- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

CÓ TRỜI

21 Tháng Sáu 201911:44 CH(Xem: 42258)



TÀ PHẠ SAU CƠN MƯA BÃO- PHOTO NHNam
TÀ PHẠ sau cơn mưa bão -ảnh Nguyễn Hoàng Nam

 

       Chuyện thằng Minh vác dao chém bố nó, mấy hôm nay ầm ĩ khắp cả làng Ngọc.Từ đầu làng là xóm Đình, đến cuối làng là xóm Nam, chỗ nào mọi người cũng xôn xao bàn tán. Bởi, nói như cụ thượng trong làng là, từ thời cổ đến giờ, chưa có một vụ nào như thế. Cũng vẫn cụ thượng nói-cụ thượng là một danh xưng của cụ ông cao tuổi nhất làng, không phải tên riêng. Cụ bảo rằng, nhà nó đến ngày mục mả.

        Tại xóm ngõ Ba, nơi cư ngụ của gia đình thằng Minh, thì tình hình nghe chừng vẫn còn nóng sốt lắm. Tuy Quang “bản phủ”, bố thằng Minh đã kịp thời được đưa đi bệnh viện. Còn thằng Minh, đã bị công an cho vào nhà muỗi. Nhưng dân tình trong xóm ngõ Ba vẫn hết sức bàng hoàng. Trên suốt dọc con đường đổ bê tông, uốn lượn ngoằn ngoèo như con rắn, dài mấy trăm mét, từ đầu ngõ là nơi tiếp giáp với đường trục chính trong làng, đến cuối ngõ, đâm thẳng ra cánh đồng. Mọi người túm năm tụm ba, râm ran bàn tán. Mấy mụ đàn bà thì thào với nhau rằng, lão Quang “bản phủ”, lúc ấy mặt xanh như chàm đổ, còn chân tay thì be bét máu, trông đến khiếp. Thế mà thằng Minh, con trai đầu của “bản phủ”, mặc dù đã được mấy tay đàn ông lực lưỡng trong xóm ghì chặt, vẫn lồng lên, mặt đỏ như gà chọi, hét chói tai: “Các ông bỏ tôi ra, để tôi hoá kiếp cho cái đồ mặt người dạ thú kia, cho hết tội hết nợ…”

 

 

        Quang “bản phủ”, vốn là chánh án ở Toà án nhân dân huyện. Nhưng hình dáng bên ngoài, giống y như nhân vật Bao Thanh Thiên bên tàu trong bộ phim truyền hình nhiều tập chiếu trên đài. Tối hôm trước xem phim, sáng hôm sau đến toà, từ bị can, đương sự đến nhân viên, thư ký toà…giật mình thon thót, nhìn lên ghế chánh án, cứ như thấy ông Bao Chửng ngồi trên thật. Cũng tai to mặt lớn đen sì. Đã thế, trên trán cũng có một vết sẹo gần giống hình lưỡi liềm, do mảnh đạn M79 nổ gần xớt qua hồi đánh nhau ở Quảng Trị. Thế là Quang được gắn cái biệt danh “bản phủ”. Mà nghe chừng Quang cũng khoái với cái danh xưng ấy. Đến đâu nói chuyện cũng xưng xưng “bản phủ”. Để “bản phủ” quyết cái này,để “bản phủ” quyết cái kia… Cán bộ công nhân viên các cơ quan ban nghành xung quanh thì thấy, kể gọi Quang là “bản phủ” cũng đúng. Vì ngày nào Quang chả thăng đường xét xử. Dân làng Ngọc thì tuy trong bụng không ưa “bản phủ” tí nào, nhưng ngoài mặt vẫn tỏ ra nể nang. Điều này có nguyên nhân rất sâu xa.

        Làng Ngọc vốn là một làng có truyền thống nền nếp cao trong vùng. Mọi việc ma chay, cưới xin, hội hè đình đám nhất nhất đều phải theo lệ xưa đã định. Hàng tháng hai kỳ sóc vọng, các cụ bô lão, áo the khăn xếp ra đình, thắp hương thành hoàng, thụ lộc, rồi bàn chuyện làng. Những cuộc họp ấy do cụ thượng trong làng chủ trì. Cụ thượng là một vị bô lão cao tuổi nhất, còn minh mẫn, được các bô lão suy tôn. Nhưng  không phải cứ cao tuổi nhất thì đương nhiên là cụ thượng, là mặc áo gấm đỏ ra đình và ngồi chiếu trên đâu nhé. Mà thực ra nó cũng có những điều kiện khác phải tuân thủ như, không phải là dân ngụ cư, không phải là con nhà mõ…Chuyện lệ làng thì rắc rối, linh tinh lắm. Quang là người theo tân học, luôn đả phá những cái gọi là hủ tục như vậy. Nhưng đấy cũng chưa phải là điều để dân làng Ngọc ghét Quang. Cái vấn đề để dân làng ngấm ngầm ghét Quang “bản phủ”, nó nằm ở mục có tính truyền thống quê hương cơ.

       Chả là, dân làng Ngọc có truyền thống cờ bạc lâu đời. Trong vùng còn lưu truyền một câu ca sau: “Đi qua làng Ngọc chớ đánh bạc/ Mất quần mất áo cấm kêu ai…”. Chuyện dân các làng khác, đến làng Ngọc đánh bạc, thua sạch đến độ phải lột hết cả quần áo gán nợ, trần trùng trục chạy về, sảy ra nhiều rồi. Nhưng dân làng đi chơi các nơi cũng bị lột không ít. Nói đâu xa, ngay cụ Đám Quảng, là ông nội của Quang “bản phủ”. Hồi còn trẻ, đã lừa vợ con một vố bằng cách xúc hết bồ thóc đem bán, rồi độn trấu vào, phủ ít thóc thật lên trên…Cụ ôm bọc tiền, bơi sang bên Lãng đánh bạc. Đến canh ba thì thua nhẵn túi. Cụ bơi về, mò vào miếu bà chúa giếng đầu làng, vơ sạch tiền lẻ khách thập phương cúng trên ban, ôm luôn bộ đồ thờ, bơi sang. Cởi cả quần áo dài làm một “tiếng” nữa, nào ngờ vẫn thua. Thế là cụ chỉ còn độc cái khố chéo trên người, bơi về. Cụ nghĩ cay quá, ra đình làng sáng tinh mơ, thúc trống ngũ liên ầm ầm, rồi lăn đùng ra sân đình, hô: “Cướp, cướp…” Đến đời con là ông Hương Lãm, thì tuyệt nhiên lại không cờ bạc rượu chè gì. Ông làm hương sư trong làng nên người làng mới gọi là ông hương. Ông lấy vợ, sinh được hai trai hai gái. Trai đầu là Quang “bản phủ”, trai nữa thứ ba, tên là Bính, làm mãi trong Sài Gòn. Hai gái lấy chồng xa nhưng có vẻ cũng mát mặt, thấy vợ chồng con cái, xe pháo về thăm bố luôn.

