- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

KHUẤT NGUYÊN TRONG TRÁI TIM NGUYỄN DU. Bài II : HỒN OAN NƯỚC SỞ HỠI, ĐỪNG VỀ !

02 Tháng Tư 201910:27 CH(Xem: 44458)

KHUAT NGUYÊN

Cũng như hai bài thơ Tương Đàm điếu Tam Lư đại phu đã khảo sát ở phần I, trong các bài thơ còn lại về chủ đề này, Nguyễn Du vẫn say mê trò chuyện, luận bàn, thậm chí tranh cãi với Hồn oan nước Sở từ hơn hai ngàn năm, như hồn đang hiển hiện quanh quất bên mình, trên dòng sông lịch sử tựa một nấm mồ lớn đang vùi lấp thân xác của một con người tri âm tri kỷ đặc biệt đối với ông.

Đêm ở Tương Âm, một huyện thuộc tỉnh Hà Nam, có đoạn sông Tương gần với sông Mịch La nơi Khuất Nguyên trầm mình, Nguyễn Du lặng nhớ đến Khuất Nguyên từng thân thuộc với ông lâu nay qua sử sách. Thủy kinh chú sớ viết: “…ở quận Trường Sa có sông mà Khuất Nguyên tự trầm mình, núi sông trong sáng, khác với chỗ bình thường, dân lập miếu ở phía tây đầm Mịch. Ngày nay, miếu Mịch La ở bên sông Mịch La, cách phía bắc huyện Tương Âm 60 dặm… trước miếu có bia…”(1)

3. Tương Âm dạ

Mãn mục giai thu sắc

Mãn giang giai nguyệt minh

Tịch liêu kim dạ vọng

Thiên trích cổ nhân tình

Thu thủy tòng tây lai

Mang nhiên thông Động Đình

Tĩnh dạ tức ngâm khiếu

Vô sử giao long kinh.

湘陰夜 

滿目皆秋色,

滿江皆月明。

寂寥今夜望,

遷謫古人情。

秋水從西來,

茫然通洞庭。

靜夜息吟啸,

無使蛟龍驚。

Dịch nghĩa:

ĐÊM Ở TƯƠNG ÂM

Khắp chốn toàn là sắc thu. Khắp sông nơi nào cũng sáng trăng . Đêm nay vời trông khung cảnh hiu quạnh. Cạnh nhớ người xưa bị giáng chức đi đày. Nước thu từ phía tây đổ lại, Mênh mang thông với hồ Động Đình. Đêm yên tĩnh thôi đừng ngâm nga nữa, Chớ làm cho loài giao long kinh động.

             Vương Trọng dịch thơ:

Sắc thu ngời ánh mắt

Một dòng sông trăng đầy

Đêm nay nhìn cảnh vắng

Nhớ người xưa lưu đày.

Nước thu từ tây lại    

Vào Động Đình mênh mông

Đừng ngâm nga đêm vắng

Làm giật mình giao long.

Liên 1: Mãn mục giai thu sắc, Mãn giang giai nguyệt minh- Khắp chốn toàn là sắc thu. Khắp sông nơi nào cũng sáng trăng. Với hai câu đề lặp hai chữ mãn (đầy khắp) ở đầu câu, ta tưởng đâu tác giả đắm chìm trong cảm hứng về thiên nhiên tuyệt đẹp, khi cặp mắt ông tràn đầy sắc thu (mãn mục giai thu sắc), và cũng qua cặp mắt ấy, dòng sông thì tràn đầy ánh trăng thu được phản chiếu từ bầu trời đầy sắc thu (Mãn giang giai nguyệt minh). Nhưng, thực ra, cảnh vật đó càng khiến ông chợt lặng cả người, tê tái đến nôn nao tưởng nhớ đến số phận trớ trêu buồn thảm của Khuất Nguyên: Tịch liêu kim dạ vọng/Thiên trích cổ nhân tình-Đêm nay vời trông khung cảnh hiu quạnh, Chạnh nhớ người xưa bị giáng chức đi đày. Có cảm tưởng, khung cảnh thu càng trong, càng đẹp, hình bóng người xưa càng hiện về rõ nét, và Nguyễn Du càng cảm thấy cô độc khi in hằn tâm tưởng mình giữa không gian tràn trề trăng thu sáng ngời ngời, chúng chợt trở nên hiu quạnh (tịch liêu); cặp mắt ông đẫm lệ bởi “mãn trăng” và đồng thời có cảm giác thiếu vắng, trơ trọi đến vô cùng. Tâm trạng ấy dẫn đến liên 3: Thu thủy tòng tây lai / Mang nhiên thông Động Đình - Nước thu từ phía tây đổ lại, Mênh mang thông với hồ Động Đình. Trăng thu phản chiếu rờ rỡ trên sông kia chẳng qua chỉ là một mảnh của cả dòng nước thu đang cuồn cuộn đổ về, thông với hồ Động Đình bát ngát có liên quan tới nước Sở và Khuất Nguyên lúc cuối đời. Động Đình thuộc Hồ Nam, cũng nằm trong bản đồ nước Sở thời Chiến Quốc. Theo Thủ kính chú: “bốn con sông Tương, Tư, Nguyên, Lễ phía nam vào, sông Đại Giang từ phía bắc đi qua, hồ Động Đình tụ nước ở giữa gọi là Ngũ Chử… Nước hồ rộng tròn hơn 500 dặm, mặt trời mặt trăng giống như mọc lặn ở trong đó”(2). Còn theo Sơn hải kinh, núi Quân Sơn ở hồ Động Đình là nơi ở của hai người con gái vua Nghiêu, vua Thuấn…(3).

Trong Ly tao, Khuất Nguyên thường hay nhắc đến Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang, Chu Văn Vương… như những hình mẫu của người đứng đầu nhà nước mà ông mong vua Sở noi theo để hành đạo: Theo đạo chính nhằm đường ngay thẳng/ Nghiêu Thuấn xưa thiệt đấng minh quân (Ly tao). Trong khi u uất không than thở được với ai, ông đã mơ ước lên trời xuống biển để tìm được người hiểu mình. Ông từng trò chuyện trong tưởng tượng với vua Trùng Hoa (vua Thuấn), bày tỏ lý tưởng chính trị của mình, và điều đó chỉ có thể diễn ra ở vùng hồ Động Đình mang nhiều linh khí sông núi và truyền thuyết cổ xưa chứa đựng hoài bão cao cả của Khuất Nguyên...

