- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

CON NÍCH

03 Tháng Mười Một 20161:46 SA(Xem: 51257)
Con Nich
Ních - ảnh Internet
 












- Này, biết tin gì chưa? Con Ních của nhà ông Cẩm mất tích!
- Nghe nói ông Cẩm thông báo tìm Con Ních cả trên đài, báo!
- Một cơ hội tốt đấy!

Cứ thế, việc Con Ních của nhà ông Cẩm bỏ nhà ra đi hay bị một kẻ nào đó bắt mất trở thành câu chuyện thời sự nóng hổi trong cơ quan. Lai lịch con Ních của ông Cẩm chẳng mấy ai không biết, nó là quà của ông Thưởng tặng ông Cẩm nhân dịp ông Cẩm tổ chức mừng sinh nhật lần thứ năm mươi của mình. Con Ních là sản phẩm của một cuộc ngoại tình giữa con Tô, một con chó tinh khôn của ông Thưởng với con chó hoang vẫn hay lởn vởn ở khu phố. Ông Cẩm yêu quý con Ních như một người bạn vong niên; con Ních khỏe mạnh, tung tăng chạy nhảy, ông nhìn có cười khà khà. Con Ních ốm đau, ông cơm chẳng ngon, ngủ không được đẫy giấc. Mọi thứ tình cảm của hai bản thể cùng loài hay khác loài giành cho nhau đều có căn nguyên và mục đích của nó. Tình cảm của ông Cẩm đối với con Ních cũng vậy, ông Cẩm nhận thấy từ khi có con Ních, tiền bạc chảy vào nhà ngày một nhiều hơn, con đường công danh dường như cũng thênh thang rộng mở, không những thế con Ních còn là chiếc cầu nối quan trọng thắt thêm tình cảm giữa ông và ông Thưởng. Ông Thưởng là người thích sự trung thành tuyệt đối. Ông quan niệm, nhân cách lớn nhất của con người là sự trung thành, bản chất này của ông được thực tiễn giám định nhiều lần, nổi trội nhất là đợt ông làm tổng chỉ huy chiến dịch quai đê, lấn biển để rồi bị biển nuốt trôi mất hàng chục tỷ đồng. Việc ông Cẩm chăm bẵm, nâng niu con Ních bằng cả vật chất lẫn trí lực lớn lao như vậy, ông Thưởng dù có kiến thức toán học tồi tệ đến mấy cũng không thể quên được phép chứng minh theo tính chất bắc cầu: ông Cẩm thuỷ chung với Con Ních, hiển nhiên ông phải trung thành với mình!

Đêm hôm qua vào lúc một giờ bốn mươi lăm phút, ông Cẩm thức giấc để thực hiện việc đi tiểu thường lệ, không thấy con Ních nằm bên cạnh, ông bật đèn nhìn vào chiếc giường nhỏ của con Ních ở góc phòng, vẫn không thấy con Ních đâu, ông hoảng hồn khua cả nhà dậy, tìm suốt đến sáng nhưng con Ních vẫn bặt vô âm tín. Ông vò đầu, bứt tai than vãn với vợ, nếu không tìm được con Ních, rất có thể cuộc đời ông bắt đầu xuống dốc. Bà vợ trách ông chưa già lắm đã lẩm cẩm, mất con Ních, mua con khác đẹp hơn, lo gì! Ông nổi xung:

- Bà ngu lắm, đời tôi được thăng hoa là nhờ con Ních, nay mất nó, tránh sao khỏi sóng gió!

