- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,585,560

NGƯỜI GÁC CỔNG

23 Tháng Ba 20152:49 SA(Xem: 19628)
LinhGac
(Lính gác - Ảnh Internet)



       Tôi đứng gác cổng. Cánh cổng phía ngoài tòa kiến trúc. Công việc đã từ lâu và tôi nhận nó cũng từ lâu. Cánh cổng này chỉ có mình tôi đứng gác và vì thế tôi không được phép lơ đễnh. Tôi được trang bị đầy đủ những loại vũ khí để đối phó với những kẻ có ý định xâm nhập. Những món vũ khí đều là loại tối tân và cần thiết cho những cuộc chiến bắt buộc. Bộ quần áo tôi mặc được làm từ loại vải chỉ có ở tòa kiến trúc. Chất vải mềm nhưng rất bền và dẻo dai, khi cần thiết các lớp áo vải sẽ cộm lên và cứng cáp như áo giáp. Bộ trang phục này không gò bó tôi và tôi vẫn có thể vận động theo ý mình. Những lưỡi dao giắt bên hông rất bén, khẩu súng, cái móc, kìm chích điện cũng đều là những dụng cụ sát thủ. Tôi được toàn quyền sử dụng.    

   “Nào, hãy tránh ra.” – Từ phía ngoài, một người đàn ông cao lớn hô và tôi gật gù, mở cánh cổng ra. Người đó bước vào và rất mau chóng biến mất sau cánh cửa.

Nơi tôi đứng gác là cổng chính. Một cánh cổng lớn, đúc bằng thép. Nó rất rắn và dày tới mức cản được cả xe bọc thép nhưng cũng vì vậy mà tôi sẽ khó khăn trong việc đóng mở cánh cổng. Tôi không ước tính nổi chiều cao và bề rộng của cánh cổng vì khi đứng đó tôi trông rất nhỏ bé.

     Cánh cổng này là một phạm vi quan trọng của tòa kiến trúc. Nó được đặt ở ngoài và che chắn cho tòa kiến trúc. Tôi đứng gác từ rất lâu, và như đã nói công việc này tôi nhận từ lúc còn trẻ. Vóc người tôi cao lớn và tráng kiện, tôi đã từng tay không đánh chết một bầy sư tử và vì thế tôi có đủ sức khỏe để làm việc cho tòa kiến trúc. Một thời gian dài, tôi phải vất vả để ngăn chặn những cuộc xâm nhập vào tòa kiến trúc. Luôn có những cuộc hỗn chiến và tôi luôn giành chiến thắng. Những kẻ tìm tới tòa kiến trúc này đều sống ở xa ( tôi chắc vậy vì họ đã mang theo cả hành lý.) và với những lời quen thuộc như “Hãy cho tôi vào gặp người trong tòa kiến trúc”, “Tôi muốn vào trong”, “Tôi có một vật cần chuyển vào trong.” – Tôi không dễ gì mà tin vào những lời nói đó. Tôi không phải một người đưa thư, càng không phải thuyết khách hay một cố vấn về tâm lý, tôi là người gác cổng và bảo vệ cho tòa kiến trúc là nhiệm vụ của tôi. Khi mọi thuyết phục thất bại, họ nhao nhác cả lên và trở nên hung dữ. Những người đó thường đi theo nhóm và kết thành một đám đông. Họ gào thét, nhào tới như muốn xô đổ cánh cổng.

     Những món vũ khí mà tòa kiến trúc đã trang bị cho tôi đều có sức mạnh và vì thế không mấy khó khăn để triệt hạ đám ô hợp này.

     Nhiều lần, sau khi hạ gục đám người, thân thể tôi ướt đẫm máu. Tôi vẫn án ngữ trước cánh cổng. Hai chân tôi trụ vững như cắm rễ xuống đất.