Tới đây, Nguyễn Du như nghe thấy lời thơ tuyệt mệnh của Khuất Nguyên: Mênh mông Nguyên Tương/ Cuồn cuộn chừ sóng dồi/ Đường xa man mác/ Ngất tạnh chừ mù khơi (Hoài sa phú), và ông bất giác thốt lên: Tĩnh dạ tức ngâm khiếu/ Vô sử giao long kinh. Đêm yên tĩnh thôi đừng ngâm nga nữa, Chớ làm cho loài giao long kinh động (Liên 4). Ông muốn nhắn ai đó và với chính mình: trong khung cảnh tĩnh mịch bao phủ bởi linh khí đất trời và sự ngưỡng vọng Khuất Nguyên, đừng làm cho cá, rồng sợ hãi nhốn nháo, khiến oan hồn nước Sở nằm dưới đó không yên! Phải chăng, đó cũng là một lời an ủi đầy ý nghĩa đối với vong hồn đang vất vưởng, xót đau suốt bao thế kỷ, và đối với cả chính tác giả đương ngậm ngùi xót thương cho Khuất Nguyên? Toàn bài thơ là phương thức thi ca quen thuộc của văn chương phương Đông: “Dĩ vạn vật vi ngã” (lấy mọi vật để làm rõ mình) mà ở đây Nguyễn Du đã vận dụng nhuần nhị thông qua suy tưởng trĩu nặng của mình - Ánh trăng thu, dòng sông thu êm ả, nước thu cuồn cuộn đổ về, hồ Động Đình, đêm tĩnh mịch, giao long, và cái bóng của Nguyễn Du in trên dòng sông trăng thu đang vời nhìn về phía xa mù mịt… Rất có thể, chính trong cái tâm thế cảm xúc và suy tưởng đó mà Nguyễn Du viết Phản chiêu hồn.

4. Phản chiêu hồn

Hồn hề! Hồn hề! Hồ bất quy?

Đông tây nam bắc vô sở y.

Thướng thiên há địa giai bất khả,

Yên, Dĩnh thành trung lai hà vi?

Thành quách do thị, nhân dân phi,

Trần ai cổn cổn ô nhân y.

Xuất giả khu xa, nhập cứ toạ,

Toạ đàm lập nghị giai Cao, Quỳ.

Bất lộ trảo nha dữ giác độc,

Giảo tước nhân nhục cam như di!

Quân bất kiến Hồ Nam sổ bách châu,

Chỉ hữu sấu tích, vô sung phì.

Hồn hề! hồn hề! suất thử đạo

Tam Hoàng chi hậu phi kỳ thì.

Tảo liễm tinh thần phản thái cực,

Thận vật tái phản linh nhân xi,

Hậu thế nhân gian giai Thượng Quan

Đại địa xứ xứ giai Mịch La,

Ngư long bất thực, sài hổ thực,

Hồn hề! hồn hề! nại hồn hà?

反招魂 

魂兮魂兮胡不歸,

東西南北無所依。

上天下地皆不可,

鄢郢城中來何為。

城郭猶是人民非,

塵埃滾滾汙人衣。

出者驅車入踞坐,

坐談立議皆皋夔。

不露爪牙與角毒,

咬嚼人肉甘如飴。

君不見湖南數百州,

只有瘦瘠無充肥。

魂兮魂兮率此道,

三皇之後非其時。

早斂精神返太極,

慎勿再返令人嗤。

後世人人皆上官,

大地處處皆汨羅。

魚龍不食豺虎食,

魂兮魂兮奈魂何。

Dịch nghĩa

CHỐNG LẠI BÀI CHIÊU HỒN

Hồn ơi! hồn ơi! sao chẳng về? Đông tây nam bắc không chốn nương tựa. Lên trời xuống đất đều không được. Còn trở về thành Yên thành Sính làm gì? Thành quách còn đây, nhân dân đã khác, Bụi bặm mù bay làm dơ bẩn quần áo. Ra ngoài thì ruổi xe, vào nhà ngồi chễm chệ, Đứng ngồi bàn bạc như hai bậc hiền thần Cao, Quỳ, Không để lộ ra nanh vuốt nọc độc, Mà cắn xé thịt người ngọt xớt. Không thấy sao mấy trăm châu ở Hồ Nam, Chỉ có người gầy gò, không ai béo tốt. Hồn ơi! hồn ơi! nếu cứ noi theo lối đó, Thì sau Tam Hoàng không hợp thời nữa. Hãy sớm thu góp tinh thần trở lại Thái Cực. Đừng trở lại đây nữa để người ta mai mỉa. Đời sau đều là Thượng Quan, Khắp mặt đất đều là sông Mịch La, Cá rồng không ăn, sói hùm cũng nuốt. Hồn ơi! hồn ơi! hồn làm sao đây?

        Khương Hữu dụng và Xuân Diệu dịch thơ :

Hồn ơi! Hồn ơi, sao không về?

Đông tây nam bắc không nơi tựa

Lên trời xuống đất đều chẳng xong

Về thành Yên, Sính làm chi nữa ?

Thành quách y nguyên, dân sự khác

Cát bụi nhớp cả quần áo người

Đi ra xe ngựa về vênh váo

Lên mặt Quì, Cao tán chuyện đời

Không lộ vuốt nanh cùng nọc độc

Mà xé thịt người nhai ngọt xớt !

Kìa hồn chẳng thấy: mấy trăm châu ở Hồ Nam

Chỉ có gầy nhom, không béo tốt !

Hồn ơi, vì cứ theo đường ấy

Sau Tam Hoàng thôi chẳng hợp thời !

Đành sớm thu hồn về thái cực

Chớ về đây nữa, người mỉa mai

Hậu thế đều là họ Thượng quan

Mặt đất đâu cũng sông Mịch La

Cá rồng không nuốt, hùm beo nuốt

Hồn ơi! Hồn ơi! biết sao mà ?

              Vương Trọng dịch thơ:

Sao không về, hỡi hồn ơi?

Đông tây nam bắc không nơi nương vì

Về thành Yên Dĩnh làm gì

Lên trời, xuống đất chẳng đi được nào

Thành quách cũ, người khác sao

Bụi bay mù mịt bẩn bao áo quần

Họ đi xe ngựa rầm rầm

Đứng, ngồi đàm đạo ngang tầm Quỳ, Cao!

Vuốt, nanh, nọc độc giấu vào

Thịt người chén ngọt khác nào đường, cam

Kìa hồn, nhìn xuống Hồ Nam :

Không ai béo tốt, gầy tàn trăm châu

Từ Tam Hoàng trở về sau

Hồn theo đường ấy còn đâu hợp thời?

Sớm tìm Thái cực đi thôi

Đừng về, mai mỉa miệng người thế gian

Đời sau, ai cũng Thượng Quan

Nơi nơi, chốn chốn sông toàn Mịch La

Rồng không nuốt, hổ cũng tha

Hồn ơi, hồn hỡi biết là làm sao?

