- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,579,856

EM VÀ MÙA XUÂN SÀI GÒN

18 Tháng Hai 20159:32 SA(Xem: 19868)


XUAN
Xuân - tranh Đặng Hiền


CON CÓ CÒN ĐỦ SỨC ĐỨNG LÊN!

 

Còn yêu Sài Gòn hay con đợi người ta

Mà sao Tết chẳng chịu về quê cho nồi bánh Tét sau hè đỏ lửa?

Hòn Kẽm Đá Dừng vẫn còn đây, con cứ về mà gục đầu vào nức nở

Nếu quá đau mà chẳng dám nói thành lời                                                          

 

Con đừng có cố cười giữa chợ đời

Đừng cố che đôi mắt húp sưng bằng mớ phấn son dày đặt

Đừng cố viết bài thơ dỗi hờn 17

Mà đêm về cắn nát gối để người ta không biết con đau

 

Con đừng cứ nhìn xa xôi

Chiều chiều đừng có ra phi trường rồi lại tự an ủi lòng rằng chắc người chưa rỗi

Nếu người yêu con thì sẽ không để con mỏi mòn đợi

Sao con cứ yêu người hơn cả bản thân con!

 

Yêu nhau có năm bảy cách vẹn tròn

Mắc chi con cứ chọn cách làm cho mình thêm héo hắt

Nếu ngày mai con biết rằng dù có đợi đến cả đời thì cũng chỉ là vô vọng

Con có còn đủ sức đứng lên?

 

Về đi con…

Về chẳng phải để Tết quê thêm tròn

Cũng chẳng để gia đình đầy tiếng cười hay nồi bánh Tét bập bùng, hũ dưa hành giòn rụm

Con về đi, về và gục vào vai quê và khóc

Rồi vục nước sông Thu rửa cho sạch đa đoan

Con còn son và tuổi cũng còn xuân

Sao phải nhận về mình dông bão

Con về đi để lòng con bớt hanh hao như nỗi nhớ con trong mắt quê giữa chiều chếnh choáng

Rồi con cứ đi và lại mỉm cười

Nhưng…

Lần này là nụ cười hạnh phúc

Con nghe.

 

KHÁNH TRINH – SG 11h49 31/01/2015

 

 

KHI SÀI GÒN CHỈ CÒN LẠI MÌNH EM

 

Anh không về, Sài Gòn cũng giận

Phố lơ ngơ chẳng nhớ phải lên đèn

Người ta đi qua quên cả chào nhau

Nên nụ cười cũng trở nên lạc lõng

Anh không về, hèn chi hôm qua, hôm kia, hôm kia kia nữa

Con hẻm quen tự dưng nỗi chứng gập ghềnh

Bầu trời đêm nay chẳng thắp nổi vì sao

Mây cũng giận, khóc oà như trẻ con lạc mẹ

Anh không về, nồi cơm chẳng thèm đầy vơi nữa

Con chim non chẳng muốn tập chuyền cành

Ly cà phê giận nên cứ lạnh tanh

Trách em sao cứ ôm khư khư một mình? Người quen đâu? Đâu mất?

Anh không về nên Sài Gòn ngày mình yêu cũng bỏ đi hết

Chỉ có em vẫn má đỏ môi hồng

Chỉ có em lang thang giữa phố đông

Tự nhấm nỗi đau ăn mòn trái tim nhiều vết nứt

Em đâu sợ cô đơn

Em cũng chẳng sợ thiếu anh

Em chỉ sợ Sài Gòn của chúng mình giận dỗi

Em vẫn bước đi như ngày mai là thoát khỏi

Nỗi nhớ anh nát lòng mà phải nhắm mắt bảo rằng không!

KHÁNH TRINH – SG 10h19’ 31/ 01/ 2015

 

 

CON KHÔNG VỀ, NGƯỜI BUỒN LẮM PHẢI KHÔNG!

 

Con không về

Lại một mùa Tết vắng con

Năm nay ai phụ Người gói bánh?

Ai ướp hũ thịt thơm lừng cho ngày Tết đầy thêm?

Ai thay con cắm lọ bông trên bàn tiếp khách?

Mớ bông sau vườn, con vẫn thường gọi đó là kỷ niệm tuổi thơ…

 

Con không về

Ai lẽo đẽo sau lưng “Chừng ni đủ rồi, nhiều làm chi, phí lắm”?

Ai càm ràm trước mặt “Răng mà tóc bạc hết ri? Trời ơi, da dẻ chi chi mà nứt còn hơn dấu chưn chim mùa cạn…”?

Ai thay con đếm ngược từng giây để nguyện cầu cho Người sống vui thêm năm nữa?

Ai thay con à ơi hử hả hứa rằng năm sau con nhất định sẽ yêu?