       Quang “bản phủ” học xong cấp ba thì đi bộ đội chống Mỹ năm bảy hai. Sau năm bảy nhăm, Quang đi học một lớp bồi dưỡng pháp lý rồi chuyển nghành về toà án. Cho đến lúc ấy, Quang cũng chả biết cờ bạc là gì. Ngày xuân, xóm làng rộn rã tiếng lắc của bát đĩa, tiếng hô: “Bán chẵn, bán lẻ”, “Kết xe điều”, “Ù thông tôm”, Quang chả hiểu gì. Ở vùng Kinh Bắc, vẫn có câu ca dao:

       Tháng giêng là tháng ăn chơi

       Tháng hai cờ bạc, tháng ba hội hè…

        Suốt ba tháng mùa xuân, cả một miền quê cứ la đà lễ hội, đình đám, rượu chè, cờ bạc. Làng nào cũng mở hội, cũng tế thành hoàng, cũng rước xách. Rồi thì hát quan họ, đón khách thập phương về đánh chén tưng bừng. Các sới chọi gà mở ra cùng với sới vật. Quan họ áo xanh áo đỏ, lả lơi nón thúng quai thao à ơi bên ao đình. Hội tổ tôm điếm của các cụ trên, đánh hầu thánh ở cửa đình, chưa hát hết một bài, thì nhiều tay đàn ông đã tụ tập nhau lập sới bạc tại các nhà trong ngõ xóm. Già thì tổ tôm. Trẻ hơn thì xóc đĩa. Trẻ em, phụ nữ thì tam cúc ăn tiền…Cả làng, cứ mê man trong men say của máu cờ bạc “được ham, thua gỡ”. Hết mùa xuân, tàn hội, thế nào cũng có vài nhà vợ chồng con cái dắt díu nhau đi mất tích. Không hiếm những trường hợp phải bán vợ đợ con, mà các cụ trong làng vẫn truyền đến bây giờ.

          Đến thời mới, chính phủ cấm tiệt cờ bạc. Đã cho khối tay cờ bạc chuyên nghiệp đi tù, đi lao động cải tạo. Thế nhưng không hiểu ra làm sao, mà dân làng Ngọc vẫn không chừa. Vẫn cứ dấm dúi cờ bạc. Cả làng, từ già đến trẻ, hầu như ai cũng thuộc câu: “Cờ bạc là bác thằng bần/ Cửa nhà bán hết cho chân vào cùm”. Thế nhưng già trẻ, lớn bé trong làng, chả ai bỏ. Mới đầu là vui một tí. Rồi vui chơi có thưởng. Rồi thành sát phạt lúc nào không biết…

Quang làm ở toà, suốt ngày chạm mặt dân làng bị lôi xuống xử vì tội cờ bạc. Dân làng Ngọc, vốn có cả máu thương nhân, rất thính nhạy. Liền đến nhà Quang trong xóm ngõ Ba nhờ vả, chạy chọt.

 

 

        Quang đi bộ đội chống Mỹ về, lấy vợ là cô nhân viên hành chính ở công ty thương mại ngoài phố. Đẻ liền bốn thằng con trai. “Bản phủ” vẫn hay huyênh hoang: “Tao tứ tử trình làng. Bí thư huyện uỷ tức nổ con mắt nhưng đéo kỷ luật được”. Chả là hồi Quang sinh con, chính sách sinh đẻ có kế hoạch của huyện khá nghiêm ngặt. Bí thư huyện ra chỉ thị nói rõ, mỗi mụ đàn bà chỉ được đẻ hai lần, còn thì phải xuống bệnh viện, bịt lại. Nhưng khổ nỗi, vợ chồng “bản phủ” đẻ hai lần thì sinh đôi cả hai, thế là thành bốn thằng quý tử! Sau vụ này, huyện phải ra chỉ thị nói lại cho rõ là, mỗi gia đình chỉ được phép có hai con, chứ không phải là hai lần đẻ.