Theo ông Phạm Trọng Chánh, bài thơ này Nguyễn Du làm lúc đi giang hồ năm 22 tuổi. Lúc đó nhà thơ mang tâm sự của người không nơi nương tựa, chưa muốn về chốn cũ, vì chưa biết tin anh Nguyễn Nễ. Thời thế đổi khác nhiều từ sau khi nhà Lê- Trịnh sụp đổ vào năm 1786. Hai anh Nguyễn Khản, Nguyễn Điều mất. Nguyễn Du sau khởi nghĩa cùng Nguyễn Đăng Tiến tại Thái Nguyên thất bại, được tướng Tây Sơn Vũ Văn Nhậm tha chết, sang Vân Nam rồi đi giang hồ khắp Trung Quốc… Tình hình Trung Quốc cũng chẳng yên. Do cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam mà Càn Long phát động, người dân Trung Quốc phải đóng góp vật lực nuôi lính viễn chinh, nên đời sống cơ cực, nghèo đói, không ai béo tốt. Thời thế trong giai đoạn này, từ Việt Nam sang đến Trung Quốc, Nguyễn Du thấy đâu đâu cũng là sông Mịch La, ai ai cũng là Thượng Quan; còn dưới triều Gia Long, thời thế đã ổn định, Nguyễn Du ra làm quan được trọng dụng, được thăng tiến nhanh chóng, hẳn sẽ không viết như thế.(4)

Chúng tôi chỉ đồng tình với ý kiến trên ở vế thứ nhất: Nguyễn Du làm bài thơ này lúc đi giang hồ năm 22 tuổi.

Nguyễn Du như tranh luận trực tiếp với người trên hai ngàn năm trước, tác giả của Chiêu hồn: Tống Ngọc - thuộc hàng học trò của Khuất Nguyên, người nước Sở, lãng mạn và đa tình, tác giả của nhiều bài từ, phú. (Trong Truyện Kiều có câu: Sớm đưa Tống Ngọc, tối tìm Tràng Khanh. Tống Ngọc là con người này, còn Tràng Khanh là Tư Mã Tương Như - cũng là một nhà từ phú nổi tiếng, được Tư Mã Thiên dành cả một thiên trong Sử ký. Sớm tối Kiều phải tiếp khách ở lầu xanh Tú Bà, nhưng toàn là khách phong lưu tài tử cỡ Tống Ngọc, Trường Khanh, không phải là loại khách tầm thường). Các nhà nghiên cứu văn học Trung Quốc cho biết: tác phẩm của Tống Ngọc gồm 16 thiên, trong đó có Cửu biện, Chiêu hồn. Từ thể tao do Khuất Nguyên sáng tạo ra, Tống Ngọc đã biến hóa để tạo ra thể phú. Ông cũng là người yêu chính nghĩa, ghét kẻ xu nịnh hãm hại người hiền, và Cửu biện của ông là tác phẩm ưu tú nhất trong các tác phẩm mô phỏng thơ ca Khuất Nguyên cho tới thời Hán cả về nội dung lẫn nghệ thuật, thể hiện tình cảm thương tiếc Khuất Nguyên một cách sâu sắc và tinh tế. Chiêu hồn đã phát huy, mở rộng nội dung và bút pháp của Cửu biện.(5)  

Tống Ngọc lập đàn giải oan cho Khuất Nguyên, đọc bài Chiêu hồn cầu cho hồn được siêu thoát. Nhưng Chiêu hồn đã nói những gì để Nguyễn Du phản bác lại quyết liệt đến thế, để rồi ông khuyên hồn Khuất Nguyên không nên trở về cõi trần đầy kẻ thâm hiểm gian ác?(6) Thực ra, bài Chiêu hồn giống như niệm chú của thầy phù thủy. (Một số nhà nghiên cứu Trung Quốc còn cho rằng: trong tác phẩm này, hồn được gọi về chính là hồn của một Sở vương nào đó). Điều khiến Nguyễn Du phản bác không phải là cái nội dung trong bài từ của Tống Ngọc, mà là bản thân việc gọi hồn về trong bối cảnh nước Sở bại vong, sau khi những hiền tài trung lương bị đày đọa, hãm hại… Tống Ngọc kêu gọi hồn Khuất Nguyên hãy trở về nước Sở; còn những nơi Tống Ngọc khuyên hồn Khuất Nguyên đừng về được miêu tả thật rùng rợn. Lúc sinh thời, Khuất Nguyên đã để tâm hồn mình bay bổng tới để thoát ly cảnh sống ngột ngạt, tối tăm, nguy hiểm của triều đình hủ bại, ông tìm thấy không phải hàng chục mặt trời làm chảy đá ở biển Đông, hay băng tuyết phủ dầy phương bắc hoặc sa mạc cỏ cây không mọc được phía tây, cũng như lũ mãng xà vương, bọn xăm trán, bọn răng đen muốn ăn thịt hồn phương nam như Chiêu hồn dọa dẫm, mà là những hình ảnh chói lọi, huy hoàng như cảnh thần tiên mà Ly tao đã miêu tả.

Phản chiêu hồn được viết theo thể cổ phong, thất ngôn trường thiên, gồm có 20 câu.

Đầu tiên,Tống Ngọc gợi ý hồn nên về nước Sở, thì Khuất Nguyên phản bác lại ngay bằng bốn câu:

Hồn hề! Hồn hề! Hồ bất quy? Đông tây nam bắc vô sở y. Thướng thiên há địa giai bất khả, Yên, Dĩnh thành trung lai hà vi? Hồn ơi! Hồn ơi! sao không về? Đông tây nam bắc không có nơi nào nương tựa. Lên trời xuống đất đều không được, Còn trở về thành Yên, thành Dĩnh làm gì?

Câu đầu tiên, Nguyễn Du như hiểu nỗi niềm bối rối của hồn trước những lời kêu gọi tử tế, chân thành, là hồn hãy trở về nước Sở; nhưng, sau hai câu cảm thán như một tiếng khóc, Nguyễn Du đưa ra câu hỏi tu từ, diễn tả sự chần chừ của hồn và sự thắc mắc của tác giả lẫn người đọc: hồn sao không về?

Tiếp liền, ba câu sau là sự khẳng định một sự thật đau lòng, nhằm lý giải ngay lập tức cái mắc mớ vừa nói trên: Đông tây nam bắc không có nơi nào nương tựa, Lên trời xuống đất đều không được, Còn trở về thành Yên, thành Dĩnh làm gì? Như vậy có khác gì nói thẳng với hồn: hồn đừng về trần gian nữa, vì còn chỗ nào mà về, cả Đông Tây Nam Bắc, dưới đất trên trời. Còn thành Yên, thành Dĩnh (Sính)  - hai thành thuộc nước Sở, sao lại không thể về? Về làm gì nữa, khi đó là địa ngục với hồn lúc còn trên dương thế! Khẩu khí luận chiến gay gắt với Chiêu hồn ngay từ khởi đầu. Nguyễn Du như ngầm bảo Tống Ngọc: gọi hồn Khuất Nguyên về làm gì nữa bởi bốn phương tám hướng đất trời không còn nơi nào cho hồn “nương tựa” cả. Hai chữ “hồn hề!” điệp lại như tiếng kêu xót thương não nùng: Hồn hề! Hồn hề! Hồ bất quy? Kinh đô nước Sở, và cả tổ quốc của Khuất Nguyên chẳng còn tồn tại nữa để cho hồn dung thân! Hồn đã tuyệt lộ ! Hơn ai hết, Khuất Nguyên đau đớn khi phải rời xa thành Sính, và lẽ ra, ông phải là người thiết tha mong được trở lại cố đô. Bài thơ dài Ai Sính của ông như một tiếng khóc đau đớn ngày ông buồn thương cho kinh đô của nước Sở là đất Sính bị Tần vây hãm, Sở Hoài Vương chịu nhục tại nước Tần: …Qua Hạ Thủ sang tây trông lại/ Cửa thành rồng nhìn mãi thấy đâu!/ Thở dài ngắm dãy cây cao/ Rưng rưng nước mắt tuôn trào như sương(7)

Phần thứ hai, tám câu tiếp theo, nhà thơ nói với hồn về một thế giới đau thương: Nhân dân lầm than, cái ác ngự trị, cùng những nguyên cớ gây ra nỗi bi thảm đang diễn ra trên nước Sở thời ấy.

