bỏ đồng bào bỏ cô bạn Thượng trẻ đẹp Sai Luông và, bỏ đồng đội của anh ở lại thành phố.Tôi không ngờ lần chia tay với thành phố mà tôi yêu thương với những chiều mưa lạnh cuộn mình trong chăn ấm nằm đọc truyện chờ anh đi làm về lại là lần chia tay vĩnh viễn. Mãi mãi tôi đã bị mất thành phố và bị mất luôn quê hương thương yêu của tôi.

 

***

Nhìn tấm hình anh trong bộ quân phục của quân đội Việt Nam Cộng Hòa oai phong trên bàn thờ, thế là hai hàng nước mắt cứ tự động chảy ra làm ướt hết cả phía áo trước ngực.

 

Ngày anh đi trình diện để đi tù và được gọi là, đi học tập cải tạo, có tôi đi bên cạnh tiễn đưa anh. Ngày anh bỏ quê hương và bỏ tôi để đi về bên kia thế giới khi anh còn ở trong trại tù ngoài Bắc, có hai người bạn tù tiễn đưa anh.

 

Hôm nay, tháng tư nữa lại về nhắc nhớ tôi là đã hơn bốn mươi cái tháng tư anh bỏ tôi ra đi và hơn bốn mươi cái tháng tư người dân Miền Nam và tôi đã bị mất quê hương. Nhìn hình anh trên bàn thờ và nhớ về anh nên tôi đớn đau thảng thốt kêu lên: “Anh yêu ơi! Tháng tư nữa lại về. Tháng tư… xót xa. Tháng tư đau buồn và... Tháng Tư Tâm Sự Cùng Anh.

 

Anh,
Em đang nhớ anh
Và đang nghĩ đến
Một ngày của ba mươi bốn năm về trước
Ngày ba mươi tháng tư
Năm một ngàn chín trăm bảy mươi lăm
Ngày nghiệt ngã
Ngày hai đứa mình đã ôm nhau khóc ngất
Trên căn gác nhỏ

Ở xóm Bàn Cờ

 

Những giọt nước mắt tức tưởi
Của anh và của em
Đã đổ xuống
Vỡ bờ
Không sao ngăn nổi
Thương một quê hương sau cơn hấp hối
Tắt thở nghẹn ngào
Và thương quá đỗi
Những người lính trận can trường
Làm thân chiến bại
Tất tả poncho
Chẳng biết sẽ đi về mô
Trên những đường phố Saigon một thời diễm lệ
Bỗng chốc nỡ trở thành địa ngục trần gian...

 

Làm gì có ánh hào quang
Anh nhỉ
Trên những nóc nhà ngói khô cũng tuyệt vọng
Màu đỏ rợn người lảng vảng không gian
Làm gì có
Từ Bắc vô Nam
"Nối vòng tay lớn"
Hỡi người nhạc sĩ tài hoa
Có tâm hồn đẹp
Sao quá thơ ngây !

 

Đêm hôm ấy
Ánh đèn nhà mình hình như không đủ sáng
Nhạc dội oang oang
Bức bách
Ta ngồi nhìn nhau
Tắt nghẽn
Cố không nghe thấy
Những tiếng quạ đen sặc mùi tử khí
Làm đặc buồng phổi
Xé nát hoài mong...

 

Anh,
Nhát dao đâm ngày ấy
Máu vẫn còn bầm
Ba mươi bốn năm trôi qua, một dòng sông đục
Làm sao múc được ánh trăng tan...

( Kim Thành )

 

Tôi đã khóc hết nước mắt rồi nhưng tôi vẫn ngồi dưới chân bàn thờ. Và, tôi ngủ gục lúc nào không hay. Trong giấc ngủ tôi mơ thấy mình đang nằm bên cạnh Anh như ngày nào tôi vẫn nằm bên Anh nơi thành phố Buồn Muôn Thuở… thành phố Ban Mê Thuột thương yêu ngàn đời của người Miền Nam và của tôi./.

 

Topa (Hòa Lan)

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 1541)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20262:56 SA(Xem: 1200)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 1717)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 1525)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 1826)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 1779)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
23 Tháng Tư 202611:15 CH(Xem: 1675)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 202610:39 CH(Xem: 1498)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 20269:06 CH(Xem: 2172)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
23 Tháng Tư 20264:50 CH(Xem: 2319)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9441)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16245)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15256)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15606)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 1541)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 1717)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 1826)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
23 Tháng Tư 20269:06 CH(Xem: 2172)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 4288)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 6091)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 5459)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
(Xem: 6053)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 1524)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 1779)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
23 Tháng Tư 20262:19 CH(Xem: 1989)
Xe lăn bánh, bụi mù mịt xóm Chùa. Tôi nhìn theo cái xe biển xanh của Thuận, vừa buồn cười vừa thấy lòng nhẹ nhõm. Thuận có làm đến bộ trưởng thì cái tính khôn lỏi, dỗi dai và cái kiểu "anh anh em em" nửa đùa nửa thật để rồi dúi vào tay người khác cái chổi quét nhà, con dao băm bèo, thái khoai chắc cũng chẳng bao giờ bỏ được. Mà thôi, cái làng Đá này nếu thiếu một thằng Thuận cứ thích bĩu môi, thích mắng người khác là "ngu lắm cơ" rồi nguây nguẩy cái mông quay mặt đi cười thầm thì chắc cũng chẳng còn chuyện hay ho gì để mà kể.
19 Tháng Tư 202611:05 CH(Xem: 1872)
Biển Nha Trang có những ngày lặng gió. Nước trong xanh. Nhưng cái lặng ấy không phải lúc nào cũng bình yên. Có những cơn sóng được giấu rất sâu. Cuộc đời Thục Nhi cũng vậy.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1675)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1498)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1669)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 1683)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 12426)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 28670)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35208)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
07 Tháng Năm 2021(Xem: 35077)
...một thập kỷ gian nan của nông dân Dương Nội qua cuộc trò chuyện với anh Trịnh Bá Phương - một trong những người có mặt từ đầu - đã góp phần không nhỏ trong nỗ lực xây dựng sự đoàn kết đấu tranh dai dẳng của bà con. Mong rằng chúng ta sẽ học được nhiều điều từ họ, những người mà nhà thơ Hồng Nguyên gọi là “Áo vải chân không đi lùng giặc đánh”.
(Xem: 9952)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 12053)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 1200)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 1717)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 2172)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 2319)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 2682)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 7084)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 6504)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 8485)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.