        Chuyện hai vợ chồng thời bao cấp mà nuôi bốn thằng quý tử thì rất mệt. Vợ Quang xoay đủ các nghề làm thêm, nào là nấu rượu nuôi lợn, hàng xay hàng xáo, buôn bán lặt vặt thêm ngoài phố…để nuôi chồng nuôi con. Quang thì còn bận phấn đấu, chả giúp gì được thêm vào cho vợ. Đã thế, thỉnh thoảng vợ Quang còn phải lo tiền cho Quang đi học tại chức. Thế rồi cũng có cái bằng cử nhân luật như ai. Rồi Quang cũng được bổ nhiệm thẩm phán, chuyên xử những vụ ly hôn, cờ bạc, trộm vặt…Chuyện Quang “bản phủ” xử án có rất nhiều giai thoại. Không những người trong toà biết, mà còn lan truyền ra cả ngoài xã hội. Lần “bản phủ” được giao xử vụ ly hôn đơn phương của một cô bên Đông Hồ. Cô này lúc đó mới khoảng hai nhăm tuổi, lấy chồng ba năm, có một con gái. Không hiểu khúc mắc thế nào mà một mực đưa đơn xuống toà xin ly hôn. Hoà giải mấy lần không thành, “bản phủ” phải thăng đường xử án. Tại toà, cô vợ dứt khoát ly hôn, còn anh chồng thì vẫn không chịu. Giằng co nhau mãi, “bản phủ” phát mệt, cho giải lao mười năm phút. Cô vợ tranh thủ đến gần bàn chủ toạ trình bày, xin toà giải quyết nhanh, chứ em chán phải nhìn mặt cái thằng chồng ất ơ này lắm rồi. Quang lấy bút viết vào lòng bàn tay mình dòng chữ: “Muốn xử nhanh, nộp năm triệu”, xoè tay cho cô ta xem, rồi nắm lại, lấy nước dãi xoá đi. Thế mà xong ngay. Kể từ hôm ấy, bên ngành toà án phát minh ra thêm một kênh giao tiếp giữa chánh toà và đương sự là viết vào tay, xoè ra cho xem rồi giấu đi. Xong. Nhưng mà có một số bị can, đương sự mắt cà là nhèm, nhìn mãi không ra, nên toà cứ phải mở lòng bàn tay ra rồi lại nắm vào liên tục. Đến nỗi người ngoài nhìn vào, cứ tưởng là toà giải lao, chơi trò: “Chi chi chành chành…ù oà ù ập” cho đỡ buồn ngủ. Nhưng cái việc ăn tiền của bị can, đương sự cũng khó mà đổ hết lỗi cho “bản phủ” được. Nhiều khi “bản phủ” thấy phát mệt với người làng, cứ tới nhà dúi tiền vào tay xin xử cho cái án nhẹ. Như con mẹ Đào thịt lợn ở xóm ngõ Ghen, con là Mý bị công an bắt ở sới xóc đĩa chân cầu, lọ mọ mang tiền đến xin “bản phủ” xử nương tay, vì thằng con mụ tái phạm nhiều lần, thể nào cũng phải tù. Nhìn cái xấp Polyme xanh khá dày, “bản phủ” bảo, thôi để ta xử cho cái án treo ba tháng. Thế mà mụ phủ phục ngay xuống nền nhà, lạy như tế sao: “Em lạy bác, bác có thương cháu thì cho cháu tù ngồi hay là tù nằm cũng được. Chứ bác bắt nó treo lên thì một ngày là nó chết! Em chỉ có mỗi nó là con trai…” Thế mới mệt. Các cụ ngày xưa đã chả từng dạy “Vô phúc đáo tụng đình”. Dân làng Ngọc, hết lớp này đến lớp khác, hết lượt nọ đến lượt kia, bị chính quyền hỏi thăm vì tội cờ bạc. Thế là, chồng trong “nhà muỗi”-cái danh từ “nhà muỗi” là do cánh cờ bạc trong làng gọi ám chỉ phòng tạm giam của công an. Chúng bảo muỗi ở đấy rất to, to như con ruồi mà đốt rất đau. Chúng còn kháo nhau là, hình như công an nuôi muỗi để trừng trị tội phạm hay sao ấy, nhiều như trấu- thì vợ lại tất tả chạy đến nhà Quang. Con bị “nhập kho” thì mẹ lại nước mắt ngắn dài, tới trình bày với “bản phủ”. Tất nhiên là hình như, cũng các cụ nhà ta đã dạy khá lâu rồi, “Vào cửa quan, không có lối nói bằng nước dãi”. Dân làng Ngọc, vốn đi ăn cơm thiên hạ nhiều, nên rất hiểu lề lối…Quang “bản phủ” kiếm rất khá. Có tiền, Quang “chạy” được chức chánh án ngon ơ. Từ ngày lên chức “chánh”, Quang càng tích cực thăng đường xử án. Kinh nghiệm mấy chục năm trong nghề nên “bản phủ” rất tinh tường. Những vụ nào dễ xơi, thì tự “bản phủ” thăng đường. Vụ nào khó nhằn, thì giao cho bọn đàn em. Cứ thế, năm nào “toà” của “bản phủ” cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trên giao. Án xử năm nào cũng vượt năm trước. Tiền kiếm được cũng nhiều và dễ như là ăn ớt. Thế mà không hiểu sao, vợ “bản phủ” hưu non đã lâu, nhưng cứ lam lũ bán buôn nhì nhằng ngoài phố cả ngày, kiếm mấy đồng tiền còm.

 

 

       Vợ chồng Quang được bốn thằng con trai, sàn sàn tuổi nhau. Lúc chúng còn bé, thằng nào thằng nấy hay ăn chóng lớn, ngoan như thỏ. Nhưng càng lớn, vợ chồng “bản phủ” mới càng phát mệt với chúng. Ông nội chúng là hương sư trong làng, thuộc diện có chữ. Còn bố, cũng có bằng đại học hẳn hoi. Thế mà bốn thằng nghịch tử-giờ “bản phủ” không tự hào là “tứ tử” nữa, mà gọi là nghịch tử, dốt như bò. Thày cô giáo thì bảo, cái loại này có bổ đầu ra nhét chữ vào cũng không được. Nhưng mà ăn chơi, đàn đúm, đua xe, game thì không con nhà nào bằng. Nhiều hôm, buổi trưa, buổi tối, Quang về nhà, muốn nghỉ ngơi yên tĩnh một chút cũng không xong. Nhà lúc nào cũng ầm ầm như có động đất vậy. Quang “bản phủ” rất điên vì không dạy nổi con, quay ra chì chiết vợ: “Cái loại đàn bà không biết dạy con. Các cụ ngày xưa nói cấm có sai: Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà!” Vợ Quang uất, nhưng không dám cãi. Vì “bản phủ” vẫn nổi tiếng trong làng là “độc tài”. Vợ kém mình chín tuổi, nên Quang coi như còn trẻ con. Lúc mới cưới về, thực hiện lời dạy của bố là ông Hương Lãm: “Dạy vợ từ thủa bơ vơ mới về”. Quang bắt vợ phải học thuộc câu “tam tòng tứ đức”…Rồi cả cái chuyện “sinh hoạt vợ chồng” cũng vậy. Cứ lúc nào có nhu cầu, Quang lại mò vào buồng vợ. Xong việc, lại ôm đít ra nằm một mình cho thảnh thơi nhà ngoài. Vợ “bản phủ”, lắm lúc uất ức chỉ dám than thở vụng với chị em là: “Mình cứ như người hầu, con ở nhà ấy. Nhiều đêm ngủ với chồng mà cứ tưởng mình đang bị hiếp dâm”. Nhưng thế mà lại đẻ hai lần sinh đôi, bốn thằng con trai, nghĩ cũng tài…Nhưng tài đâu chẳng biết, khi cả bốn ông quý tử ấy lớn lên thì không những “bản phủ” đau đầu, mà vợ cũng lộng óc. May có chú Bính là em ruột “bản phủ” về chơi thăm bố. Ngày xưa Bính học đại học hàng hải, đi tàu viễn dương chán, giờ đã lên bờ làm trong Sài Gòn. Lâu lâu mới về thăm nhà, thấy tình hình mấy thằng cháu như vậy, liền bảo ông anh: “Sao anh không cho chúng nó đi du học?”. Quang “bản phủ” sáng mắt ra, ừ thế mà mình không nghĩ đến. Nhà có tiền, tống một thằng sang Anh, một thằng sang Pháp, một sang Mỹ. Còn một thằng sang tận Canada, thế là yên. Ngài chánh án xoa tay, thở phào nhẹ nhõm.