Vợ ông hiểu ra, đi khấn vái chùa gần chùa xa, lại thuê người tìm khắp nơi. Nỗi buồn mất con Ních của ông Cẩm lan truyền rất nhanh sang nhiều người; gặp ông, ai cũng xót xa chia buồn, thể hiện cả trong công việc, đi sớm về muộn, ấy thế vẫn có kẻ đi ngược lại dòng chảy, người đó là lão Sam. Lão Sam viết đơn xin nghỉ phép năm trước thời hạn, bị ông Phó gạt, lão lên gặp trực tiếp ông Cẩm, ông Cẩm bực lắm, cầm tay lão Sam lôi ra cửa chỉ vào tấm biển ghi: thủ trưởng bận không tiếp khách! Mặc cho ông Cẩm giận dữ, lão Sam vẫn một điều kính thưa hai điều kính thưa và lòng kiên trì đã không phụ lại lão, ông Cẩm giật phắt tờ đơn trong tay lão ký rách cả giấy, lão Sam hớn hở cầm tờ đơn đi ra, gặp ai cũng khoe. Thật là một chiến tích! Mọi người nức nở khâm phục lão. Trong đơn, lão Sam xin nghỉ phép để sửa phòng, làm thêm cái gác xép. Căn phòng của lão quá chật, chín mét vuông nhét sáu người. Đơn viết vậy, nhưng lão thực hiện không đúng mục đích, lão đi tìm con Ních! Hy vọng cuối đời của lão là đây. Lão suy tính, tìm được con Ních, nhất định ông Cẩm sẽ cấp cho lão một căn hộ khép kín đang xây để cấp cho những cán bộ có nhiều cống hiến. Chỉ con Ních mới có thể đem lại cho lão đặc quyền, đưa gia đình lão đến một căn hộ mà lão từng mơ, từng ước. Thật ra lão hằng có nhiều mơ ước, nhưng quá hão huyền; nào là bỗng dưng thay đổi được số phận, được làm thứ, bộ trưởng, lấy được một người vợ đủ bốn tiêu chuẩn: công, dung, ngôn, hạnh. Có lần lão được bạn bè chiêu đãi, món tiết canh dê chết tiệt làm cho lão phát cuồng, bản năng trỗi dậy, lão không thể kìm nén được, nhưng mới hơn tám giờ tối, cả bốn đứa con đều ở nhà, lão định đuổi chúng đi chơi, vợ lão ngăn, cả hai phải đưa nhau vào công viên, lúc ấy lão ước một căn hộ có buồng riêng. Bây giờ vợ chồng lão đã già, chuyện ái ân chỉ còn mang tính xã giao nhưng nhu cầu có được một căn hộ khép kín vẫn đeo đuổi lão, con cái lão đã tồng ngồng tẫy ngẫy cả, chả thể để chúng đi ngủ nhờ mãi được.
Nhằm một ngày tốt, lão Sam bắt đầu công cuộc tìm kiếm con Ních. Vợ lão nhìn chồng đầy ái ngại, lão cảm kích nói với vợ:
- Mẹ nó ạ, sống phải có hy vọng, cơ đồ của ông Cẩm bắt đầu từ con Ních. Tìm được nó, tôi tin gia đình mình sẽ được hưởng lộc của ông Cẩm. Cứ ở hiền, ắt có ngày gặp lành thôi!

Vợ lão hoe hoe mắt. Lão cười tủm: Cứ như tiễn chồng ra trận không bằng! Lão phốc lên chiếc xe đạp Thống Nhất đạp cật lực, lão sợ phải nghe thấy tiếng lụt xụt của vợ ở đằng sau. Cả ngày lão tìm con Ních quanh đám phố gần nhà ông Cẩm, lão vừa vào trực tiếp, vừa nhìn qua cổng cả thảy được chín lăm nhà, lão gặp hai mươi ba con chó, có bốn con rất giống con Ních nhưng không phải. Tối về, lão chẳng thèm ngó đến mâm cơm có món cá kho gừng lão vẫn thích, lão chỉ uống hai chén rượu rồi lên giường trùm chăn kín đầu. Vợ lão sợ chồng ốm, lân la đến bên giường, nắm tay lão hỏi han, lão gắt:

- Khổ lắm! Kệ tôi.

