- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,660,191

HƯƠNG VÔ HƯƠNG

18 Tháng Hai 20156:51 SA(Xem: 19228)
ChoHoa-BW


Tết thường được nhắc đến với những món ăn đặc trưng “thịt mỡ dưa hành,” và những mùi hương gây nhớ “thoảng mùi khói pháo thoảng mùi nhang.”  Nhưng mỗi đứa trẻ mang theo nó một món ăn một hình ảnh một mùi hương riêng, không hẳn giống như những gì chúng ta thường gợi nhắc.

 

Với tôi, hương Tết bắt đầu từ mùi khói củi của bếp nhà hàng xóm nấu bánh chưng.  Mượn cái tường nhà lân cận, chỗ nhà thụt ra thụt vào thành góc, má thằng Lù sẽ đặt nồi nấu bánh chưng.  Kê cái thùng phi đã được chế biến thêm 2 quai lên 3 chồng gạch, xếp bánh chưng vào, đổ nước và nổi lửa.  Nhúm một bếp củi không phải là dễ, củi ướt: không cháy, củi có mắt: không cháy, củi gỗ: mau tàn, hay gẫy.  Nhưng má thằng Lù là người đàn bà đảm đang, chỉ một loáng là lửa đã cháy ngỏn ngoẻn.  Thằng Lù phe phẩy đứng bên, chờ Bố với Má sai canh chừng nồi bánh thì kể như trúng mánh được thức đêm, nhưng má nó đã xua tay đuổi nó vào nhà.  Cái mối canh bánh chưng là của anh Hùng tôi cùng lũ bạn nhân dân tự vệ như Ba Gà, anh Ngọc, Khánh băng, Thắng Đinh tiệm (tôi quên chưa bao giờ hỏi anh ý nghĩa cái tên này).  Khi lửa đã cháy ngọt, nồi bánh bắt đầu sôi, má thằng Lù coi đồng hồ và giao lại cho anh tôi dặn dò cách châm thêm nước.  Bên cạnh cái bếp to đùng đó phải có một bếp nhỏ nấu nước sôi sẵn, để khi nồi bánh chưng cạn nước thì châm thêm vào.

 

Anh Hùng bắt đầu dạo đàn.  “Tôi thường đi đó đây…” anh hát một lèo 3, 4 bài nhạc lính, hát rất ngọt và giọng rất chuẩn, anh vẫn còn nói được giọng Bắc chứ không lai căng như lũ em.  Bây giờ đàn chuyển qua tay anh Ngọc, anh Hùng ngồi hút thuốc.  Anh Ngọc thường thích hát những bài nhạc tình nhẹ nhàng, “tôi đưa em sang sông, chiều xưa mưa rơi âm thầm…”  Anh nói giọng Nam nhưng gốc Bắc và cũng hát rất êm.  Lửa bùng tỏa hơi ấm, đã bắt đầu có than, anh Hùng sai Khánh băng đi mua bắp và khoai lang về lùi vào đống than để ăn chơi cho thơm râu!  Đám trẻ ham vui từ từ kéo vây quanh để nghe hát, để hóng mấy anh lớn cợt đùa.  Thằng Lù đứng trên ban công ngó xuống thèm thuồng, nhưng Bố nó canh nó dữ lắm, sợ nó lêu lổng nên không cho đàn đúm bao giờ (kết quả: vừa hết lớp 12 má nó phải lật đật đem trầu cau tới hỏi cô nữ sinh chung lớp vì nàng đã có bầu).

 

Đã qua một đợt củi, một đợt châm nước.  Bây giờ nhà nào cũng đã gọi con về đóng cửa tắt đèn, ban văn nghệ bánh chưng phải hạ đàn sợ bà con chửi.  Các anh bắt đầu thay phiên nhau đứng lên đi đây đi kia, đi mua cà phê thuốc lá, về qua nhà cho ông bà bô thấy mặt, v.v…  riêng anh Hùng tôi ngồi nguyên chỗ, vì nhà tôi sát vách nhà thằng Lù, ngay sau lưng nồi bánh chưng.

 

Tôi cũng phải vào nhà giắt mùng đi ngủ, nhưng không ngủ được.  Tiếng củi lách tách, tiếng các anh nói lao xao nhỏ nhỏ trong đêm vắng như một tiếng gọi, như một khoảng trời, một đời sống mà tôi không biết nên ước ao.  Mà bé như vậy thì biết cái gì là cái gì mà ước ao.  Tôi ngủ ngon lành trong cái ấm áp của khói củi, và dường như một lúc nào đó trong đêm vắng tôi thức giấc vì mùi thơm của lá tỏa ấm áp quanh xóm nhỏ. 