        Việc mấy thằng con tạm ổn. Chú ba nó nhiều mối quan hệ làm ăn với người Việt bên các nước ấy gửi gắm nên yên tâm. Chúng nó mà không học được, thì ra đi làm cũng không sao. Toàn những nước văn minh, coi trọng con người. Nhưng lo xong cho mấy thằng con, thì lại nảy ra việc bà vợ. Bao năm nay cúc cung tận tuỵ, thế mà một ngày đẹp giời, bà ấy bảo: “Bao năm qua tôi hầu hạ bố con ông đủ rồi. Nay tôi sống một mình. Ông thích thì quyền ông, xuống toà làm thủ tục ly hôn. Không thích thì tôi với ông ly thân, về danh nghĩa vẫn còn, nhưng thân ai người ấy sống. Tôi không đòi hỏi gì ở ông cả.”

 

 

        Vụ này “bản phủ” đau hơn hoạn. Thì ra vợ mình, mụ ấy đã âm thầm chuẩn bị từ lâu. Lúc phải nghỉ hưu non do công ty giải thể, Quang đã bảo là cứ ở nhà cơm nước, tiếp khách mà mụ ấy không nghe. Một mực ra phố bán buôn…Giờ mụ ấy dọn xuống nhà ngang, ở một mình. Ngày ra phố, dọn cái sạp hàng khô, tối đêm mới về, chả để ý gì đến Quang. Nhưng Quang ngồi nghĩ lại, thì thấy cũng tại mình phần nhiều, nên không dám làm gì om xòm. Vả lại, đường đường là “bản phủ”, suốt ngày thăng đường xử án, mà bây giờ lại phải ra công đường thì…Chỉ nghĩ đến đấy thôi, Quang không dám nghĩ tiếp nữa. Thôi, kệ con mụ vợ già hết đát ấy, càng tự do, “bản phủ” ta đây, đâu có thiếu gái trẻ hầu hạ.

        Thật ra thì không phải đến bấy giờ Quang mới cặp bồ. Hồi còn chuyên xử ly hôn, “bản phủ” cũng tranh thủ “chén” khá. Thụ lý nhiều vụ, Quang thấy đa số các cặp vợ chồng trẻ bỏ nhau, là do nguyên nhân không hoà hợp về tình dục. Khi ra toà, chả lẽ lại nói thế, nên đành nói là do tính cách không phù hợp. Người Việt mình luôn có cách nói rất tế nhị về một sự nào đấy, để  cho mọi người hiểu, nhưng vẫn không cần phải toẹt ra hết, gọi là nói tránh, nói đổ. Quang “bản phủ” thừa hiểu, nhưng lắm lúc xử án, hay trêu già, gặng: “Thế tính cách không hợp thì cụ thể nó không hợp ở chỗ nào?” để thư giãn ấy mà. Ví như hồi xử cho em Triều, người bên Lãng đơn phương ly hôn cũng vậy. Triều, khi đưa đơn ly hôn cũng là gái một con. Cô nàng mới hai mươi hai tuổi, nhưng con trai đã lên ba. Sau này, khi đã là bồ của Quang, một lần, trong lúc hứng tình, cô nàng có thốt ra là, lúc ấy em lấy chồng khi chưa tròn mười tám tuổi, là do thèm quá, đếch nhịn được. Có thằng đầu tiên đến xin cưới là gật đầu liền. Khi Triều đến nộp đơn tại toà, Quang “bản phủ” đã hoa cả mắt. Ở đâu ra mà bên làng Lãng lại có đứa xinh thế không biết. Triều có thân hình tròn lẳn, cả ba vòng của cô nàng đều nở căng, đủ đầy, không thừa không thiếu. Sở hữu một cặp đùi thon dài, khi cô nàng bước đi, như có một làn sóng nhịp nhàng uốn lượn toàn thân. Khuôn mặt Triều cũng dường như được bà mụ hết sức chăm chút. Những đường nét của mũi, của môi không chê vào đâu được. Và đặc biệt, là đôi mắt lá răm, ướt rượt, long lanh, chan chứa…Quang quyết phải tìm cho ra nhẽ, vì sao mà người đẹp như thế lại một hai đòi bỏ chồng. Vài lần gặp gỡ chuyện trò với cái gọi là hoà giải, “bản phủ” đã biết được vấn đề. Lúc giáp mặt chồng em Triều, một tay giáo viên cấp một ẻo lả, xanh rớt, thì Quang đã nhất tâm phải “chén” cô nàng. Chưa kịp làm thủ tục ly hôn, “bản phủ” đã cũng không nhịn được, đưa em Triều vào nhà nghỉ “tư vấn”. Cô nàng sau khi thoả thê rồi, nằm gác đùi lên bụng Quang, cười rinh rích: “Nói thật, từ ngày biết mùi đời đến nay em mới được thoả mãn thế này. Cái thằng chồng em kém quá, chỉ được năm giây là xong. Có lần em điên lên, đạp cho một phát lăn chiêng xuống đất. Phí cả công cởi quần”. Quang “bản phủ” rất thoả mãn với Triều, bèn xin cho cô nàng chân văn thư ở trường cấp hai gần đấy, để tiện chỗ đi lại. Những việc đại loại như thế, vợ “bản phủ” biết cả. Nhưng vợ Quang là cô gái sinh trưởng trong một gia đình rất nặng lễ giáo phong kiến. Nghe chuyện “bản phủ” bồ bịch, trai gái lung tung, chỉ biết ấm ức chạy về nhà mẹ đẻ ở xóm ngõ Ván cùng làng, khóc lóc than thở. Ông bố, chả động viên an ủi con gái được câu nào, mà còn quát: “Trai anh hùng năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên chỉ có một chồng. Nó ra ngoài có chấm mút nọ kia, nhưng về nhà vẫn vợ con, nội ngoại chu đáo. Thế là được rồi. Cút về nhà mày ngay!” Thì người làng Ngọc, người ta vẫn bảo rằng: “Con gái lấy chồng, như bát nước hắt đi…”