Việc tìm kiếm Con Ních chẳng đơn giản như lão nghĩ, lão bị từ chối không cho vào nhà, bị ném đá, bị cả một đứa trẻ ranh gọi là thằng điên! Tủi nhục quá! Hay là thôi, chẳng tìm nữa! nhưng cả đời không lo được cho vợ con một chỗ chui ra chui vào tử tế một chút, hèn lắm! Lão nghĩ ngợi ghê gớm, gà gáy canh tư mới chợp mắt. Sáng dậy, mặt lão bơ phờ, lão ngồi tư lự trên giường. Vợ lão chẳng dám đến gần, đứng ở cửa nhìn lão, thương lão quá, muốn lại chia sẻ với lão vài lời nhưng lại sợ lão: “Khổ quá, Kệ tôi!”. Lão phác họa trong đầu lịch trình tìm con Ních, hôm nay lão đến xóm liều, cách nhà ông Cẩm năm phố. Lão hy vọng một kẻ đói rách nào đó bắt con Ních, nếu sự thật là vậy, lão sẽ chuộc con Ních bằng mọi giá.
Lão tụt xuống giường, ăn quáng quàng gói xôi vợ mua, vội vã dắt xe ra đi. Sự tính toán của lão Sam về khả năng Con Ních bị dân xóm liều bắt, khá thực tế nhưng lão mắc một sai lầm trầm trọng, lão nghĩ con người khi bị đẩy vào cảnh khốn cùng, dễ cảm thông với nhau hơn, nếu con Ních đang hiện hữu trong xóm liều, lão tin sẽ tìm ra và chuộc lại nó một cách dễ dàng. Lão phải trả giá cho sai lầm này, khi lão vừa ngó vào căn nhà quây cót ép đầu tiên, từ phía sau một gã đàn ông mặt rỗ giáng một quả đấm cực mạnh vào sườn lão, lão ngã đè lên xe đạp.
- Tao có khốn nạn mới phải chui rúc như chó thế này mà mày lại còn rình rập hả? - Gã đàn ông rít lên.

Lão Sam tái tím mặt, lẩy bẩy ngồi dậy thanh minh. Thật khốn nạn cho lão, lão càng chân thành, nói ra sự thật bao nhiêu càng làm cho gã mặt rỗ nghi ngờ, giận dữ bấy nhiêu. Những quả đấm tiếp tục phóng vào người lão. Phải dừng ngay sự thật lại, sự thật nhiều khi là nguyên nhân trực tiếp gây nên cảnh khốn nạn của cuộc đời. Lão Sam độc thoại một mình, và ngay tức khắc lão ngừng lời. Gã mặt rỗ cũng dừng tay, gã dờn dợn trước ánh mắt rừng rực của lão Sam. Tiếp tục tấn công, lão Sam đứng phắt dậy, hét vào mặt gã mặt rỗ:

- Mày ngu như chó ấy, mày tưởng tao là dân thường thật hả? Tao là ông Cân, cán bộ lãnh đạo quận, giả dạng dân thường đi khảo sát xem dân vô gia cư chúng mày sống thế nào để về lập kế hoạch đây!

Gã mặt rỗ nghe đến tên ông Cân đờ đẫn cả người, gã chắp tay van xin lão Sam tha tội chết cho gã. Lão Sam quát:
- Dựng xe lên, tao thương mày bần hàn chứ không rũ tù nghe chưa?

Tiếng lão Sam nghe có gang có thép. Gã mặt rỗ làm theo như một cái máy. Lão Sam dắt xe ra đường, đạp một mạch về nhà. Cũng như lão Sam, gã mặt rỗ không bao giờ quay lại ngôi nhà của gã nữa. Lão Sam chạy trốn gã, còn gã chạy trốn ông Cân!

