- Tạp Chí Hợp Lưu P.O.BOX 8782 Fountain Valley, CA 92728-9809 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,470,556

THÁNG 4 VÀ THƠ LỮ THI MAI

01 Tháng Tư 20182:48 CH(Xem: 9333)




lu mai4F- 2018
Nhà thơ Lữ Thị Mai - VN 2018

 

MẮT SƯA

 

Trắng đẩy vào ô cửa phố Phan

không qua nổi chiều sương mù ẩm cánh

từ đấy về vòm cầu Phùng Hưng

áo mỏng phù dung họa bích

 

làm sao thấy được em

ngày xuân tuyết trinh kỳ trăng quên hẹn

những đôi mắt tự tìm mình

những gót giày nhỏ xinh lười bách bộ

 

lạ thay phố ngày toàn khói

hơi người thơi thới trời mây

không gì thật hơn ánh nhìn màu trắng.

 

MƯA ĐỒNG VĂN

 

Mắt người đã khô

mưa vẫn trũng tim đá núi

đêm nay mình không ngủ được

vơ vất rượu ngô khèn lá chợ phiên

 

người Mông bán mua gì

hơi cỏ Mã Pì Lèng ngai ngái

sa mộc sóng đôi vẽ lại đỉnh trời

 

đèo sau mưa khởi toàn mây trắng

người tìm người vắng trong mơ

tường đá ấm mùa đào chín lựng

má bừng vía lửa đêm đông

 

triệu người bóng nhòa lưng núi

váy xòe theo đuôi ngựa cuối thung xa

chúng mình cứ nhìn nhau mà khóc

tia mắt lịm hơn bát rượu dốc sau cùng

 

bỗng chốc chân người bất động

những cung đường xa khuất lang thang.

 

MƠ LẠ

 

Bỗng thấy mắt mình rụng rơi

bỗng thấy đôi tay lần tìm trong bóng tối

ta đuổi miết theo những hòn bi

bình minh lăn phía nào chưa rõ

 

còn bây giờ

hoa sữa thơm đến bất đồng ngôn ngữ

một thoáng mưa mắt phố hai hàng

ký ức đổ vào ta gốc rạ

tháng Chạp vọng về hoàng hôn sương sa

 

tỉnh dậy chẳng tìm ra cặp mắt

trời đông sang da thịt buồn căng

cơn mơ lấy đi những điều rất thật

may ra còn trí nhớ ăn năn.

 

 

KHAI XUÂN

 

Lộc biếc vừa đơm nhức áo

núi in giấy mới chùng chình

ý nghĩ vượt vùng yên tĩnh

mây lành tạo tác đào phai

 

nơi này sót bụi mưa tháng Chạp

lau sậy qua tay rức hơi người

ai hát lại bài ca vách núi

muôn lối mòn thui thủi vắt lên cao

 

trẻ con ùa vào

lòng ta...

má hồng, chân không, mắt ướt

giỏ nan đựng đầy quả dại

ta mua thêm nỗi bâng khuâng

 

áo người một hàng lộc biếc

năm tháng trổ ra hờn tiếc...

 

NHỮNG GIẢ DỤ

(1)

Em bỏ đi khuôn mặt rườm rà

bức tượng cổ hắt vào muôn điệu sáng

son môi in màu nắng

hoa loa kèn mang mùi áo rất xa

 

thuở ấy có người theo ta

hỏi gì đều không nói

khóe cười váng đầu nghĩ ngợi

dẫn về sân ga lên mười

 

đường lá rụng phập phù ngọn lửa

vỉa hè bùng đám cháy nhỏ

chỉ riêng mình biết thôi

đời sống kia tươi tốt ngời ngời

 

bức tượng an vui đêm nào phẫn nộ

mắt trùng khơi bờ cõi chân mày

mi ướt ken dày mưa lũ

ta bắt đầu nghi hoặc mọi cơn mơ.

 

(2)

 

Khuya nay phên giậu quỳnh dao

ai vào phải mang đồ trắng

hẳn có người đang sợ lắm

trò chơi ám phận đàn bà

 

thì thôi

tắt đèn

vào nhà

nửa chừng thinh không áo mỏng

thềm rêu hút chặt bàn chân

 

quỳnh cười rất trong

dao sắc mật thư nghìn đêm có lẻ

tình ái mong manh chuyện kể dư thừa

 

ai lỡ vào đây chưa thể ra

nhớ đọc ba lần câu thần chú

tôi đã vào đây như phù du...

 

(3)

 

Mưa từ bên kia hoang dã

trà ấm lòng ban mai

ta tưởng tượng thêm một vài mùa hạ

gieo phong ba đâu đó bên mình

 

nước mắt có từ thời chưa sinh

ấy là dòng sông nhỏ

vắt qua đồi má khô

vô thức điềm nhiên thổ lộ

 

biển quanh ta quạnh đắng chén trà

muối trắng ân tình hữu hạn

nói gì cũng mặn

mọi ngôn từ đều dẫn đến ăn năn.