 

 

        Vợ chồng ly thân được vài năm thì “bản phủ” đến tuổi nghỉ hưu. Trước khi cầm quyết định sáu tháng thì ông Hương Lãm, bố đẻ Quang mất. Dân làng Ngọc nói, ông cụ chết thật đúng lúc. Mấy thằng trẻ ranh sỗ mồm hơn còn bảo chết đẹp. Là vì, khi “bản phủ” còn đương chức, có đông người đến phúng viếng, mà phong bì hương khói cũng dày dặn. Ông ấy mà chết lúc Quang “ hát tê” rồi á, còn lâu. Nhưng mà quả thật, đối với giới gọi là có chút chức quyền ở nước ta, về hưu là một điều gì thật kinh khủng. Chả thế mà đã có tay cảm thán, chiết tự chữ hưu trí như sau: “Hưu trí là hát tê. Hát tê là hết tiền. Hát tê là hết tình. Hát tê là hạ thổ.” Xong. Không biết đối với người khác thế nào, chứ về hưu, Quang “bản phủ” buồn thật. Bố vừa chết. Vợ ly thân từ lâu. Con cái thì ở xa cả. Có em bồ trẻ, định để an hưởng tuổi già, nên “bản phủ” cũng đầu tư cho kha khá thì, dạo này cô nàng có ý ngãng ra. Mà cũng phải, nàng Triều năm nay mới gần bốn mươi, đương thì hồi xuân, lúc nào cũng nồng người. Thế mà “bản phủ” ngoài lục thập rồi, thấy đuối. Thôi cũng đành.

         Nhưng loanh quanh ở nhà mãi thì cũng chán, “bản phủ” bèn lân la đi chơi trong xóm. Nếu chỉ nói về chơi thôi thì, trai làng Ngọc là những tay chơi khét tiếng trong vùng. Có khi hàng ngày vợ cứ bán buôn chợ búa hay lam lũ cấy gặt ngoài đồng, nhưng mấy ông chồng vẫn cứ điềm nhiên tổ tôm chắn cạ ngày này sang ngày khác. Quang “bản phủ” sang chơi các nhà hàng xóm thấy chỗ nào cũng bài bạc từ sáng đến trưa, từ trưa đến tối. Mấy tay chơi gạ: “Thì bác vào luôn đây ngồi với bọn em cho vui” “Nhưng anh không biết chơi”,” Quang trả lời. “Ôi trời, chuyện chơi thì đơn giản, ngồi cùng bọn em dạy”. Thế là Quang bập vào cờ bạc. Thật ra, mới đầu “bản phủ” cũng chỉ định chơi cho vui, để giết thời gian thôi. Nhưng không ngờ càng chơi càng mê. Mà “bản phủ” lại mê đủ các nghề mới chết. Ngày xưa, ở làng người ta chỉ chơi tổ tôm, tam cúc và xóc đĩa. Bây giờ có thêm rất nhiều nghề chơi: Chắn cạ, tá lả, lô đề…Môn mà “bản phủ” khoái nhất là tá lả và lô đề. Quang bảo, tá lả là một bộ môn vừa có tính nghệ thuật lại vừa có tính trí tuệ cao. Tính toán để ù một ván không phải là đơn giản. Cái cảm giác khi vơ vào lòng đống tiền của các tay chơi xung quanh thật là khoan khoái. Rồi cái cảm giác hồi hộp khi ngồi bên ti vi, đợi giờ nhà đài công bố kết quả sổ số trực tiếp. Để so xem cái bảng đánh lô mấy chục điểm một con, có về nhiều không…Cái cảm giác khi bao ngày đánh chả trúng con nào, ủ ê, thất vọng tột cùng…Cái cảm giác khi chiều nay vừa ghi ngàn điểm cho mấy con lô, trúng liền, bùng nổ, râm ran, thăng hoa, lâng lâng…Còn sướng hơn cả thời đang sung, đêm đêm thi đấu với em Triều. Nhưng từ thời thượng cổ, các cụ ở làng Ngọc này đã truyền lại là, chưa từng thấy tay nào có thể làm giàu bằng nghề cờ bạc. Mà chỉ thấy nhiều nhà sạt nghiệp vì nó. Quang “bản phủ” cũng không là ngoại lệ. Mới đầu là giết thời gian, nhưng rất nhanh chóng, “bản phủ” đã trở thành một con nghiện nặng. Bây giờ, ở làng, nói đến “bản phủ”, chả ai còn hình dung ra một ông mặt sắt đen sì, chuyên xử án nữa. Mà moị người đều nghĩ đến một tay cờ bạc thành thần. Tá lả có thể ngồi thâu đêm suốt sáng. Lô đề thì có thể đánh đến hàng ngàn điểm một con. Nhưng cứ thế, thì đến núi Thiên Thai cũng có thể san thành bình địa, chứ đừng nói đến gia sản của nhà nào có thể chịu nổi. Mới đầu là tiền, là vàng Quang tích luỹ được bấy lâu. Rồi lần lượt đến đất đai ở các khu đô thị mới. Sau nữa là các đồ đạc quý trong nhà lần lượt được “bản phủ” tiễn đi. Rồi đến một lúc, không còn gì nữa, chỉ còn cái xác nhà không, Quang mò xuống nhà ngang lần tiền vợ để thoả cơn nghiền cờ bạc. Mới đầu còn vụng trộm được, sau vợ Quang biết, cất kỹ. Không tìm được, “bản phủ” đâm cùn, đè nghiến vợ ra lột tiền. Vợ Quang từ lâu đã coi Quang không phải là chồng mình, không quan tâm đến việc “bản phủ” kiếm chác hay phá tán thế nào. Nhưng đến khi “bản phủ” dùng cả sức mạnh đàn ông để đàn áp, lột mấy đồng tiền còm cõi bán buôn cả ngày ngoài phố mới kiếm được, để đi cờ bạc. Vợ Quang không chịu nổi nữa, liền gọi điện sang Anh cho thằng Minh con cả.