     Dưới chân tôi là những xác người nằm ngả nghiêng. Nhiều thân thể ôm lấy nhau, co quắp như loài gấu ngủ đông. Một cái xác ở gần phía tôi đã nát bấy nhưng cánh tay với vài ngón đứt lìa vẫn vươn về phía cánh cổng. Chúng chỉ vươn tới đó.

     Máu nhuộm đỏ đôi bàn tay tôi. Khẩu súng tôi cầm trên tay vẫn nóng rẫy, đầu súng chúc lên, giật giật như còn muốn khạc đạn.

     Tôi luôn đứng ở ngoài, trước cánh cổng lớn dẫn vào tòa kiến trúc. Cả những ngày nắng, mưa bão hay chớp giật tôi vẫn đứng ở đó. Điều này chẳng đáng bàn gì vì thể lực của tôi rất tốt. Những gì ở bên trong nằm ngoài công việc của tôi. Thực ra tôi sẽ vẫn gác ở đây, nhưng việc quá nhiều người tìm tới và mong đợi được vào tòa kiến trúc đã phần nào khơi dậy trong tôi chút tà tâm về một sự xâm nhập. Có gì ở trong? Một cuộc thăm viếng hay điều gì khác mà tôi chưa rõ về tòa kiến trúc. Lý do gì khiến đám người kia liều mạng để xông vào.

     Những lúc mở cánh cổng ra để những người làm việc trong tòa kiến trúc đi vào tôi đã từng nhìn vào bên trong. Điều đó vụt qua mau như một ánh chớp. Nhưng tôi đã thấy một khối hình rất lớn trong đó. Nhiều lần tôi đã cố ý mở hoặc đóng cánh cổng thật chậm để có thể nhìn tòa kiến trúc kỹ hơn. Việc này nằm ngoài nhiệm vụ của tôi và sẽ là phạm tội nếu tôi làm vậy, nhưng có thứ gì đó đã thôi thúc và chế ngự tôi. “Tôi là người gác cổng, tôi không thuộc tòa kiến trúc kia nhưng tôi muốn biết...” – Tôi nghĩ thế và buông mình theo cái suy nghĩ đó. Cặp mắt tôi nhìn vào, cố thu gọn khối hình khổng lồ đó vào trí nhớ. Nhưng có thứ gì đó đã che phủ tầm nhìn và tôi không thấy được gì ngoài một khối hình to lớn nhưng mù mờ. Rõ ràng không phải sương mù, cũng không phải tòa kiến trúc xây cách xa cánh cổng tôi gác. Tòa kiến trúc cố định sau cánh cổng lớn và tôi biết nó rất lớn, có tầm vóc như những vị thần Titan. Chỉ là tôi không thể nhìn thấy rõ.

   “Anh trở nên chậm chạp từ bao giờ vậy.” – Một người trong tòa kiến trúc nói khi tôi đang nhòm mắt vào bên trong, qua một khe hở trên cánh cổng. Ông ta bên trong, tôi bên ngoài. Sau đấy, ông ta xòe tay, tôi không thấy gì nữa. Tôi trở về thế đứng thẳng. Tiếng bên trong vẫn vọng ra. “Anh là người gác cổng, bổn phận anh là thế và hãy ở đó đi.” - Câu nói đó chạy vào tai tôi và vang lên rất lớn. Mọi suy nghĩ bị thứ âm thanh đó nghiền nát và thứ còn lại trong tôi là một điều răn của kẻ bề trên.

     Cái kẽ nứt trên cánh cổng đã được bít lại bằng một miếng thép tinh luyện. Cánh cổng thế là hoàn hảo, không một kẽ hở. Tôi vẫn biết sau cánh cổng có người đứng.