Rồi lại quên…

 

Năm nay

Con lại không về

Con vẫn cong môi lên với cả Sài Gòn, cả người quê, cả một nửa thế giới rằng con yêu những bước chân đi rong, con yêu cái Tết ôm gối khóc hu hu giữa Sài Gòn xa lạ

Con vẫn váy đỏ môi hồng, nghêu ngao khúc hát buốt lòng người xa xứ

“Mẹ ơi con xuân này vắng nhà…”

Rồi lại úp mặt vào đêm

 

Con không về

Nhưng Người đừng lo

Sớm mai khi Sài Gòn thức giấc

Con lại má đỏ môi hồng, đôi mắt con lại vui như con nít lên ba được nhận quà năm mới

Và đôi môi của con

Lại cong cớn với cả Sài Gòn rằng con yêu những bước đi rong...

 

Người ơi

Con lại không về

Người buồn lắm, phải không?

 

 

 

CHO NGƯỜI TÌNH KHÔNG BAO GIỜ CƯỚI

 

Em chẳng tin vào ngày người nói lời yêu

Bởi em biết ngôn từ với người cũng trôi nhanh như ly rượu nồng trong đêm vàng khói thuốc

Ta có nắm tay nhau chặt đến bao nhiêu thì cũng đến lúc phải buông tay và quay bước

Em có khóc vật vờ thì cũng phải biết tự lau khô và điểm trang môi đỏ, má hồng

Vậy nên

Em chẳng tin

Để em giữ lại chút nước mắt cho mình

Anh biết không!

Em sẽ khóc giùm cho người đàn bà thay em vướng vào anh, rồi bước đi, và khóc…

Chúng em, những người đàn bà dễ yêu và dễ khóc

Dễ bị dối lừa nhưng rất thật tâm

Anh yêu

Tàn nhẫn như vậy anh có thấy vui không?

KHÁNH TRINH – SG 28/ 01/ 2015

 

 

BỞI KHI EM NỢ SÀI GÒN

 

Người ta nói SG chẳng có mùa thu

Vậy lá vàng, gió heo may là gì anh nhỉ

Người ta nói anh cũng từng mơ mộng lắm

Mình giống nhau, nên lỡ lạc vào nhau

Người ta nói em đến sau, nhưng là đến sau khi người ta đã đeo nhẫn cưới

Nên cuối cùng em phải đi trước, trước khi người ta buông rơi chiếc nhẫn của mình

Ly vỡ, bình rơi…

Người ta nói ngày mai, ngày kia, ngày sau đó nữa

Anh sẽ về

Có thể là SG cuối thu, đầu đông hay đương xuân, khi mai vàng góc sân nho nhỏ

Có thể em vẫn ngẫn ngơ đợi anh giữa phi trường, giữa SG, giữa góc Trung Nguyên với ly capuchino lạnh ngắt

Có thể em đã nắm tay người khác

Đó là cách để em quên

Người ta nói có thể mình sẽ chạm nhau

Giữa phố, giữa kỷ niệm xưa, giữa mắt nhau hay nơi mình đã gửi một lời hò hẹn

Nghĩa là vẫn có ngày gặp lại

Nhưng người ta nói em chỉ là người đến sau

Nghĩa là em sẽ không là gì cả

Nghĩa là dẫu có muôn ngàn lần chạm mặt

Em cũng phải giả vờ xa lạ

Hoặc vô hình

Như vậy, được không anh?

 

 

NHƯ CHƯA VƯỚNG BẬN BAO GIỜ…

 

Anh về rồi anh lại đi

Bỏ lại em với những đêm dài thao thức nhớ

Bình minh còn bỡ ngỡ

Hoàng hôn đã tím môi hường

Có cần nói thêm lời xin lỗi không anh?

Hay vò nát cọng ngò, trách hoa hồng nở muộn?

Em đếm những ngón tay còn hơi ấm của anh, vội vã

Dẫu đã thuộc trăm

Có phải mình đang lừa dối nhau?...

 

Anh về rồi anh lại đi

Mẹ sẽ hỏi nhưng em đâu thể dối lừa thêm được nữa

Tuổi hăm qua mau mà lòng em cứ chùng chình không dám bước

Có phải em nên buông tay?

 

Anh đừng nói với em về ngày mai

Đừng kể những giấc mơ chỉ trong mộng ước

Em có cần khâu vá hoài, một mai khi không thể vá thêm được nữa

Anh có trở về?

Hay anh lại đi?

Em nào dám trách chi

Nếu bình minh của Sài Gòn không đẹp bằng hoàng hôn xứ người, xa lắc

Và đôi mắt em không đủ dịu dàng bằng đôi tay của chị

Thì thôi

Anh cứ đi

Như chưa vướng bận bao giờ…

 
KHÁNH TRINH

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 1112)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1180)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 1861)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 5902)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 5881)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13213)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 30123)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81244)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20264)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
24 Tháng Chín 20216:27 CH(Xem: 44)
Cây chi cây lạ lùng / Không cành cũng không lá / Toàn những thân với thân! / Mà thân thì dựng ngược / A plant that is so strangely amazing / Which has neither branches nor leaves growing / It has only body upon body growing about / And each body is growing upside down