Thành quách do thị, nhân dân phi, thành quách vẫn còn đấy, nhưng nhân dân đã khác, người không phải như xưa nữa đâu! Như xưa, Nguyễn Du muốn nói tới thời Khuất Nguyên sống. Đó là thời cái kỳ: Trần ai cổn cổn ô nhân y. Bụi bặm cuồn cuộn mù bay làm dơ bẩn quần áo. Trần ai (bụi)- hình ảnh tượng trưng cho một thời loạn lạc, nhân dân lầm than, đau khổ, mà bụi bặm đó chính là cái không gian ngầu đục, nhơ bẩn do lũ người “căn tính sói” đã tạo ra.

Xuất giả khu xa, nhập cứ tọa, hàm ý mỉa mai sâu cay: Ra ngoài thì ruổi xe, ngựa xe tiền hô hậu ủng, vào nhà ngồi chễm chệ, ngồi lỳ trên ghế quyền lực đã chiếm được bằng mọi thủ đoạn. Bọn nịnh thần được đặc tả bằng những nét rất điển hình của kẻ cơ hội, kiêu ngạo, sống xa hoa: “ngựa ngựa xe xe”, “vênh vênh váo váo”, và tọa đàm lập nghị giai Cao, Quì. Đứng ngồi bàn bạc như hai bậc hiền thần Cao, Quỳ, mở miệng ra nói toàn điều nhân đức như ông Cao ông Quỳ thời Nghiêu - Thuấn huyền sử, vốn là người thương dân thương nước thực sự. So sánh như thế, Nguyễn Du đã vạch trần bản chất tàn ác, tham lam nhưng đạo đức giả của bọn quan lại, quý tộc nước Sở khi đó đã trở thành kẻ thù không đội trời chung của nhân dân. Chúng ta liên tưởng tới văn hào Lỗ Tấn thời hiện đại trong Nhật ký người điên từng kể: giở lịch sử ra tra cứu, “trang nào cũng có mấy chữ Nhân Nghĩa Đạo đức viết lung tung tí mẹt” nhưng đọc kỹ tới khuya mới thấy từ đầu chí cuối ở giữa các hàng ba chữ : “Ăn thịt người”; và nhà văn khái quát: “Bây giờ mới biết mình đã sống bao nhiêu năm ở một nơi mà người ta ăn thịt lẫn nhau từ bốn nghìn năm nay!”(8)

Từ câu 5 đến câu 8, Nguyễn Du đã cố ghìm sự phẫn nộ trong sự mỉa mai thực sâu cay.

Nhưng rồi Nguyễn Du đã không kìm được sự phẫn nộ nữa, ông cất lời lên án nghiêm khắc như của một quan tòa, vạch ra bản chất lang sói của bọn cầm quyền sống phè phỡn trên mồ hôi nước mắt dân lành, hèn hạ luồn cúi cầu thân với giặc để cầu vinh, chúng đẩy cả một đất nước vào thảm cảnh điêu linh, nhân dân bị áp bức, bóc lột tận xương tuỷ: Bất lộ trảo nha dữ giác độc, Giảo tước nhân nhục cam như di! Quân bất kiến Hồ Nam sổ bách châu, Chỉ hữu sấu tích, vô sung phì. Không để lộ ra nanh vuốt nọc độc, Mà cắn xé thịt người ngọt xớt như đường. Không thấy sao mấy trăm châu ở Hồ Nam, Chỉ có người gầy gò, không ai béo tốt ! Nguyễn Du đã vẽ lên sống động một loại người-thú có “vuốt nanh, sừng và nọc độc” nhưng lại gian ngoan xảo quyệt, không để lộ thủ đoạn và hành động man rợ: cắn xé thịt người ngọt xớt như đường!

Hồn hề! hồn hề! suất thử đạo,Tam Hoàng chi hậu phi kỳ thì.Tảo liễm tinh thần phản thái cực,Thận vật tái phản linh nhân xi, Hậu thế nhân gian giai Thượng Quan, Đại địa xứ xứ giai Mịch La, Ngư long bất thực, sài hổ thực, Hồn hề! hồn hề! nại hồn hà? Hồn ơi! hồn ơi! nếu cứ noi theo lối đó, Thì sau Tam Hoàng không hợp thời nữa. Hãy sớm thu góp tinh thần trở lại Thái Cực, Đừng trở lại đây nữa để người ta mai mỉa. Đời sau đều là Thượng Quan, Khắp mặt đất đều là sông Mịch La. Cá rồng không ăn, sói hùm cũng nuốt. Hồn ơi! hồn ơi! hồn làm sao đây?

Tám câu cuối khuyên hồn phải sớm liệu về trời, nếu trở về nước Sở lần nữa vẫn không thoát khỏi cái chết thảm khốc. Ngư Long - cá, rồng, sài hổ - hùm, sói, những hình ảnh tượng trưng cho cái ác, mọi thế lực thù địch với lòng nhân hậu, sự tử tế.