     Ngày hôm nay có một vị khách lạ tìm tới cánh cổng dẫn vào tòa kiến trúc. Người này ngồi xe lăn và chỉ một mình. Gương mặt vị khách này chỉ còn lại một lớp sẹo xù xì, lớp da còn lại gần như đã bong ra hết và cái mũi cũng rụng đâu mất, để trơ ra hai cái hốc đen ngòm. Môi người này nứt nẻ, một vài cái răng đã bị gãy. Vết thương ở cổ mà giờ đã thành sẹo khiến giọng nói người này méo hẳn đi và khàn đục như người bị ngạt mũi. Lớp da nứt nẻ, vài sợi tóc bạc mỏng mảnh còn sót lại trên cái đầu trọc đã giúp tôi biết được đây là một người đàn ông và ông ta đang tuổi già.

   “Hỡi người gác cổng, hãy cho tôi vào trong.”

   “Tòa kiến trúc này không dành cho ông đâu, hãy về đi.”

   “Tòa kiến trúc này không có chỗ cho tôi nữa - Người lạ mặt nói – Nhưng tôi muốn anh biết rằng tôi cũng từng có mối liên hệ với tòa kiến trúc, từ rất lâu. Anh hãy cho tôi vào hoặc hãy giúp tôi gặp một ai đó làm việc trong tòa kiến trúc.”

   “Tôi là người gác cổng và công việc tôi là gác cổng. Xin thứ lỗi, tôi không giúp được gì.”

     Người lạ mặt lấy trong chiếc túi mang theo một chiếc hộp. Ông ta đẩy chiếc xe lăn, tiến gần về phía tôi. Tôi nhìn thấy rõ hơn những vết lở loét trên khuôn mặt ông ta.

   “Hãy giúp tôi chuyển nó vào trong. Hãy coi đây là một lời thỉnh cầu.”

   Đôi mắt ông ta mang vẻ buồn bã. Tiếng nói ông ta đứt quãng dần vì những cơn ho. Tôi nghe thấy tiếng gõ cửa bên trong và như mọi lần tôi quay ra và đẩy cánh cửa nặng nề sang một bên. Một người đàn ông đi ra. Cũng như hầu hết những người tôi đã từng gặp trong tòa kiến trúc, tất cả đều mặc một bộ đồ kín mít. Họ mặc nhiều loại áo khác nhau, với đủ loại màu sắc, phụ kiện nhưng tất cả đều phải cố định trong khuôn mẫu một trang phục kín kẽ. Họ có đeo găng tay, cổ quàng một chiếc khăn mỏng, màu sắc của mỗi loại khăn có thể giúp tôi phân biệt được giới tính từng người trong tòa kiến trúc. Thứ duy nhất ló khỏi lớp vải là cái đầu nhưng thường thì một số người chùm một lớp vải để che đi gương mặt, số khác thì đeo kính hoặc kéo chiếc mũ liền áo. Chẳng thể nhìn rõ được họ. Có nhiều người đã để đầu trần, như người đàn ông đang đứng trước mặt tôi đây nhưng tôi chẳng tài nào có thể ghi nhớ khuôn mặt đó quá lâu. Đôi mắt, cái mũi, độ tuổi hay một dấu ấn để phân biệt giữa người này với người kia tôi đều không nắm được, nhưng tôi biết những người họ là chỉ huy của tôi và tôi phải trung thành phục tùng.

     Người đàn ông trong tòa kiến trúc nhìn tôi và người lạ mặt.

   “Người này chắc hẳn không phải là khách hoặc ai đó tôi biết trong tòa kiến trúc. Và này, anh lại quên mất nhiệm vụ của mình ư.”

   “Hãy mở cửa ra, ta muốn vào trong đó! – Người lạ mặt nói, nhìn chằm chằm về phía người đàn ông vừa bước ra.”

   “Tại sao chứ! - Ông ta nói – Ngươi phải biết tòa kiến trúc không tiếp người lạ.”

     Người lạ mặt đưa chiếc hộp khi nãy ra.