 

 

        Thằng Minh ở bên Anh đã hơn chục năm nay. Nó cũng chả học hành được cái nghề ngỗng gì. Nghe người làng đồn, nó đi làm “nông dân” hay là “người rơm” gì đấy cho bọn xã hội đen người Việt bên ấy…Nhưng mà thằng ấy được cái xót mẹ. Trước kia, mẹ nó giấu, nó cứ tưởng là mẹ nó ở nhà cũng ổn, gì thì cũng là vợ “quan”. Nay nghe mẹ trong cơn phẫn uất, kể tuột mọi chuyện, thằng Minh không chịu đựng nổi, nó tìm cách bay về ngay. Mới đầu, thằng này xử sự khá đường hoàng. Nó làm một mâm cơm rượu, rồi bảo cả bố và mẹ cùng ngồi ăn, gọi là mừng ngày đoàn viên. Gần cuối bữa, nó mới nói:

      -Con có chuyện cần nói với bố.

      -Tao với mày chả có chuyện gì để nói cả- “bản phủ” vẫn đang cay vì sáng nay đánh “phỏm” bên hàng xóm bị ù đền mấy lần, mất mấy triệu, nhấm nhẳn nói.

      -Bố không có chuyện gì để nói với con, nhưng con có chuyện để nói với bố. Chuyện của mẹ.

      -Chuyện của mẹ mày thì càng chả có gì để nói. Từ lâu, bà ấy đéo phải là vợ tao rồi.

      -Nhưng vẫn là mẹ tôi! Tại sao ông vẫn đánh đập rồi lột tiền của mẹ tôi đi đánh bạc?- Thằng Minh gằn giọng nói với Quang. Nó đã khá say, chai sáu lăm rượu trắng đã hết, chủ yếu nó uống. “Bản phủ” vốn không uống được rượu.

      -Mày đừng có láo nhé. Tao đây là bố mày, nhưng thử hỏi bao năm qua, mày có gửi cho tao được đồng xu lẻ nào không? Mày đi ở nước ngoài chỉ biết sướng thân một mình, mày có quan tâm đến ai đâu.

      -Thế bao năm nay, ông có biết tôi phải sống như thằng nô lệ ở bên ấy không?- Thằng Minh bắt đầu cao giọng quát lại.

      -Mày sống thế nào thì kệ con mẹ mày. Tao không cần biết, mày lớn rồi, mày phải có nghĩa vụ gửi tiền về cho tao!

      -Thế ra ông chỉ quan tâm đến tiền à?

      -Ừ đấy, giờ tao chỉ quan tâm đến tiền. Không có tiền cho tao thì cút mẹ mày đi đâu thì đi.- Vừa nói, “bản phủ” vừa rũ áo đứng dậy, ra sân, định sang hàng xóm chơi tá lả.

       -Ông đúng là đồ khốn kiếp!- Thằng Minh cũng đứng đậy và quát to.

       -Mày dám chửi bố mày thế à? Mày có còn là con tao không?

       -Tôi đéo phải là con ông. Tôi đéo có loại bố như ông!

       -Thằng này hết dạy rồi. Loại mày để sống chỉ làm bẩn xã hội. Hôm nay tao phải giết mày!- “Bản phủ” vừa chửi lại thằng con, vừa chạy ra đống củi của vợ chiều qua vừa chẻ ở góc sân. Vớ ngay con dao rựa chạy vào đòi chém thằng Minh. Vợ “bản phủ”, từ nãy vẫn ngồi yên nghe hai bố con cãi nhau, thất kinh, chạy ra sân gào toáng lên:

       -Ới hàng xóm láng giềng ơi, cứu tôi với, hai bố con nhà nó giết nhau đây này.

Quang “bản phủ” hùng hổ cầm dao xông vào thằng Minh. Nhưng “bản phủ” già rồi, thằng con chỉ xoay nhẹ người, đã tóm gọn cả tay và dao. Nó giật con dao trong tay “bản phủ”, thuận tay lia một nhát về phía Quang, như là một phản xạ bản năng. “Bản phủ” đưa cánh tay lên che mặt…Tiếng lưỡi dao rựa cùn chạm vào xương thịt cộc cằn, ghê rợn, máu toé ra. Vợ Quang sợ quá, lăn đùng ra sân chết ngất. Quang “bản phủ” kinh hoàng, ôm tay bỏ chạy về cuối ngõ, phía cánh đồng. Thằng Minh như bị say máu, nó cầm dao đuổi theo, vừa hét : “Hôm nay tôi phải chém chết ông cho hết nợ”. Quang chạy ra đến bờ ruộng thì bị trượt chân ngã. Thằng Minh lao đến, giáng tiếp một nhát trúng đùi…May cho “bản phủ”, mấy tay đàn ông trong xóm nghe tiếng kêu cứu của vợ Quang, đuổi theo vừa kịp, xông vào đè nghiến được thằng Minh xuống…

 

 

          Những tưởng phen này cả làng, cả xã, cả tỉnh được chứng kiến câu chuyện có một không hai: Con chém bố. Người chuyên đi xử án thì nay lại bị xử trước toà. Nhưng mà dân tình đợi mãi cũng không thấy gì. Thằng Minh chỉ bị xử phạt hành chính, rồi được thả ra. Nghe nói, nó bỏ vào Sài Gòn kiếm ăn chỗ chú nó. Quang “bản phủ” cũng chỉ nằm viện một tháng rồi về. May cho “bản phủ” là con dao rựa ấy vợ chuyên dùng để chẻ củi nên rất cùn. Thế nên, vết thương cũng không nặng lắm. Nhưng cái chủ yếu là “bản phủ” lúc nằm ở viện, nghĩ cũng thấy nhục, nên nhắn gọi thằng em ruột từ Sài Gòn ra thu xếp mọi chuyện, dập đi. Mấy nghành pháp luật trong huyện, cũng còn chút nể nang. Vả lại, người nhà “bản phủ” cũng đến có ý kiến xin và quà cáp, phong bao chu đáo nên cũng thôi, bỏ qua. Sau sự việc ấy, vợ Quang dọn hẳn ra phố ở luôn chỗ sạp hàng khô. Quang “bản phủ” về ở một mình trong căn nhà trống ở cuối xóm. Thỉnh thoảng dân làng Ngọc thấy “bản phủ”, đầu trọc lốc, mặt vẫn đen sì, một tay khoèo khoèo, tay chống nạng, tập tễnh đi loanh quanh trong xóm ngõ Ba, mồm lẩm bẩm: “Tứ tử trình làng! Cứ ăn cứ chơi, có trời ủng hộ…”