Sau sự phẫn nộ, giọng thơ đi vào chiều sâu tâm tình, khuyên nhủ. Nguyễn Du dẫn sử sách: Sau thời Tam Hoàng (Phục Hy, Thần Nông, Hoàng Đế, ba vị vua cổ nhất của Trung Quốc) - xã hội lí tưởng, tốt đẹp ấy đâu còn, nếu hồn cứ khăng khăng trở về là “không còn hợp thời nữa” tất sẽ bị người “mỉa mai” chê cười và xa lánh. Nguyễn Du khuyên hồn trở về với Thái cực - thuở ban đầu của trời đất, thời hoang sơ, khi con người còn chưa biết đâm chém hãm hại lẫn nhau bởi quyền lợi ích kỷ. Nhưng bảo Hồn đừng về đây nữa, để người ta khỏi mai mỉa chỉ là một cách nói giảm khinh, bởi điều đáng sợ nhất đối với Hồn chính là sự thật này: Đời sau đều là Thượng Quan, Khắp mặt đất đều là sông Mịch La. Cá rồng không ăn, sói hùm cũng nuốt. Thượng quan Ngân Thượng là quan địa phu nước Sở đã dâng đất cho Tần, xúi vua xa lánh ruồng rẫy Khuất nguyên, rồi cùng đồng bọn thao túng vua Sở làm khổ dân để vinh thân phì gia. Nguyễn Du muốn nói với Hồn: người đời nay và hậu thế trên đất Sở đều cùng một duộc với bọn Thượng Quan Ngân Thượng đó! Mịch La là nơi hợp lưu của hai sông là Mịch và La, nơi Khuất nguyên trầm mình, trong lời gọi Hồn, lại trở thành một địa danh khủng khiếp tượng trưng cho chốn địa ngục của những người trung nghĩa, mà thế gian này khi còn loại người như Thượng Quan thì mọi nơi chốn đều trở thành Mịch La! Đâu chỉ có bọn nịnh thần Thượng Quan thời ấy, mà khắp mọi nơi trên thế gian này đã/ đang đầy rẫy cái ác và cạm bẫy giết người. (Trong bài Tháng năm xem đua thuyền, Nguyễn Du cũng nói với Hồn Khuất Nguyên: Trong khói sóng mênh mông, lòng ta luống những đau thương và oán giận. Hàng năm chiêng trống chỉ  để vui chơi, nô đùa. Hồn có về thì cũng không có nơi chốn để nương tựa. Rắn rồng quỉ quái ở khắp nhân gian). Trong sự phẫn uất tột độ, Nguyễn Du vẫn đủ sự tỉnh táo để khái quát về nhân tình thế thái - không chỉ về nước Sở thời Chiến quốc mà về cả xã hội đương thời, ở nước ông và đất nước Trung Hoa ông đang trải nghiệm bằng vốn văn hóa lịch sử và bằng thực tế “sở kiến”, những điều trông thấy mà đau đớn lòng! Bọn vua chúa suy đồi, bọn gian thần và nhân dân nước Sở được Nguyễn Du đặt trong thế đối lập tương phản gay gắt, để nói lớn với Hồn như một tiếng thét đau đớn: Hồn ơi, hồn không còn chỗ nương tựa nào nữa đâu! Hồn vốn thanh cao, trong sạch, làm sao có thể về nước Sở để sống cùng bọn ác thú ăn thịt người ấy được! Đó chính là nguyên cớ thực sự và sâu xa chống lại việc chiêu hồn, chống lại bài Chiêu hồn.

Câu kết: Hồn hề! Hồn hề! nại hồn hà? Hồn ơi! Hồn ơi! Hồn biết làm thế nào, một câu hỏi thấm đầy nước mắt, gần như lặp lại câu đầu: Hồn hề! Hồn hề! Hồ bất quy? Hồn ơi! Hồn ơi! Sao không về? góp phần diễn tả tâm trạng quẩn quanh, bối rối, lo nghĩ, khó xử của Hồn, bởi Hồn vốn là người trung hậu, giàu tình yêu thương, dễ tin người, vì thế mà bao lần bị kẻ tiểu nhân cho sa bẫy, và cho đến chết vẫn ôm mối cô trung đáng thương. Trước khi Nguyễn Du “Bắc hành”, có nhiều bài thơ, câu thơ trong Thanh hiên thi tậpNam trung tạp ngâm cũng mang không khí bi thương và tâm trạng phẫn uất không kém Phản chiêu hồn, như Bát muộn (Xua nỗi buồn): Cát bụi che mờ thềm ngọc mười năm nay. Thành phủ xây dựng trăm năm trước, một nửa thành gò hoang, Các loài chim nhỏ bé đều bay lên cao hết. Sau các cuộc huyết chiến, cõi càn khôn trở nên nhơ nhớp. Quê nhà trong cơn binh lửa hẳn đã tiêu điều, Ở xa muôn dặm nghĩ đến mà rơi nước mắt. Bạn bè, bà con chỉ còn lại mấy hàng thư dưới đèn. Đêm thu vắng, cá rồng lặng lẽ, trăm mối u hoài chưa dẹp được chút nào! (Thập tải trần ai ám ngọc trừ, Bách niên thành phủ bán hoang khư.Yêu ma trùng điểu cao phi tận,Trĩ uế càn khôn huyết chiến dư.Tang tử binh tiền thiên lý lệ,Thân bằng đăng hạ sổ hàng thư. Ngư long lãnh lạc nhàn thu dạ, Bách chủng u hoài vị nhất sư).

Nhà nghiên cứu Trương Chính băn khoăn: “Lời thơ trong bài Phản chiêu hồn, sôi nổi mà đầy oán hận, không ra vịnh sử hoài cổ. Vì nếu thế thì giọng phải điềm tĩnh hơn, buồn man mác hơn, chứ đâu có cái ảo não thắt ruột, thắt gan đến thế.”(9) Nhà nghiên cứu Mai Quốc Liên nhận định: “Đại địa xứ xứ giai Mịch La! Bi phẫn biết chừng nào! Sao Nguyễn Du, con người hay sầu mộng và đa cảm nữa, lại có thể bất ngờ vút lên một câu thơ khái quát vĩ đại đến thế?... Phản chiêu hồn cũng như Hamlet là sự khẳng định chủ nghĩa nhân văn bằng cái nhìn phủ định.”(10) Còn nhà thơ Xuân Diệu thì có cảm xúc đặc biệt: “nhìn chung thơ trong Bắc hành tạp lục, đa phần để lại cảm giác chung của một buổi chiều thu tê tái. Buổi chiều đó là xã hội phong kiến ở Việt Nam, ở Trung Quốc, phản ảnh trong tâm hồn Nguyễn Du. Trên con đường đi sứ, nhà thơ được thấy nhiều cảnh xưa nổi danh và đây là những dịp tức cảnh, đề vịnh, cảm hoài… Nhưng Nguyễn Du là một tâm hồn nghệ sĩ lớn, nên có những cái vượt bậc đột ngột, có những cái lượng biến thành chất kỳ diệu, nghĩa là trong cái buổi chiều thu tê tái trên bỗng nhiên có sấm chớp mưa gió bão bùng, có bài Phản Chiêu hồn, căm giận trên đầu tóc dựng...”(11)

Nhiều bài viết đã nêu ra: giá trị tố cáo hiện thực gắn liền với tinh thần nhân đạo bao la là cốt cách, là vẻ đẹp của bài thơ Phản chiêu hồn. Điều đó là chính xác, song chưa đủ. Chúng tôi nghĩ, gần đây, có một số nhà nghiên cứu đã đi sâu vào tập Bắc hành tạp lục dưới khía cạnh tìm hiểu tư tưởng “giải ảo, giải thiêng” Trung Hoa cũng như chế độ phong kiến mạt kỳ, con đường này có thể giúp chúng ta giải mã được rất nhiều giá trị còn ẩn sâu trong thơ chữ Hán Nguyễn Du nói chung, bài Phản chiêu hồn nói riêng. Bài viết Nguyễn Du, từ giải ảo Trung Hoa đến giải thiêng chế độ phong kiến của nhà nghiên cứu Nguyễn Phạm Hùng là khá tiêu biểu, có đoạn: “Dường như, bằng nghệ thuật, Nguyễn Du muốn nói rằng, Trung Hoa không phải là mảnh đất “thiên đường” như nhiều người ảo tưởng, mà chỉ là một “mảnh đất lắm người nhiều ma”, cũng đầy đau khổ và bất trắc.”(12)

Trong Phản chiêu hồn, chúng ta nhận ra: Nguyễn Du như mang trong lòng nỗi “ly ưu”, uất hận nóng bỏng của chính Khuất Nguyên, với tư cách là một “đồng tâm nhân”, ông thay mặt Khuất Nguyên ném ra lời lên án, phán xét hùng hồn, nghiêm khắc của một sử gia, và với sức mạnh của sự “phân tích tâm lý tàn nhẫn” (Phan Ngọc) của một nhà văn lớn.