   “Ta biết. Nhưng có lẽ ông cũng biết tòa kiến trúc này vốn được tạo ra vì một cộng đồng. Chiếc hộp này, xin hãy nhận lấy, mọi thứ trong đó đều là của ông, trừ những tờ giấy. Hãy làm ơn chuyển tới tầng cao nhất của tòa kiến trúc.”

     Người đàn ông trong tòa kiến trúc cầm lấy chiếc hộp. Ông ta nhìn ngắm nó hồi lâu.

   “Được thôi, ta sẽ nhận lấy nó, nhưng ta phải nói trước bây giờ thì ngươi chưa vào được đâu. Ngươi sẽ còn phải chờ.”

   “Tôi đã chờ lâu lắm rồi…”

   “Ta làm việc trong tòa kiến trúc, nhưng nói để ngươi rõ, ta ở tầng hạ. Tòa kiến trúc còn nhiều tầng lắm và ta khuyên ngươi hãy tiếp tục chờ đợi.”

Người đàn ông trong tòa kiến trúc nhìn người lạ mặt. Bốn mắt chạm nhau. Không gian im bặt. Thật khó để kết luận một sự thiện ý gì ở con người quyền uy kia vì tới lúc này khuôn mặt thực của ông ta vẫn vô định như chưa được tạo ra.

   “Được! Ta sẽ về. – Người lạ mặt nói, cặp mắt ông ta vằn lên những tia đỏ rực – Nhưng ta sẽ còn quay lại, và các ngươi nhớ là thế.” Ông ta ho vài tiếng và chiếc xe lăn đi. Cái bóng nhỏ xíu đổ dài xuống con đường rồi tắt ngóm.

   “Sao ngài không mở cửa cho con người khốn khổ đó.”

     Người đàn ông trong tòa kiến trúc vẫn đứng quay lưng về tôi. Ông ta từ từ đáp.

   “Công việc của anh là gác cổng. Anh quên rồi sao.”

   “Tòa kiến trúc này được một tập thể tạo ra, hoàn toàn không thuộc sở hữu của bất kì ai.”

   “Này người gác cổng! Anh quên mất vị trí của mình rồi đấy.” 

   “Tôi biết. Tôi là người gác cổng, nhưng xin nhớ rằng tôi cũng là người bảo vệ cho tòa kiến trúc và vì thế tôi cũng có quan hệ với nơi đây.”

     Tôi rút súng. Nòng súng hướng về người đàn ông. Ngón tay tôi giữ lấy cò. Chưa kịp kéo cò thì khẩu súng đã tan biến, trong tay tôi. Khi sờ bên hông thì con dao và chiếc kìm chích điện cũng đã biến mất. Bộ quần áo đặc dụng mà tòa kiến trúc trang bị cho tôi co dần lại và cứa vào da thịt. Các lớp vải bó quá chặt khiến tôi không di chuyển được. Phần vải phía dưới chân chùng xuống mang theo sức nặng ngàn cân. Cặp chân tôi đã không còn nằm trong sự kiểm soát của thân thể và bắt đầu trượt xuống. Đầu gối tôi lún xuống đất.

   “Anh là người gác cổng, hãy nhớ như vậy. Tôi không mong chuyện này tái diễn một lần nữa đâu.”

     Người đàn ông quay lưng lại và đi về phía cánh cổng. Ông ta đi gần tôi, đi qua tôi, đi xa tôi và vào sâu trong tòa kiến trúc. Chiếc bóng của ông ta vẫn kéo dài về phía sau, nó to lớn hơn cỡ người vốn có của ông ta. Người đàn ông này và những người khác, to lớn và quan trọng hơn trong tòa kiến trúc mỗi khi đi đều có một cái bóng dài đổ dưới chân. Đây là điều không lạ nhưng cái bóng của họ luôn lớn hơn tôi. Mỗi khi họ đi qua và vô tình tôi lọt vào chiếc bóng đó, thân thể tôi bị thu nhỏ lại. Tôi kẹt ở chiếc bóng và những vùng tối quanh chiếc bóng vẫn tiếp tục tràn ra. Chúng phủ quanh tôi và tôi bị nhấn chìm...