 

(4)

 

Buổi chiều thắp nến lên

nắng chói mờ đuôi mắt

lòng dửng dưng rụng đầy thanh xuân

chưa kịp nhớ nhung gì

đã tắt

 

người ta đối thoại với nhau

sao mình đau

thấy như tim ngừng đập

thấy đón đầu cửa ngực một dòng sông

 

bóng núi trăm năm chảy thành sáp nến

tên chiều nhạt hơn mưa đêm

ta chợt thấy những tàng cây luống tuổi

gọi mây trôi ngun ngún khói trời

 

ai cũng nói ngôn từ quá mới

tấc lòng độ lượng mồ côi

tận cùng mọi cuộc đối thoại

là chiếc gai đau nhói chôn vùi

 

(5)

Huyên náo vầng trăng mê rong chơi

trần thế có người suốt đời trồng cỏ

mong đổi màu khu vườn

nghìn lá đỏ nghiêm trang như mực

 

người búng vào lau sậy niềm tin

lỡ chết đi đời tuốt cờ bông trắng

nào ngờ chỉ là mây sà xuống

cho vay

 

thực ra vườn vẫn lay lắt cây

ai giả dụ thì tự bày câu chuyện

ý nghĩ lên rêu biết lối mà xanh

hoặc tàn lụi sẽ an lành trong đất

 

vì ta vầng trăng chợt thức

treo giữa trời mưng mưng vành nôi

người trồng cỏ đánh rơi đôi hài gió

từ đó mộng mơ nhân bản thăm dò.

 


 

LỮ THỊ MAI

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
04 Tháng Giêng 20205:40 CH(Xem: 2847)
Những tư liệu về thuở thiếu thời của Petrus Key đầy chi tiết trái ngược nhau. Năm 1958, Viên Đài & Nguyễn Đồng cho rằng thân phụ Trương Vĩnh Ký là “Lãnh binh Truơng Chánh Thi,” chết năm 1845 trong khi tùng sự ở Nam Vang (Bách Khoa [Saigon], số 40, [1/9/1958], tr. 43); năm 1846 mẹ (Nguyễn Thị Châu) ủy thác cho một giáo sĩ người Pháp có tên Việt là “cố Long” (tr. 44); năm 1847, Nguyễn Phước Thời (1847-1883), niên hiệu Tự Đức, lên ngôi, cấm đạo gắt gao phải chạy sang Cao Miên [Kampuchea]; năm 11 tuổi nói được 5 thứ tiếng (tr. 44); năm 1852 [sic] được cố Long hướng dẫn sang Đại chủng viện Penang, và ghé qua Sài Gòn gặp mẹ được vài giờ (tr. 44). Tại Penang học tiếng Anh, Nhật, Ấn (tr. 45). Năm 1858 mẹ chết, về Cái Mơn thọ tang. Ngày 28/12/1860 [sic], được Giám mục Dominique Lefèbvre giới thiệu “giúp việc cho Đại úy thủy quân” [sic] Jauréguiberry (tr. 45). Chữ “capitaine” của Pháp ở đây là hạm trưởng, không phải “đại úy” như quân chủng bộ binh.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 6807)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
06 Tháng Bảy 20153:00 SA(Xem: 3608)
Ngày 4/7/1407, tại Kim Lăng, kinh đô đầu tiên của Đại Minh từ 1368 tới khoảng năm 1421, Chu Lệ hay Đệ [Zhou Li] miếu hiệu Thành Tổ (Ming Zhengzu, 17/7/1402-22/8/1424) họp triều thần, chấp thuận lời xin của “1120” kỳ lão xứ Giao Châu [An Nam] hơn hai tháng trước là “con cháu nhà Trần đă chết hết không người thừa kế…. Giao Châu là đất cũ của Trung Hoa xin đặt quan cai trị, để sớm được thánh giáo gột rửa thói tật man di.” (1) Hôm sau, 5/7/1407, Chu Lệ ban chiếu thành lập “Giao Chỉ Đô Thống sứ ti” [Jiaozhi dutong tusi], một đơn vị quân chính cấp phủ hay tỉnh [Provincial Commandery]. (2) Và, như thế, sau gần 500 năm tái lập quốc thống dưới tên Đại Việt—hay An Nam, từ 1164/1175—nước Việt trung cổ tạm thời bị xóa tên.
06 Tháng Tám 20204:13 CH(Xem: 456)
một chút tóc cũng rối bời mây hạ / một chút bàn tay vẫy bỗng hiền khô / một chút bờ vai thong dong phố thị / một chút mắt môi thảng thốt đợi chờ /
06 Tháng Tám 20203:58 CH(Xem: 372)
Đừng vì anh / hãy mê mải cánh chim / giông giống nụ hôn ố vàng rơi bay mùa lá /
06 Tháng Tám 20203:37 CH(Xem: 495)
Có thể bây giờ nơi xa đó Ngày chỉ vừa lên trong nắng mai Giọt sương còn đọng long lanh ướt Và café nóng tỏa khói bay.
06 Tháng Tám 20203:32 CH(Xem: 530)
Quên rồi em đã quên tôi / Tháng giêng qua ngõ còn cười tháng hai / Phai thu lạnh sắc trang đài / Trăng ba vòng nguyệt đau hoài cùng trăng
06 Tháng Tám 20202:43 CH(Xem: 444)
Trăm năm ở tạm chốn này \ Trần gian sinh ký đọa đày bể dâu \ Trầm thăng bao nỗi cơ cầu \ Nợ nần chưa dứt nỗi sầu cưu mang \
01 Tháng Tám 202012:48 SA(Xem: 796)
tình yêu một lần có thật thức dậy từ con mắt bình minh cơn mưa đầu mùa nồng nàn cầu vòng hò hẹn
29 Tháng Bảy 202012:55 SA(Xem: 439)
Có dăm hạt thóc cũng vừa / Đơm bông trên đỉnh thượng thừa đêm qua / Chúng sinh đại địa sơn hà / Theo nhau bước xuống chuyến phà đại bi./