- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,579,454

TRUYỆN NGẮN NGUYỄN THANH HIỆN

11 Tháng Mười 201511:40 CH(Xem: 18616)

 

 

Ngua va Em
Tranh Nguyên Khai



NHỮNG KÝ ỨC VỤN / MỘT THOÁNG GIỮA NGÀY

truyện ngắn Nguyễn Thanh Hiện

 

LTS: Lần đầu cộng tác cùng Hợp Lưu, Nguyễn Thanh Hiện có lối viết truyện rất lạ như thơ xuôi, từ đầu đến cuối chỉ dấu phẩy, không chấm. Chúng tôi hân hạnh mời quí độc giả và văn hữu cùng đi vào không gian truyện của Nguyễn Thanh Hiện. 

Tạp Chí Hợp Lưu

 



nàng là một thứ dấu vết kiêu sa, kỳ bí, lãng đãng giữa chốn ký ức nghìn trùng, nằm bên ngoài mọi định mức,về dáng hình, về lời, về những biểu hiện cảm xúc, và về mức độ thâm sâu, một cách thâm nhập như buổi chiều hôm bỗng có tiếng kêu sương của con chim vạc lạc bầy, hay nửa khuya thức giấc bỗng thấy thế giới này đáng yêu hơn, tôi yêu nàng như cách thức kẻ lãng tử luôn cảm thấy cuộc hành trình của mình như một cuộc tình [chung thủy và dài lâu] tôi với nàng là rất đỗi xa vắng, và rất đỗi rất gần trong cảm thức, cái cách thức tôi yêu nàng như cách thức những giọt sương buổi sớm luôn mang lại sức triển nở cho lá, cho cây, hay như buổi chiều hôm bỗng nghĩ đến định mệnh của đám sao trời vừa mới được sinh ra, buổi trưa nàng bỗng gửi đến tôi bài viết về những con đường nàng đang trải qua, những con chữ có vẻ như muốn thừa kế cách thức gợi ý gợi hình của đám chữ hình nêm cổ sơ, em đang bước trên những nẻo đường luôn có sự rình rập của những kẻ ngông cuồng [của thế kỷ] một đám người đang phung phí hơi thở, phung phí chân tay [làm như chẳng phải là của bọn họ] phung phí ngôn ngữ, cái cách phung phí ngôn ngữ của bọn họ là miệt thị cha ông, những người đã tốn bao nhiêu trí não mới nghĩ ra được hệ thống lời [vô cùng thiêng liêng và phong phú] để cho ngày nay bọn họ đem ra sử dụng [bừa bãi]trong các cuộc ăn chơi đàng điếm, thế là em bắt đầu nhìn ra cái thế giới bọn họ đang cố công gầy dựng, hằng đêm là bọn họ tụ tập dưới trời  [suốt sáng] để tự ca ngợi mình, hay ca ngợi nhau, hay ca ngợi những thứ chẳng ra chi nhưng bọn họ cố bằng cách sử dụng những ngôn ngữ cường điệu và đầy âm thanh để biến những thứ ấy thành những thứ vĩ đại, hằng ngày là bọn họ chẳng chịu để yên cho người ta làm lụng, cái cách bọn họ ra rả [một cách hăng tiết và dai dẳng nếu không nói là đáng ghét] trong những lập thuyết, hay diễn thuyết, hay du thuyết…  là làm mòn mỏi trí tuệ nhân gian và ô nhiễm trầm trọng nền nhân văn  thế giới, cứ nghĩ đến cái thế giới họ đang muốn tạo dựng là em cảm thấy xót xa như ai cầm dao cắt bớt hiểu biết của mình, những con chữ có vẻ như muốn xác tín với tôi rằng những điều nàng viết cho tôi là quá thật trong cuộc sống đương đại, buổi trưa tôi bỗng đọc những thổ lộ bấy lâu nàng vẫn dấu kỹ, những gì nàng trải qua có vẻ là định mệnh, số mệnh, hay chỉ là sự hài hước của tồn tại [sự hài hước lẽ ra không nên có] hay đấy chỉ là thứ kiểu cách kệch cởm của thời đại, tôi nghe có tiếng con bò nghé lạc mẹ đang ù be ở phía cuối làng, tiếng khóc của con vật non nghe buồn như tiếng ngâm nga của những người hát rong thời cổ đại, và dường như là người làng tôi thì đang rất buồn vì những kế sách ngu xuẩn trong việc gieo trồng, buổi trưa, làng có vẻ như chẳng còn ai còn sống, nàng là một thứ dấu vết kiêu sa luôn đánh thức những năng lực thầm kín trong tôi, dường như đang có tiếng kêu cứu [thất thanh] của những kẻ thất bại trong cuộc chiếm đoạt thế giới…

 

 

giã 15PM  24/9/2015

 

 

 

 

NGƯỜI GÕ CỬA MÙA THU

 

 

 

                       viết tặng người đã cho tôi một khoảnh
                       trời văn chương thanh khiết

 

 

 