MAI AN NGUYỄN ANH TUẤN

_________________

1, 2, 3. Lịch Đạo Nguyên chú, Dương Thủ Kính, Hùng Hội Trinh sớ. Thủy kinh chú sớ. Nguyễn Bá Mão dịch, Nxb Thuận Hóa & TT Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, 2005 tr. 568

4. Nguyễn Du trên quê hương Khuất Nguyên. Vanhoanghean

5. Sở nghiên cứu văn học, Viện KHXH Trung Quốc. Lịch sử văn học Trung Quốc. Tập I. Nhiều người dịch. Nxb Giáo dục 1997, tr.121-125

6. Bài Chiêu hồn: Hồn hỡi hồn về đây đừng ra bể Đông/ Ở đó hàng chục mặt trời làm chảy đá, chảy kim loại/ Hồn sẽ tiêu tan thành nước, đừng tin cậy vùng đó./ Hồn hỡi hồn về đây, đừng đi về hướng Tây/cát mềm ngàn dặm sa mạc mênh mông/ Ngũ cốc không mọc, sông hồ cạn queo/ Hồn sẽ bị đốt chóng khô, nên tránh hướng đó./ Hồn hỡi hồn về đây đừng lên miền Bắc,/ Băng giá như núi, tuyết phủ ngàn dậm,/  Hồn hỡi hồn về đây đừng xuống phương Nam,/ Đó là xứ rắn mãng xà vương khổng lồ,/ Bọn xăm trán, bọn răng đen sẽ ăn thịt,/ Hồn để cúng tế, nấu xương hồn làm canh... (Bình Nguyên Lộc. Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam, Sài Gòn, 1971, tr. 808-809). Theo Bình Nguyên Lộc, đất phương nam tả trong bài thơ Chiêu hồn không phải là nước Văn Lang hay Âu Lạc, mà đại khái là vùng Lĩnh Nam. Người Việt tộc ở Lĩnh Nam xăm trán, nhuộm răng đen. Người Lạc Việt tổ tiên ta cũng xăm trán, nhuộm răng đen. Tức cái tục xăm da, nhuộm răng là tục chung của nhiều nhóm Bách Việt.

7. Theo: Văn học Trung Quốc- Tài liệu tham khảo, tập 1. NXB Giáo dục, 1963.

8.  Lỗ Tấn. Tuyển tập truyện ngắn, Nxb Văn học 2004, Trương Chính dịch, tr. 20, 31

9. Trương Chính. Thơ chữ Hán Nguyễn Du. Nhà xuất bản Văn học. 1978.

10. Trung tâm nghiên cứu Quốc học. Nguyễn Du toàn tập, TII. Mai Quốc Liên-Vũ Tuân Sán dịch nghĩa, chú thích. Nxb Văn học 2015. tr.11.

11. Xuân Diệu. Các nhà thơ cổ điển Việt Nam, Tập I. Nxb Văn học1981.

12. Viện hàn lâm KHXHVN &Viện văn học. Di sản văn chương đại thi hào Nguyễn Du: 250 năm nhìn lại. Nxb KHXH, HN 2015. Tr. 276. Xin tham khảo thêm bài: Bắc hành tạp lục- sự thức ngộ của Nguyễn Du về Trung Hoa của Trần Thị Băng Thanh, cũng trong sách này.