TRẦN THANH CẢNH

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
09 Tháng Tám 20267:14 CH(Xem: 210)
“Một suy ngẫm nối tiếp Từ bài viết “CUỘC TỰ VẤN LƯƠNG TÂM LỚN NHẤT VÀ RUNG CẢM NHẤT TRONG ĐIỆN ẢNH” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey của Christopher Nolan, chúng tôi thử đi thêm một bước: từ Troy của Homer nhìn về những cuộc chiến của thế giới hôm nay.” MINH HẠO -
09 Tháng Tám 20266:02 CH(Xem: 175)
Hợp Lưu trân trọng giới thiệu bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey — bộ phim mới của đạo diễn Christopher Nolan. Không chỉ là một bài điểm phim, tác giả đã đọc cuộc trở về của Odysseus như một hành trình trở về với lương tri và Nhân tính; nơi chiến thắng, quyền lực và những cuộc chinh phạt cuối cùng phải đối diện với món nợ máu của những người vô tội. Từ thành Troy của Homer đến một thế giới hôm nay vẫn còn “gió tanh mưa máu”, bài viết đặt ra một câu hỏi tưởng cổ xưa mà vẫn nhức nhối: Sau mỗi cuộc chiến, ai sẽ là người trả giá cho những gì con người đã gây ra cho con người? — BAN BIÊN TẬP HỢP LƯU
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 329)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:11 CH(Xem: 279)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
07 Tháng Tám 202611:05 CH(Xem: 392)
tháng giêng hoa xoan chưa nở / thì em đã vội lấy chồng / mùi hương còn đang dang dở / rụng đầy xuống cả dòng sông / *** tháng hai ánh trăng vừa cũ / chênh chao ngõ vắng im lìm / em không còn gì để nói / chỉ màu nắng nhạt qua tim /
07 Tháng Tám 202610:29 CH(Xem: 566)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
30 Tháng Bảy 20261:56 CH(Xem: 1017)
XÓM BỜ MƯƠNG – Truyện thứ hai trong bộ ba "Tam Quan" của Phạm Ngọc Lương. Hôm qua, chúng tôi giới thiệu CÁT HOANG. Hôm nay là XÓM BỜ MƯƠNG – truyện ngắn thứ hai trong bộ ba Tam Quan của nhà văn trẻ Phạm Ngọc Lương, từng đăng trên Hợp Lưu số 87 (2006). Hơn hai mươi năm trước, nhà phê bình Thụy Khuê đã gọi đây là "một câu chuyện cổ tích kinh dị", nơi cái chết của một dòng sông song hành với sự mục rữa của môi trường, sự tha hóa của con người và số phận bi thảm của một đứa trẻ. Một truyện ngắn đầy chất thơ, nhưng càng đẹp càng khiến người đọc rùng mình. Hai mươi năm đã trôi qua. Dòng sông trong truyện có còn là một ẩn dụ của hôm nay? Xã hội Việt Nam đã thay đổi đến đâu trước những vấn đề mà XÓM BỜ MƯƠNG đặt ra: môi trường, bạo lực, sự vô cảm, và phẩm giá con người? Chúng tôi xin giới thiệu lại truyện ngắn này. Câu trả lời, có lẽ, xin dành cho mỗi bạn đọc.
29 Tháng Bảy 20263:34 CH(Xem: 1083)
Có những tác phẩm không thuộc về một thời điểm. Chúng lặng lẽ nằm lại trên trang giấy nhiều năm, rồi một ngày nào đó bỗng hiện lên với sức nặng như thể vừa mới được viết hôm qua. Cát Hoang là một truyện ngắn như vậy. Lần đầu xuất hiện trên Tạp chí Hợp Lưu bởi lối viết tối giản, đứt đoạn như điện ảnh, ngôn ngữ đầy ký hiệu, và một thế giới nghệ thuật khiến người đọc vừa bối rối vừa ám ảnh. Nhà phê bình Thụy Khuê từng nhận xét đây là một truyện ngắn có cấu trúc của thơ hiện đại, nơi mỗi câu chữ đều trở thành một ám hiệu, buộc người đọc phải đọc bằng trực giác nhiều hơn bằng cốt truyện. Trong thế giới ấy, có một bãi đất nổi giữa dòng sông, một cộng đồng sống như chưa từng biết đến ánh sáng của văn minh, nơi trẻ em không được học chữ, nơi người biết chữ bị gọi là "con điên", và nơi bạo lực dần trở thành trật tự bình thường. Đó là một không gian hư cấu. Nhưng điều khiến Cát Hoang sống mãi không nằm ở tính hư cấu ấy, mà ở khả năng đánh thức những câu hỏi chưa bao giờ cũ:
22 Tháng Bảy 202610:50 CH(Xem: 1686)
MẢNH ĐẤT ÍT NGƯỜI NHIỀU MA… NGƯỜI, viết hoa, theo tính chất triết học cả Đông lẫn Tây, và theo cách hiểu của tâm lý đời thường nhiều biến động này là “Tử tế”, đang ít dần đi cùng với sự teo tóp của Lương tri, sự lẩn trốn của cái Thiện, sự đánh mất Tình thương và Lòng trắc ẩn… Ma, theo nghĩa khái quát về bản chất Ma Quỷ trong con người đang trỗi dậy, không chỉ là hình tượng dọa nạt con trẻ nữa mà đang trở thành thế lực khủng khiếp đe dọa thống trị toàn bộ cơ chế hoạt động lẫn tinh thần – đạo lý xã hội…
22 Tháng Bảy 202610:23 CH(Xem: 1982)
Bão Maysak đổ bộ vào Móng Cái / các bản tin điện tử dồn lên trang nhất / suốt nhiều giờ chống bão / anh đợi bản tin em
07 Tháng Tám 2026(Xem: 566)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 11055)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17691)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16757)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 329)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:05 CH(Xem: 391)
tháng giêng hoa xoan chưa nở / thì em đã vội lấy chồng / mùi hương còn đang dang dở / rụng đầy xuống cả dòng sông / *** tháng hai ánh trăng vừa cũ / chênh chao ngõ vắng im lìm / em không còn gì để nói / chỉ màu nắng nhạt qua tim /
22 Tháng Bảy 202610:23 CH(Xem: 1982)
Bão Maysak đổ bộ vào Móng Cái / các bản tin điện tử dồn lên trang nhất / suốt nhiều giờ chống bão / anh đợi bản tin em
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 2527)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
(Xem: 279)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
(Xem: 2416)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
(Xem: 2183)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