Lão Sam nằm bẹp ba ngày liền, người lão đau ê ẩm nhưng lão không hề rên rỉ, lão chỉ tức, tức muốn trào máu. Đời lạ thật, sống cho đúng với mình cũng chẳng được, muốn tồn tại và cạnh tranh với đời nhiều khi phải sống khác mình! Lão nghiền ngẫm về đời rồi đi đến kết luận cho chính cuộc đời lão, lão cho rằng sở dĩ lão không công thành danh toại như ông Cẩm và bao kẻ khác là do lão sống thật quá. Bạn bè lão đấy, vô khối kẻ dốt nát hơn lão ấy thế mà vẫn trở thành ông này, bà nọ. Càng chiêm nghiệm sự đời, lão càng cay cú, nuối tiếc. Đồ ngu! Lão tự chửi mình, mày cũng là người mà thua đời. Không thể thế này mãi được, cần cứu vãn phần đời ít ỏi còn lại. Sam! Hãy thay đổi cách sống thôi, lão ra lệnh cho chính mình. Ngày hôm sau lão biến ý niệm thành hành động, mà điểm xuất phát bắt đầu từ Con Ních. Lão không đi tìm kiếm con Ních thật nữa mà bỏ tiền mua một con chó giống con Ních mà lão đã gặp trong ngày đầu tiên. Từ ngày rước con chó về, cuộc sống của gia đình lão bị đảo lộn toàn bộ, tất cả các khoản chi tiêu trong ngày đều bị cắt giảm xuống mức tối đa để tập trung cho con chó. Lão huấn luyện, nuôi dưỡng con chó sống theo phong cách thượng lưu đúng như đời sống con Ních của nhà ông Cẩm mà lão từng chứng kiến. Trong mười ngày đào tạo con chó, lão nghiệm ra, chẳng cứ gì con người, mà ngay cả loài vật, khi thay đổi môi trường sống từ thấp lên một cấp cao hơn, sự thích nghi diễn ra nhanh hơn. Lão rất hài lòng về con chó, tuy số ngày chuyển đổi cách sống ngắn ngủi nhưng nó đã thực hiện thành công một cách tuyệt diệu. Từ dáng đi oai vệ, cách ăn sôcôla ngấu nghiến đến kiểu đái gác chân đều rất giống con Ních của ông Cẩm. Thú vị hơn nữa, mỗi khi lão gọi: Ních, con có chồm hai chân trước lên, chạy lon ton bằng hai chân sau, xét về mặt kỹ năng xem ra còn thành thục hơn cả con Ních.
Hết hạn phép, lão Sam thuê xích lô chở lão và con chó đến nhà ông Cẩm trình diện. Ông Cẩm sung sướng, cười khà khà, ông ôm chặt con chó, hôn lên môi, mặt, khắp người nó. Con chó được thực tập nhiều cách gặp gỡ nên không một chút ngỡ ngàng, giơ một chân lên cào cào vào cằm ông Cẩm, dụi mũi vào cặp má mỡ màng của ông. Cử chỉ của con chó làm ông Cẩm tin tưởng một cách tuyệt đối, con chó đích thực là con Ních của ông! Lão Sam nhìn ông Cẩm bày tỏ tình cảm với con chó, thấy con chó nhập vai thành thục như diễn viên chuyên nghiệp, ruột gan lão nở ra từng khúc. Biết đâu, đời ta cũng sẽ bắt đầu từ chó, lão hấp háy đôi môi xám xịt rồi nở một nụ cười ma mãnh.

- Bác Cẩm ơ! - Tiếng một người đàn bà gọi cổng. Mặc, ông Cẩm vẫn xoắn xuýt với con chó. Lão Sam đi ra, tóc tai dựng đứng khi nhận ra bà lao công đang ôm con Ních chính hiệu, gầy nhom, ghẻ lở trong tay, bà huỳnh huỵch đi đến trước mặt ông Cẩm:

- Bác Cẩm ơi! Tôi đang quét đường thì nhìn thấy con chó này nằm bên gốc cây, nó thay đổi quá nhiều nhưng tôi vẫn nhận ra ngay con Ních của bác.

Thoắt nhìn thấy con Ních trong tay bà lao công, ông Cẩm đã kinh tởm, ông xua tay:

- Bà nhầm, bà nhầm, con chó khốn khổ ấy không thể là con Ních được, đây mới chính là con Ních của tôi!

Bà lao công nhìn con chó ông Cẩm đang ôm trên ngực. Quả là nó rất giống con Ních nhưng không phải, bà thả con Ních ra, nó vẫy đuôi, lao lại phía ông Cẩm, lè lưỡi liếm vào chân ông. Bà lao công chỉ con Ních:

- Ông thấy chưa, nó vẫn nhận ra ông đấy, chó bao giờ cũng trung thành với chủ!

Ông Cẩm lấy chân hất con Ních ra xa, nhổ toẹt một bãi nước bọt xuống đầu nó:

- Chó cũng biết người sang bắt quàng làm họ! - Ông Cẩm khinh khỉnh.

Bà lao đông sa sầm mặt, bà cầm chiếc dễ quét đường khua khua trước mặt ông Cẩm:

- Tôi thương ông mất ăn, mất ngủ vì con Ních, tôi thương nó đang ăn sung ở sướng phải chịu cảnh hàn vi nên tôi mới đem về cho ông. Ông đừng từ bụng ta suy ra bụng người!

