- Tạp Chí Hợp Lưu P.O.BOX 8782 Fountain Valley, CA 92728-9809 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,461,954

MỘT CUỐN SÁCH

09 Tháng Bảy 201911:36 CH(Xem: 2853)

mot cuon sach

Đọc xong cuốn sách về một con người đã chết cách đây hơn nửa thế kỷ khi còn đương xuân, đương ở những năm tháng tiềm năng nhất về sức lực và trí lực, tự tôi dằn lòng nở một nụ cười lớn hạnh phúc cho riêng tôi.

Trầm mặc, bùi ngùi, thương xót, đau khổ, nhỏ lệ là một phản xạ nhân bản, hoặc, tệ hơn, một biểu hiện bề ngoài, rất đỗi tự nhiên của con người trước cái chết của con người. Cái tự nhiên đó dường như đã khiến chúng ta quên mất một điều, đối với con người sự hệ trọng nhất không phải sống hay chết mà là đã sống ra sao và được chết như thế nào. “đã sống ra sao” là sự nỗ lực hay thiếu nỗ lực để sống cho xứng với tên gọi Con Người. “Được chết như thế nào” là “tử bất kỳ”, là điều không phụ thuộc vào ý muốn của chúng ta. Nhưng tư thế của người chết, tinh thần của người chết, bi tráng, lẫm liệt hay vật vã, bi lụy, luôn luôn khiến những kẻ đang sống phải suy nghĩ. Một con người có tầm vóc hiếm có, chỉ được sống một cuộc sống ngắn ngủi so với tha nhân, đã luôn trăn trở, nỗ lực, chịu đựng trong âm thầm cho tới tận lúc chết để bước và vươn cao hơn trên những bậc thang về cả trí tuệ lẫn nhân phẩm, được biết một Con Người như thế trong một cuộc đời còn nhiều ô trọc tại sao ta không hạnh phúc?

Nhưng cuốn sách không chỉ khiến ta phải ưu tư về đời người, không chỉ làm ta ngưỡng mộ, rung cảm về một cá nhân, một Con Người, một đồng bào máu thịt, cuốn sách còn cho ta những cảm nhận vô cùng sống động tới mức như được sống hoặc được sống lại với một thế hệ thanh niên của dân tộc Việt Nam trong một không gian, một giai đoạn đặc biệt. Đó là phần lãnh thổ phía Nam của Việt Nam trong thời hậu thuộc địa với một chính thể phi cộng sản. Đối với những người đã từng sống trong không gian đó, chế độ đó, cố nhiên cuốn sách sẽ làm hiện lại những ký ức vui buồn, những kỷ niệm sôi nổi, thân thương của một thời - thời Việt Nam Cộng Hòa.

Đối với những người, do tuổi tác hoặc do biến cố chính trị, chưa có cái may mắn được sống trong chế độ đó sẽ thấy cuốn sách là một tư liệu trung thực, nghiêm cẩn để hiểu thêm, hiểu đúng về một xã hội, một chế độ chính trị do chính người Việt Nam chúng ta đã tự tìm tòi, xây dựng và bồi đắp hướng theo nhân bản, dân chủ đích thực bất chấp nghịch cảnh. Cái chế độ đó, xã hội đó, đương nhiên, không hoàn hảo, nhưng những gì, chỉ những gì được các tác giả kể lại, ghi lại một cách đa chiều, chân thành, chừng mực, cũng cho tất cả mọi người Việt Nam có lòng thành thật phải thấy ngay rằng rất nhiều điều quý giá, quý giá một cách cơ bản lẽ ra chúng ta đã phải có vẫn không có.

 Đối với những người đã từng đọc nhiều về ký ức chiến tranh, về văn chương Việt Nam đương đại qua ngả phi chính thống sẽ được gặp lại những chứng nhân có những bút lực thâm hậu như Phan Tấn Hải, Phan Nhật Nam, Trần Mộng Tú, Trần Hoài Thư, cùng nhiều nhân chứng lịch sử khác. Đặc biệt, đối với một số thanh niên Việt Nam hôm nay – những người vẫn giữ được sự bén nhạy của lương tri – có thể thấy những gợi mở, cảm hứng, sức mạnh đặc biệt không bao giờ có thể tìm thấy trong học đường, trong sách vở của chế độ hiện hành; hoặc chỉ đơn giản họ sẽ có thêm nghị lực cho một vài khó khăn, lúng túng thường có của tuổi trẻ, rồi để đến một ngày, một ngày nào đó, sẽ cũng ra đi – chia tay cuộc đời trần thế. Đương nhiên, một cuốn sách được thai nghén từ sự trăn trở bởi Con Người, của Con Người, cho Con Người, và riêng tư hơn, vì sự tồn vong của một Dân Tộc sẽ phải mang lại nhiều suy tư, hệ quả hơn rất nhiều những gì vừa được chia sẻ.

Đó là cuốn sách Y Sĩ Tiền Tuyến Nghiêm Sỹ Tuấn – Người Đi Tìm Mùa Xuân của một nhóm tác giả do Ngô Thế Vinh chủ biên, được ra mắt vào đúng ngày 30 tháng Tư năm 2019. Đối với riêng tôi, cái nhan đề mộc mạc, bình dị này hoàn toàn tương hợp với tinh thần, nội dung cao cả của cuốn sách và nhân vật của cuốn sách. Sự cao cả luôn bình dị.