     Cánh cổng đóng lại dù tôi vẫn sụm gối một chỗ.

     Chiếc áo giãn ra và tôi bắt đầu cử động được. Tôi sờ bên hông, khẩu súng vẫn ở đó. Cả con dao mà tôi luôn tìm kiếm lúc trước cũng trở về bên tôi. Tôi muốn quay người lại và mở toang cổng bằng đôi tay mình nhưng tôi không tài nào nhúc nhích được. Tiếng xương vỡ cùng cơn đau thấu tim không giúp tôi quay được nửa thân người. Lớp quần áo bó lại rất chặt mỗi khi tôi gồng sức. Sức lực của tôi bị hút đi và nguồn sinh lực tràn trề mà tôi có là của bộ trang phục. Tôi không còn nhúc nhích được chân. Ngón tay đặt nơi nòng súng đang chĩa vào thái dương cũng không còn là của tôi nữa.

     Bộ trang phục tối thượng một lần nữa dịch chuyển các lớp vải và cố định tôi vào tư thế đứng thẳng người.

     Tôi nén một hơi để hét lên một tiếng thật lớn. Không chắc tiếng hét có thể di chuyển được cánh cổng nhưng nó sẽ đánh động tới ai đó đang trên đường tới đây. Tiếng hét tắc nghẹn trong cổ họng. Tôi chẳng thể phát tiết thứ âm thanh đó ra ngoài vì miệng tôi đã bị chính tay tôi bịt lại. Tay còn lại bóp lấy cuống họng tôi. Những con chữ đáng lẽ vang ra ngoài bị chặn đứng lại. Tôi đẩy thêm hơi, bàn tay đang bóp nơi cuống họng xiết chặt thêm. Hơi thở tôi bị ngăn lại. Chút sức lực cuối cùng. Tôi lấy hết hơi thở. Mắt tôi vỡ tung thành hai cột máu. Bộ quần áo vẫn bó xiết tôi lại. Không thấy được gì nữa nhưng tôi vẫn nhận thấy cơn đau từ hai hốc mắt. Cơn đau của riêng tôi, và máu tôi vẫn chảy dài theo cơn.

     Chúng kéo dài xuống mặt và sẽ bám dính lại như được vẽ từ màu mực chấm từ máu tôi.

     Bộ quần áo vặn mình. Tiếng răng rắc. Tôi được bẻ vào thế đứng thẳng. 

 

TRU SA

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 1576)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1630)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 2306)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 6325)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 6184)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13565)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 30688)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81712)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20523)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
10 Tháng Mười 202111:31 CH(Xem: 389)
Sau khi đưa một cảm ngôn về bức tranh của họa sĩ Lê Sa Long & ý kiến của nhà văn Trần Thùy Linh như một lời kêu gọi các nhà điêu khắc, họa sĩ, nhà văn, nhạc sĩ hôm nay: “DỰNG TƯỢNG ĐÀI NÀY ĐI: CUỘC “THIÊN DI” CỦA NHỮNG ĐỨA TRẺ VÀ BÀ MẸ CHƯA TỪNG CÓ TRONG LỊCH SỬ…”, nhằm góp phần miêu tả “nhân vật chính của Thời Đại, biểu tượng cho cả một dân tộc vượt lên cảnh ngộ bi kịch tìm lối thoát cho quyền sống của mình”, rất nhiều người đã ủng hộ. Nhưng cũng có không ít người lồng lên phản đối như bị “chạm nọc”, thậm chí chửi bới rất tục tĩu (xin lỗi không viết ra vì xấu hổ thay cho họ). Để trả lời họ, với tư cách là một người làm phim, tôi xin có vài suy ngẫm về NHÂN VẬT THỜI ĐẠI giúp họ tham khảo.