Bà lao công quay ra, kéo chiếc dễ loẹt xoẹt trên mặt đất. Ông Cẩm chửi bà vô học, lão Sam vuốt đuôi bằng một câu tương tự. Ông Cẩm vào nhà mang ra gói sôcôla, lấy hai chiếc, chìa cho xon chó một, nó đớp gọn, nhai ngấu nghiến, còn chiếc kia ông đưa cho lão Sam, ông muốn cho con Ních đang nằm dưới đất để làm một cuộc kiểm nghiệm nho nhỏ nhưng lão Sam không hiểu ý, lão đưa thanh sôcôla lên miệng nhấm nháp. Ông Cẩm bật cười khà khà:
- Khá lắm! Anh sẽ được trả công xứng đáng. Hãy đem hộ tôi cái của nợ kia đi.

Lão Sam bế con Ních ra đường, qua một bãi rác, lão thả con Ních xuống. Con Ních run rẩy, ngước đôi mắt toét nhèm lên nhìn lão, lão Sam nhìn lại. Bốn con mắt chiếu vào nhau, hoang mang, ngờ vực, căm thù. Lão Sam nặng nề ngồi xuống, vuốt lên đầu con Ních:
- Ních à! Người cũng có lúc còn lên voi, xuống chó... Hiểu chứ Ních?

VŨ ĐẢM
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
09 Tháng Sáu 202612:52 SA(Xem: 899)
Tôi trở lại thăm Hà-Nội sau hơn bốn mươi năm xa cách. Trong gần một tuần lễ, tôi bận rộn và mệt nhoài theo các con tôi đi thăm gần hết các thắng cảnh trong thành phố và các vùng lân cận mà các con tôi đã lập chương trình từ trước theo đề nghị trong các sách du lịch. Nơi cuối cùng là đi thăm Tam Cốc, sáng đi chiều về, và hôm sau sẽ trở lại Mỹ. Tôi chiều các con tôi, nên những nơi mà tôi muốn đến để tìm lại những kỷ niệm ngày xưa thì chưa có thời giờ, mà nếu không đến được thì đó là một điều thiếu xót cho chuyến đi của riêng tôi.
09 Tháng Sáu 202612:06 SA(Xem: 691)
Chị Tư hơn tôi hai tuổi. Tôi cá tính bao nhiêu thì chị Tư hiền lành, dịu dàng bấy nhiêu. Lại xinh nữa. Ngày xưa, chị được bình bầu là "hoa khôi xóm". Bà bán mì đầu hẻm bảo thế. Bả bảo, mấy người thường ăn mì ở đây khen : “Xóm này không ai đẹp và hiền như con Tư ”.
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 1462)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 1549)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
05 Tháng Sáu 20262:52 CH(Xem: 1316)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
05 Tháng Sáu 20262:02 CH(Xem: 1206)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 3356)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20262:56 SA(Xem: 2131)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 3154)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2643)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9932)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16770)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15761)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16192)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 1547)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 3354)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 3154)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 3106)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
(Xem: 1315)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
(Xem: 5278)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 7303)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 6652)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
09 Tháng Sáu 202612:52 SA(Xem: 895)
Tôi trở lại thăm Hà-Nội sau hơn bốn mươi năm xa cách. Trong gần một tuần lễ, tôi bận rộn và mệt nhoài theo các con tôi đi thăm gần hết các thắng cảnh trong thành phố và các vùng lân cận mà các con tôi đã lập chương trình từ trước theo đề nghị trong các sách du lịch. Nơi cuối cùng là đi thăm Tam Cốc, sáng đi chiều về, và hôm sau sẽ trở lại Mỹ. Tôi chiều các con tôi, nên những nơi mà tôi muốn đến để tìm lại những kỷ niệm ngày xưa thì chưa có thời giờ, mà nếu không đến được thì đó là một điều thiếu xót cho chuyến đi của riêng tôi.
09 Tháng Sáu 202612:06 SA(Xem: 690)
Chị Tư hơn tôi hai tuổi. Tôi cá tính bao nhiêu thì chị Tư hiền lành, dịu dàng bấy nhiêu. Lại xinh nữa. Ngày xưa, chị được bình bầu là "hoa khôi xóm". Bà bán mì đầu hẻm bảo thế. Bả bảo, mấy người thường ăn mì ở đây khen : “Xóm này không ai đẹp và hiền như con Tư ”.
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 1460)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2643)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2415)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2256)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2480)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 2475)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 1206)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 13614)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 29720)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35742)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 10847)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 12693)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 2130)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 3154)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 3324)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 3604)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 4151)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 7843)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 7159)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 9996)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.