 

vào cái đêm mùa thu chết lịm những ký ức về những tháng năm chưa kịp xưa cũ, em đã đến gõ cửa nhà tôi, ở làng Cù tôi vào những đêm thu buồn như thế con giun con dế nơi bờ rào cũng muốn nói lên lời tâm sự, mà đang có ai hát trên đồng làng, như tiếng hát của thằng bạn nối khố của tôi, hay lại đang vỡ vụn một vùng ký ức bi thương, từng ngày thằng bạn nối khố của tôi  đi nhặt nhãnh những bi thương, em đã đến gõ cửa nhà tôi đúng vào lúc đang vỡ vụn những ký ức bi thương, cũng vào một đêm mùa thu, lũ dế gọi mùa khản  cổ nơi bờ rào, thằng bạn nối khố của tôi đã hát về những thứ khác với niềm vui, những thứ ở phía bên kia sự vĩnh hằng có tên là niềm bi quan, cả đời thằng bạn nối khố của tôi đi nhặt nhãnh niềm bi quan, niềm bi quan hôm trước, niềm bi quan năm trước, niềm bi quan ngàn năm trước, cũng vào một đêm mùa thu buồn như thế, thằng bạn nối khố của tôi đã bắt đầu hát khúc tự tình của loài giống. hát giữa đồng làng… ngàn năm mây bay qua dãy núi trước làng, ngọn chuối sau hè rách nát, tiếng chim cu nặng trịch mùi mưa bão, ngàn năm bờ cỏ, ai đi, cây lúa chưa kịp trỗ bông đã nghe thấy tiếng gào thét giận hờn của đất, thằng bạn nối khố của tôi đã rút ruột ra mà hát, và đêm hôm ấy bạn tôi đã gọp hết thảy những thứ ấy lại thành cái chết của mùa thu, mà như còn có ai đang la hét ầm ĩ trên những cây cầu bắc qua sự cần lao của loài giống, em đã đến gõ cửa nhà tôi vào lúc dường có tiếng la hét ầm ĩ ở trên những cây cầu bắc qua sự cần lao, ta sẽ tặng cho lũ các người áo mặc, giày dép, và sự tự do, những người có quyền lực đang la hét ầm ĩ trên những cây cầu bắc qua sự cần lao, những kẻ có những chiếc xe ngựa kéo bằng những con ngựa có thứ mồ hôi đỏ, hãn huyết mã  đương đại, tên của lũ ngựa, nhưng dường như lũ ngựa là đang đứng về phía những người đang cư ngụ ở dưới những cây cầu  bắc qua sự cần lao, những con hãn huyết mã đương đại là cứ chòm lên trong những thứ yên cương làm bằng thứ  kim loại chế tạo từ những mỏ quặng được đào lên vào một ngày mùa xuân có tiếng la hoảng của lũ ong hút mật, em đến gõ cửa nhà tôi đúng vào lúc dường có tiếng la hoảng của những kẻ cư ngụ ở bên dưới những cây cầu bắc qua sự cần lao, là em đã gõ cửa nhà tôi, nhưng tôi thì cứ tưởng là đám người mặt đen đến từ chốn tranh nhau quyền lực, nhưng lại là tiếng gõ cửa rất nhẹ nhàng  của em, nên tôi lại cứ tưởng là oan hổn của lũ người háo danh và ngu ngốc đã chết tự mấy chục năm về trước, em đã nhẹ nhàng đến, gõ lên cánh cửa nhà tôi vào cái đêm mùa thu chết lịm những ký ức về những tháng năm chưa kịp xưa cũ, ỏ trong nhà, khi đã điềm tĩnh lại, tôi biết là tiếng gõ cửa của em, vào cái đêm mùa thu chết lịm những ký ức về những tháng năm chưa kịp xưa cũ, tôi đã nghe bàn tay em chạm lên khung cửa nhà tôi, không nhìn thấy em, không nghe thấy tiếng em, nhưng cái cách nhẹ nhàng gõ lên khung cửa tôi lập tức nhận ra là em đã đến, kể từ hôm em nằm xuống cùng tôi trong áng văn chương thế kỷ để cùng lặng im đi vào giấc ngủ miên viễn, thì tôi hiểu tình yêu ấy đã xảy ra rất lâu, rất lâu, những nghìn năm trước, là chưa nhìn thấy em, chưa nghe tiếng em, nhưng là tôi đã quen với những lời chân tình rút ruột của em, những lời chân tình như thể là nghe theo thứ tiếng gọi thiết tha từ một miền nhân sinh kỳ dị, khi biết chắc là em đã đến, tôi cứ muốn gào lên, tôi đã yêu em bằng cả sức mạnh của thanh khiết, một ngàn lần thanh khiết, bỡi tình yêu của tôi và em chẳng còn là thứ của cải riêng tư, ích kỷ, bỡi đấy là cuộc gặp gỡ ngẫu nhiên, kỳ bí, và định mệnh, tôi cứ muốn gào lên thế, nhưng là em đã không cho tôi nói, đặt ngón tay nhỏ nhắn của mình lên môi, em cứ ra hiệu cho tôi đừng nói, ngôn ngữ con người là chẳng thễ diễn nổi tình yêu định mệnh ấy, tôi biết, nhưng cuối cùng thì cũng chẳng thể cầm lòng được, đừng đi, em, cuối cùng thì tôi cũng nói ra được, lời ấy

 

Nguyễn Thanh Hiện

Giã, 2012-2015

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 1104)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1173)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 1855)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 5888)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 5863)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13199)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 30098)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81230)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20245)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
18 Tháng Chín 20215:41 CH(Xem: 609)
hai người trò chuyện / hơi ấm mặt trời mơn trớn / cửa bên trong người đàn bà hé mở / miền đất từ lâu không dung nạp sự sống / dòng nước chảy ngang nảy hạt / cong về ánh sáng quên lòng đất tối