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
13 Tháng Hai 20262:55 CH(Xem: 227)
Tháng Hai / ru nhẹ tình thơ / khẽ nâng vạt tóc / ngủ nhờ trên vai / Tóc thơm một đóa / trăng cài / Đêm quỳnh / thoảng mộng mơ hoài trong ta
13 Tháng Hai 20262:13 CH(Xem: 220)
Inoue Seigetsu (1822−1887) là người có học thức cao và là chuyên gia về thư pháp. Vì vậy, ông được các nhà bảo trợ nghệ thuật giàu có chào đón và thường đến thăm các nhà thơ và học giả, dạy kèm các nhóm thơ haiku và giảng dạy Nho giáo. Seigetsu đã viết khoảng 1.700 bài thơ haiku. Ông ngưỡng mộ Basho nhưng vẫn có phong cách riêng.
13 Tháng Hai 202611:18 SA(Xem: 256)
Tháng chạp ấm áp ngọn đèn / Cơn mưa tha hương lao xao song cửa / Như có tiếng vó ngựa hồng tan vỡ / Bóng mẹ ngồi thao thức cánh nhân duyên
10 Tháng Hai 20263:12 SA(Xem: 288)
Bài viết này đặt ra một nghịch lý của Việt Nam đương đại: khi lý tưởng cộng sản vẫn được nhắc tới như nền tảng chính danh, nhưng vai trò thực tế của nó trong đời sống xã hội đã thay đổi sâu sắc. Thay vì tranh luận đúng–sai hay kết tội, tác giả chọn cách phân tích sự dịch chuyển của lý tưởng từ mục tiêu giải phóng sang ngôn ngữ quyền lực. Cách tiếp cận này giúp nhìn lại mối quan hệ giữa ổn định, phát triển và bất bình đẳng dưới một góc nhìn tỉnh táo hơn. Tòa soạn giới thiệu bài viết như một đóng góp cho đối thoại xã hội, với tinh thần viết để hiểu và cùng suy ngẫm
08 Tháng Hai 202610:45 CH(Xem: 472)
Xuân đến rồi sao chẳng thắm hoa / Đây đổ quyên / Đây rừng Bà Nà / Xuân chưa thắm nhưng lòng đã thắm / Bốn mùa mưa nắng bốn mùa hoa
08 Tháng Hai 20268:09 CH(Xem: 477)
LTS: Lần đầu cộng tác cùng Tạp Chí Hợp Lưu. Việt Nguyên là bút danh của Bùi Văn Long, quê ở Long Xuyên, An Giang. Thơ Việt Nguyên viết về những góc đời rất nhỏ — một góc phố đêm, bữa cơm một người, một cử chỉ tử tế thoáng qua. Thơ lặng, buồn vừa đủ, không than thở, chỉ nhắc ta rằng giữa đời sống mỏi mệt này, nhân gian vẫn còn ấm. Chúng tôi hân hạnh gởi đến quí độc giả và văn thi hữu những bài thơ của Việt Nguyên sau đây. (Tạp Chí Hợp Lưu)
08 Tháng Hai 20267:36 CH(Xem: 256)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
08 Tháng Hai 202612:04 SA(Xem: 494)
*** Đài Phát Thanh của Thi Sĩ - RADIO del POETA 01/02/2026 MUSICA y POESIA del MUNDO - Âm nhạc và Thi Ca Thế Giới *** Trong chương trình Âm nhạc và Thi Ca Thế Giới ngày thứ bảy tuần 31/01/2026 Đài Phát Thanh của Thi Sĩ CALIDOSCOPIO, phát sóng từ Mexico và Argentina cho khắp Châu Mỹ La tinh và TBN cũng như Ý, lại tiếp tục trình bày Thơ NCT.
07 Tháng Hai 202610:48 CH(Xem: 553)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
07 Tháng Hai 202610:40 CH(Xem: 384)
Sắp đến Tết truyền thống, như một “tập quán” bất đắc dĩ mới, nhiều người đang lo lắng chuẩn bị đón đợi nhằm chống đỡ các chiêu trò hài nhạt chọc cười nhảm trên các phương tiện truyền thông, thì đã bị đầu độc đến nôn mửa bởi hàng loạt thứ văn hóa rác được gọi là “Thơ Văn”, mà lại là “Thơ Văn” đoạt các giải cao ngất ngưởng, được ngợi ca ngút trời theo kiểu “quá lời nguyện hết thành hoàng thổ công”…
16 Tháng Tám 2025(Xem: 6972)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 13924)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 12794)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 13336)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
13 Tháng Hai 20262:55 CH(Xem: 227)
Tháng Hai / ru nhẹ tình thơ / khẽ nâng vạt tóc / ngủ nhờ trên vai / Tóc thơm một đóa / trăng cài / Đêm quỳnh / thoảng mộng mơ hoài trong ta
13 Tháng Hai 20262:13 CH(Xem: 220)
Inoue Seigetsu (1822−1887) là người có học thức cao và là chuyên gia về thư pháp. Vì vậy, ông được các nhà bảo trợ nghệ thuật giàu có chào đón và thường đến thăm các nhà thơ và học giả, dạy kèm các nhóm thơ haiku và giảng dạy Nho giáo. Seigetsu đã viết khoảng 1.700 bài thơ haiku. Ông ngưỡng mộ Basho nhưng vẫn có phong cách riêng.
13 Tháng Hai 202611:18 SA(Xem: 256)
Tháng chạp ấm áp ngọn đèn / Cơn mưa tha hương lao xao song cửa / Như có tiếng vó ngựa hồng tan vỡ / Bóng mẹ ngồi thao thức cánh nhân duyên
08 Tháng Hai 202610:45 CH(Xem: 472)
Xuân đến rồi sao chẳng thắm hoa / Đây đổ quyên / Đây rừng Bà Nà / Xuân chưa thắm nhưng lòng đã thắm / Bốn mùa mưa nắng bốn mùa hoa
(Xem: 256)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
(Xem: 553)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
(Xem: 2619)
Nhờ có Facebook mình và Miên đã gặp lại nhau. Cô bạn thuở xưa của tuổi học trò đầy mơ và mộng. Bây giờ mỗi đứa một mảnh đời riêng, Miên sung sướng bình yên và hạnh phúc bên chồng. Mình gãy cánh uyên ương từ khi còn rất trẻ nhưng cuối cùng mình cũng có được chút hạnh phúc bình yên bên con và cháu của mình. Hai đứa gặp nhau mình tíu tít kể chuyện vui buồn nhắc chuyện ngày xưa.
(Xem: 2765)
Tôi là người vượt biển. Một người tỵ nạn của những năm đầu thập niên 80. Đặt chân lên đất Mỹ với hai bàn tay trắng và vài bộ quần áo cũ — cùng một niềm tin mỏng manh rằng, ở đâu đó phía trước, đời mình rồi cũng sẽ có mùa đông bớt lạnh. Đêm Giáng Sinh vừa qua, trong căn nhà yên ắng, con gái tôi kể lại một câu chuyện cũ. Một mùa Giáng Sinh của nhiều năm về trước, khi anh em nó còn đang đi học, khi BA tôi — ông nội của tụi nhỏ — vẫn còn ngồi đó, chậm rãi nhìn quanh căn phòng. Hôm ấy, gần đến lễ Noel, ông nội bỗng chép miệng, giọng buồn buồn: “Nô-en năm nay sẽ vui biết mấy nếu nhà mình có cây thông để đón lễ Chúa Giáng Sinh…” Nói xong, ông im lặng. Khuôn mặt già nua thoáng một nỗi buồn không giấu được.
07 Tháng Hai 202610:25 CH(Xem: 480)
Trường tiểu học Sunshine Elementary. Một buổi sáng như bao buổi sáng khác, cô giáo Lopez viết lên bảng đề luận: “Viết Về Nước Mỹ.” Lớp học lập tức xôn xao bàn tán. Có đứa quay qua hỏi bạn, có đứa chống cằm nhìn ra cửa sổ như tìm kiếm điều gì . Riêng Khang chỉ nhìn hàng chữ trắng trên nền bảng xanh . Em không hỏi, cũng không biết mình sẽ viết gì. Nhưng khoảnh khắc rất đỗi bình thường ấy lại in sâu vào trí nhớ em.
07 Tháng Hai 20269:31 CH(Xem: 545)
Chiếc xe đò nhỏ lừ đừ chạy vào bến vắng đang thiu thiu ngủ dưới ánh nắng đã lợt màu của chiều ba mươi Tết. Đây là chuyến xe cuối cùng trong ngày, trong tháng, trong năm cũ. Bến xe vắng hoe. Giờ này còn ai ra đây làm gì nữa. Tiếng xe thắng mạnh trước khi ngừng hẳn lại khiến một vài hành khách đang ngủ vật vờ giật mình choàng tỉnh dậy. Ai nấy đều đứng cả lên, quơ tay lấy hành lý và lục tục ra khỏi xe.
26 Tháng Mười Một 202511:06 CH(Xem: 3434)