PHẠM HỒNG SƠN

 07/07/2019

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
04 Tháng Giêng 20205:40 CH(Xem: 2521)
Những tư liệu về thuở thiếu thời của Petrus Key đầy chi tiết trái ngược nhau. Năm 1958, Viên Đài & Nguyễn Đồng cho rằng thân phụ Trương Vĩnh Ký là “Lãnh binh Truơng Chánh Thi,” chết năm 1845 trong khi tùng sự ở Nam Vang (Bách Khoa [Saigon], số 40, [1/9/1958], tr. 43); năm 1846 mẹ (Nguyễn Thị Châu) ủy thác cho một giáo sĩ người Pháp có tên Việt là “cố Long” (tr. 44); năm 1847, Nguyễn Phước Thời (1847-1883), niên hiệu Tự Đức, lên ngôi, cấm đạo gắt gao phải chạy sang Cao Miên [Kampuchea]; năm 11 tuổi nói được 5 thứ tiếng (tr. 44); năm 1852 [sic] được cố Long hướng dẫn sang Đại chủng viện Penang, và ghé qua Sài Gòn gặp mẹ được vài giờ (tr. 44). Tại Penang học tiếng Anh, Nhật, Ấn (tr. 45). Năm 1858 mẹ chết, về Cái Mơn thọ tang. Ngày 28/12/1860 [sic], được Giám mục Dominique Lefèbvre giới thiệu “giúp việc cho Đại úy thủy quân” [sic] Jauréguiberry (tr. 45). Chữ “capitaine” của Pháp ở đây là hạm trưởng, không phải “đại úy” như quân chủng bộ binh.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 6463)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
06 Tháng Bảy 20153:00 SA(Xem: 3361)
Ngày 4/7/1407, tại Kim Lăng, kinh đô đầu tiên của Đại Minh từ 1368 tới khoảng năm 1421, Chu Lệ hay Đệ [Zhou Li] miếu hiệu Thành Tổ (Ming Zhengzu, 17/7/1402-22/8/1424) họp triều thần, chấp thuận lời xin của “1120” kỳ lão xứ Giao Châu [An Nam] hơn hai tháng trước là “con cháu nhà Trần đă chết hết không người thừa kế…. Giao Châu là đất cũ của Trung Hoa xin đặt quan cai trị, để sớm được thánh giáo gột rửa thói tật man di.” (1) Hôm sau, 5/7/1407, Chu Lệ ban chiếu thành lập “Giao Chỉ Đô Thống sứ ti” [Jiaozhi dutong tusi], một đơn vị quân chính cấp phủ hay tỉnh [Provincial Commandery]. (2) Và, như thế, sau gần 500 năm tái lập quốc thống dưới tên Đại Việt—hay An Nam, từ 1164/1175—nước Việt trung cổ tạm thời bị xóa tên.
23 Tháng Sáu 202011:48 CH(Xem: 881)
tôi không một mình / thật ra có nhiều người quanh tôi / thậm chí có người luôn bên cạnh săn sóc tôi / nhưng tôi nghĩ đến anh, trong giấc mơ
10 Tháng Sáu 20205:57 CH(Xem: 1081)
Tôi không biết nói thế nào về nỗi buồn / Dưới từng lỗ chân lông có một đàn kiến đói / Ăn ăn ăn / thân xác tôi tê mỏi / Chiếc linh hồn đau nhói giữa cơn mê /
02 Tháng Sáu 202010:06 CH(Xem: 772)
Đã từ lâu tôi có một thói quen xấu, khi đọc thơ trí não tôi tự động phân loại rành rọt. Một: loại thi ca gây cho mình cảm hứng. Hai: loại không gây cảm hứng nếu không muốn nói làm mình mất hứng. Vậy mà lật tới lật lui, đọc đi đọc lại, tật xấu không nổi lên. Thay vào đó tôi thấy mình chăm chú lắng nghe. Tôi trở lại lần tay trên bìa sách, khoảng trắng với những vân vạch to nhỏ ngắn dài của biểu đồ tần số như phát lên một âm thanh vừa rè đục vừa trong vắt. Ở một nơi chừng như trống rỗng trắng xóa, ý tưởng mọc lên giữa âm thanh nhiễu loạn. Và bài Radio mùa hè tiếp tục văng vẳng
02 Tháng Sáu 20209:59 CH(Xem: 940)
Ve, loài côn trùng quen thuộc với tôi từ tấm bé, nhưng vì sao lại gọi là ve sầu thì tôi không rõ lắm. Mãi sau này biết sầu, mới dần dà nhận ra (!) Ngày xưa rất xưa, thời dân làng chỉ nhận tin qua giọng loa vang vang sau tiếng cốc cốc của mỏ làng vào rạng sáng hay lúc chiều sập tối, thủa tôi còn loăng quăng bám chéo áo ngoại ra vườn, tiếng ve đã in vào trí óc non nớt của tôi rồi.
02 Tháng Sáu 20208:51 CH(Xem: 865)
Sóng ngàn năm viết tình sử yêu bờ / Trăng tan trong đêm như tình yêu vào nhau là thế / Phố em, xưa nức mùa cốm ngậy / Tràn vào anh, những giọt yêu chưa cởi yếm / những đồi sống và mùa đòng thiếu nữ / ... Ngọn gió hồn nhiên anh miết dở
26 Tháng Năm 20209:11 CH(Xem: 1072)
Lưng chiều gió lượn bờ tre Lao xao tháng Sáu gọi Hè bâng khuâng Đong đưa phượng nở trước sân Mênh mang nhẹ khúc ve ngân ru sầu
17 Tháng Năm 20208:12 CH(Xem: 1058)
Mẹ còn có mỗi lời ru / Buồn như ngọn gió mùa thu thổi về / Xưa ru con giấc ngủ mê / Giờ hiu hắt bóng lê thê đêm dài.