(Xem: 2771)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
30 Tháng Bảy 20261:56 CH(Xem: 1017)
XÓM BỜ MƯƠNG – Truyện thứ hai trong bộ ba "Tam Quan" của Phạm Ngọc Lương. Hôm qua, chúng tôi giới thiệu CÁT HOANG. Hôm nay là XÓM BỜ MƯƠNG – truyện ngắn thứ hai trong bộ ba Tam Quan của nhà văn trẻ Phạm Ngọc Lương, từng đăng trên Hợp Lưu số 87 (2006). Hơn hai mươi năm trước, nhà phê bình Thụy Khuê đã gọi đây là "một câu chuyện cổ tích kinh dị", nơi cái chết của một dòng sông song hành với sự mục rữa của môi trường, sự tha hóa của con người và số phận bi thảm của một đứa trẻ. Một truyện ngắn đầy chất thơ, nhưng càng đẹp càng khiến người đọc rùng mình. Hai mươi năm đã trôi qua. Dòng sông trong truyện có còn là một ẩn dụ của hôm nay? Xã hội Việt Nam đã thay đổi đến đâu trước những vấn đề mà XÓM BỜ MƯƠNG đặt ra: môi trường, bạo lực, sự vô cảm, và phẩm giá con người? Chúng tôi xin giới thiệu lại truyện ngắn này. Câu trả lời, có lẽ, xin dành cho mỗi bạn đọc.
29 Tháng Bảy 20263:34 CH(Xem: 1083)
Có những tác phẩm không thuộc về một thời điểm. Chúng lặng lẽ nằm lại trên trang giấy nhiều năm, rồi một ngày nào đó bỗng hiện lên với sức nặng như thể vừa mới được viết hôm qua. Cát Hoang là một truyện ngắn như vậy. Lần đầu xuất hiện trên Tạp chí Hợp Lưu bởi lối viết tối giản, đứt đoạn như điện ảnh, ngôn ngữ đầy ký hiệu, và một thế giới nghệ thuật khiến người đọc vừa bối rối vừa ám ảnh. Nhà phê bình Thụy Khuê từng nhận xét đây là một truyện ngắn có cấu trúc của thơ hiện đại, nơi mỗi câu chữ đều trở thành một ám hiệu, buộc người đọc phải đọc bằng trực giác nhiều hơn bằng cốt truyện. Trong thế giới ấy, có một bãi đất nổi giữa dòng sông, một cộng đồng sống như chưa từng biết đến ánh sáng của văn minh, nơi trẻ em không được học chữ, nơi người biết chữ bị gọi là "con điên", và nơi bạo lực dần trở thành trật tự bình thường. Đó là một không gian hư cấu. Nhưng điều khiến Cát Hoang sống mãi không nằm ở tính hư cấu ấy, mà ở khả năng đánh thức những câu hỏi chưa bao giờ cũ:
22 Tháng Bảy 202610:14 CH(Xem: 1622)
Đất nước ta khởi đi từ hình bóng một người mẹ thuở hồng hoang. Lịch sử chúng ta khởi đi từ lời ru và những cuộc phân ly. Giữa huyền thoại về những người anh hùng, thấp thoáng bóng dáng những người mẹ trầm mình trên sông.
14 Tháng Bảy 202612:37 SA(Xem: 2401)
Bích Lan sinh trưởng ở Đồng Nai, tính tình hiền lành và có ngoại hình dễ nhìn. Năm nay bốn mươi tuổi. Ở cái tuổi mà nhiều người phụ nữ đã có con vào đại học, cô trở về căn hộ của mình mỗi chiều với một chùm chìa khóa và sự im lặng. Từ ban công tầng mười sáu nhìn xuống, thành phố đêm nào cũng sáng rực. Xe cộ vẫn xuôi ngược, những ô cửa vẫn hắt ra ánh đèn vàng ấm áp. Chỉ có căn hộ của Lan, nhiều lúc rộng đến mức nghe rõ tiếng dép của chính mình trên nền gạch. Sự nghiệp làm ăn thì thuận tiện nhưng về đường tình duyên thì có phần lận đận.
09 Tháng Tám 2026(Xem: 210)
“Một suy ngẫm nối tiếp Từ bài viết “CUỘC TỰ VẤN LƯƠNG TÂM LỚN NHẤT VÀ RUNG CẢM NHẤT TRONG ĐIỆN ẢNH” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey của Christopher Nolan, chúng tôi thử đi thêm một bước: từ Troy của Homer nhìn về những cuộc chiến của thế giới hôm nay.” MINH HẠO -
09 Tháng Tám 2026(Xem: 175)
Hợp Lưu trân trọng giới thiệu bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey — bộ phim mới của đạo diễn Christopher Nolan. Không chỉ là một bài điểm phim, tác giả đã đọc cuộc trở về của Odysseus như một hành trình trở về với lương tri và Nhân tính; nơi chiến thắng, quyền lực và những cuộc chinh phạt cuối cùng phải đối diện với món nợ máu của những người vô tội. Từ thành Troy của Homer đến một thế giới hôm nay vẫn còn “gió tanh mưa máu”, bài viết đặt ra một câu hỏi tưởng cổ xưa mà vẫn nhức nhối: Sau mỗi cuộc chiến, ai sẽ là người trả giá cho những gì con người đã gây ra cho con người? — BAN BIÊN TẬP HỢP LƯU
22 Tháng Bảy 2026(Xem: 1686)
MẢNH ĐẤT ÍT NGƯỜI NHIỀU MA… NGƯỜI, viết hoa, theo tính chất triết học cả Đông lẫn Tây, và theo cách hiểu của tâm lý đời thường nhiều biến động này là “Tử tế”, đang ít dần đi cùng với sự teo tóp của Lương tri, sự lẩn trốn của cái Thiện, sự đánh mất Tình thương và Lòng trắc ẩn… Ma, theo nghĩa khái quát về bản chất Ma Quỷ trong con người đang trỗi dậy, không chỉ là hình tượng dọa nạt con trẻ nữa mà đang trở thành thế lực khủng khiếp đe dọa thống trị toàn bộ cơ chế hoạt động lẫn tinh thần – đạo lý xã hội…
11 Tháng Bảy 2026(Xem: 2248)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 3079)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 14404)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 30478)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 36755)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 12177)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 13521)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 3944)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 5962)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 5452)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 6011)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 6663)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 8987)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 8287)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 11227)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.