Cô bé Lò Thị Chang đã sống ở chỗ cao nhất trên mái nhà sàn của một gia đình Thái đen gồm 5 người suốt ba ngày đêm. Nước lũ ngập vào bản em từ hôm ấy đến tối nay chỉ rút được chút ít, rồi như trêu ngươi, làm lộ rõ hơn các mái nhà sàn và các ngọn cây cao đang chơi vơi tô điểm cho những xác trâu bò, gà lợn nổi lềnh phềnh - tựa cuộc “trình diễn” chưa bao giờ có của bản em giữa đất trời xám xịt…
18 Tháng Mười Một 20257:07 CH(Xem: 3845)
“Trên từng cây số” là tên một bộ phim truyền hình nhiều tập của Bun-ga-ri vốn quen thuộc với khán giả Việt Nam đầu những năm 80 của thế kỷ trước. Nhưng chưa tới thập niên sau, “Trên từng cây số” của màn ảnh xứ hoa hồng đã biến thành nỗi ám ảnh đậm nước mắt, và cả máu nữa của nhiều người Việt đi xuất khẩu lao động tại các nước Đông Âu. Đây chỉ là vài mẩu chuyện do em trai tôi – một họa sĩ kể lại sau khi đã trải nghiệm trên từng cây số cuối cùng của con đường khổ ải này…
10 Tháng Hai 2026(Xem: 288)
Bài viết này đặt ra một nghịch lý của Việt Nam đương đại: khi lý tưởng cộng sản vẫn được nhắc tới như nền tảng chính danh, nhưng vai trò thực tế của nó trong đời sống xã hội đã thay đổi sâu sắc. Thay vì tranh luận đúng–sai hay kết tội, tác giả chọn cách phân tích sự dịch chuyển của lý tưởng từ mục tiêu giải phóng sang ngôn ngữ quyền lực. Cách tiếp cận này giúp nhìn lại mối quan hệ giữa ổn định, phát triển và bất bình đẳng dưới một góc nhìn tỉnh táo hơn. Tòa soạn giới thiệu bài viết như một đóng góp cho đối thoại xã hội, với tinh thần viết để hiểu và cùng suy ngẫm
07 Tháng Hai 2026(Xem: 384)
Sắp đến Tết truyền thống, như một “tập quán” bất đắc dĩ mới, nhiều người đang lo lắng chuẩn bị đón đợi nhằm chống đỡ các chiêu trò hài nhạt chọc cười nhảm trên các phương tiện truyền thông, thì đã bị đầu độc đến nôn mửa bởi hàng loạt thứ văn hóa rác được gọi là “Thơ Văn”, mà lại là “Thơ Văn” đoạt các giải cao ngất ngưởng, được ngợi ca ngút trời theo kiểu “quá lời nguyện hết thành hoàng thổ công”…
07 Tháng Hai 2026(Xem: 500)
Bụt trong văn hóa Việt Nam là một hiện thân vừa nhân hậu vì hay cứu khổ giúp đời mang hình ảnh đức Phật, vừa là vị thần linh có quyền phép trấn tà, trừ vọng mang hình ảnh thần thánh. Đó là biểu tượng hiền thần, hỷ thánh trong nếp sống tinh thần dân gian Việt Nam. Hễ nơi nào có đau khổ, bất công, nguy khốn là có Bụt hiện lên cứu cấp. Người Việt đi vào đời bằng Bụt, rồi đi sâu vào đạo bằng Phật.
30 Tháng Mười Hai 2025(Xem: 2790)
Dẫn Nhập: Sau khi đọc bài viết thứ 7 mới đây, một chuyên gia về môi trường từ Đại học Cần Thơ nhận định: “Hiện nay, giữa Thái Lan – Cam Bốt đang có đấu pháo tranh chấp biên giới, chưa dừng được, phần thua thiệt có lẽ nghiêng về phía Cam Bốt nhiều hơn, dù ông TT Trump có gọi điện can thiệp. Có lẽ dự án kênh Funan Techo tiếp tục bị "treo", khó triển khai lúc này, dù đã gần 3 năm Hun Sen phát lệnh khởi công.” Một số bạn đọc ở trong và ngoài nước cũng có cùng nhận định như vậy. Và đây là bài viết thứ 8 như một Đánh giá Phân tích Ảnh hưởng cuộc xung đột biên giới giữa Thái Lan – Cam Bốt trên Tiến độ Công trình Xây dựng Kênh đào Funan Techo. Bài này được viết từ ngày 07.12.2025 khi cuộc chiến tranh biên giới Cam Bốt – Thái Lan tái bộc phát, cuộc chiến đã bước sang ngày thứ 20 với nhiều thương vong cho cả hai bên.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 9566)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 26032)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 32376)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
07 Tháng Năm 2021(Xem: 32712)
...một thập kỷ gian nan của nông dân Dương Nội qua cuộc trò chuyện với anh Trịnh Bá Phương - một trong những người có mặt từ đầu - đã góp phần không nhỏ trong nỗ lực xây dựng sự đoàn kết đấu tranh dai dẳng của bà con. Mong rằng chúng ta sẽ học được nhiều điều từ họ, những người mà nhà thơ Hồng Nguyên gọi là “Áo vải chân không đi lùng giặc đánh”.
(Xem: 7337)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 9710)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 2383)
BIỂN CÓ NHIỀU MÀU HỞ ANH – bài thơ của Đặng Hiền viết ngày 16.12.2017, hôm nay trở lại trong một hình hài mới: Blue Rock, với giọng nam trầm ấm, chậm rãi và đầy suy tư. Từ câu hỏi giản dị mà ám ảnh “Biển có nhiều màu hở anh…”, ca khúc mở ra một thế giới yêu thương rất đời: cà phê buổi sáng, âm nhạc không lời, những ước mong nhỏ bé nhưng bền bỉ. Giai điệu Blue Rock khoác lên bài thơ một lớp sóng mới – vừa hoang hoải, vừa ấm nồng – để tình yêu vang lên như biển: không chỉ một màu, mà sâu, rộng và không ngừng chuyển động.
(Xem: 2397)
ĐÔI MẮT EM là một thí nghiệm nhỏ nhưng đầy mở rộng của thời đại AI: nơi một bài thơ có thể hóa thân thành nhiều phiên bản—hay và chưa hay, đơn ca hay song ca, với giai điệu và hòa âm luôn biến chuyển, không còn bị giam trong sự lặp lại sáo mòn. Nhưng sau tất cả, điều còn lại vẫn là phần hồn: ca khúc có chạm được trái tim người nghe hay không, và giọng hát có đủ cảm để ở lại trong ký ức. Phiên bản này được gửi đi như một trải nghiệm—lắng, điện ảnh, và mong manh—để người nghe tự tìm thấy mình trong đôi mắt em. TẠP CHÍ HỢP LƯU
(Xem: 2477)
“Mỹ Hương” là một bản Jazz Ballad dịu ngọt, nơi giọng nam trầm ấm và giọng nữ mượt nhẹ hòa quyện, kể lại một buổi sớm bình yên bên cầu San Francisco. Từ những “hoa cúc trong lòng”, từ bài hát cũ của mùa thu nơi xứ Mỹ, ca khúc mở ra một không gian phủ sương, đầy gió biển, và đầy nỗi nhớ như sương. “Mỹ Hương” là một lời thì thầm Jazz Ballad từ sương thu San Francisco Thân mời quí ACE cùng nghe Ca khúc: MỸ HƯƠNG - thơ Đặng Hiền- (Phiên bản Trắng Đen- Song Ca)
(Xem: 2816)
Trong phiên bản Dream Pop này, bài thơ Mỹ Hương được khoác lên một lớp không khí mờ ảo và chậm rãi, như bước chân ai đó đi giữa màn sương lạnh của San Francisco. Giọng nam trầm thì thầm, hoà vào reverb dày và những lớp ambient pads lơ lửng, tạo cảm giác như một ký ức đang tan ra trong ánh đèn vàng trên cầu Golden Gate.
(Xem: 5019)
Giữa khoảng lặng mênh mang của một đêm trăng rụng, bài hát “Sao Sa Khẽ Rụng Thiên Hà Xẻ Đôi” vang lên như một khúc chiêm nghiệm về tình yêu, định mệnh và sự buông bỏ. Từ những câu thơ thấm đẫm nỗi trầm tư của Trương Đình Trác, ca khúc mở ra một không gian mờ ảo – nơi nỗi buồn hóa thành ánh sao, nơi tiếng lòng con người hòa cùng nhịp ngân của vũ trụ.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 4323)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 3955)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 5073)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.