 

Sáng dậy, tôi chạy liền ra cửa.  Trong hơi sương sớm, khói củi chỉ còn vương nơi những tấm cạc tông che bếp, nhưng mùi lá nồng ấm trong gió thoảng.  Cả xóm như hớn hở dù bánh là của nhà thằng Lù chứ đâu phải của chung.  Mấy anh lấy một cái đòn xiên qua 2 cái quai ở miệng thùng phi để khiêng thùng bánh ra gần nắp cống chắt bớt nước và để dẹp bếp.  Má thằng Lù bắt đầu lùa 8 đứa con ra để sai vặt, nói cho đúng chỉ có 4 đứa lớn sai được, còn thì lấn quấn một lát bị đuổi vào hết.  Má thằng Lù dọn trống cái hè trước, trải giấy báo thật dầy, rồi bắt đầu xếp bánh ra thành 2 dẫy dài.  Bà đè một cánh cửa lên rồi sai thằng Lù và em nó xếp mấy khối gạch vuông lên tấm cửa để ép bánh chưng cho ra hết nước.  Đến chiều, chị Thảo chị Hương ra gỡ giây lạt sũng nước từ những chiếc bánh mới luộc xong.  Bây giờ tới phiên bà Thảo “lao động.”  Bà lấy mớ giây lạt đã cắt sẵn và ngâm mềm cột mỗi cái bánh bốn sợi dây trông tươi mới và vuông vức như một bàn cờ tí hon; bánh chưng thoắt chốc như có tấm áo mới, mỗi cái bánh hoàn tất để qua một bên đều như là một đóa hoa mai nở trong mắt tôi.  Tôi ước ao nhà mình cũng gói bánh nấu bánh như nhà thằng Lù, trong khi nó thì dành môi ra vẻ ngao ngán.

 

Nó chẳng ngao ngán được lâu, tôi chẳng bao giờ được thỏa nguyện, vì chỉ qua một năm là qua một chặng khốc liệt của chiến tranh.  Nhà nào cũng lo lắng bị pháo kích phải tản cư thì còn ai đâu để gói bánh.  Tôi chẳng còn được ngửi mùi khói củi, mùi lá nấu chín, mùi nồng ấm của bếp lửa trong đêm khuya… 

 

Nhưng đang tuổi lớn người ta chóng quên vì có quá nhiều thứ mở ra trước mắt, tôi đã bước vào trung học và đã biết săm soi rộn ràng ngày Tết được sắm quần áo mới.  Má dắt lũ chúng tôi đi mua vải ở chợ Bến Thành.  Giá cả đắt đỏ, má kỳ kèo so đo trả giá từ chút, đi từ sáng 10 giờ đến trưa vẫn chưa mua được một món hàng, vì khi mua là phải mua cho cả 2 đứa con gái giống nhau, 2 đứa con trai giống nhau; một thói quen đáng yêu (nhưng tôi không thích mấy) của mấy ông bà già xưa là cho con ăn mặc đồng loạt _ không biết vì mua nhiều tiết kiệm được chút ít hay vì thích “cúc vạn thọ” ?

 

Mua xong được vải may quần áo thì tôi đã ngửi được mùi chiếc áo mới còn đang nằm ở tiệm may!!!  Ngày ngày đi học về tôi đều phải lượn qua nhà may Thành đầu chợ Vườn Chuối chỉ để ngó vào tiệm dõi xem bà chủ hay các cô thợ may có ai đang cầm đang cắt tấm áo má đã gửi may cho chúng tôi; nhưng tôi luôn thất vọng, năm này qua năm khác, chả bao giờ bắt gặp được món quà Tết của mình đang lúc thành hình.  Đến ngày thử áo, tôi ngõm ngọi đợi chờ, mong sao chóng xong bữa cơm chiều để nhắc má dẫn ra tiệm lấy áo.  Đi bên má tôi thầm cầu sao má hài lòng không bắt thợ sửa đi sửa lại, để tôi được ôm về tấm áo mới mà hít hà.

 

Tấm áo mới, riêng với mũi tôi vẫn còn mang hương vải mới chưa một lần giặt, và dường như thoảng chút mùi phấn vạch, dù tôi vẫn cho rằng phấn thợ may chả có mùi gì.  Tôi sung sướng đặt gói áo bên cạnh lúc ngủ, vì ngày mai má sẽ bảo giặt đi cho hết lằn phấn, xem vải có rút không vân vân…  Khi tấm áo đã ủi xong chờ ngày mùng một Tết mới được mặc, dù lòng tôi vẫn rộn ràng nô nức, mùi hương Tết bỗng đã có chút lạt phai. 

 

Mỗi năm qua đi mỗi lạt lẽo.  Bây giờ ở đây, cây trái to dòn ngon mắt mà hương vị chả như xưa, bánh mứt đủ đầy mà hương Tết dường chỉ là hơi gió lạnh, tôi  thèm ước sao cái mùi khói cay nồng năm cũ, tôi thèm mùi vải của tấm áo mới hàng năm.  Hương kỷ niệm hình như chỉ là thứ hương vô hương trong lòng.

 

 

Lưu Na

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Mười Một 202110:17 CH(Xem: 1271)
CUỘC CÁCH MẠNG 1/11/1963 / Vũ Ngự Chiêu / Trích: Ngô Đình Nhu, Chết Khó Nhắm Mắt
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 7114)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 14411)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 31950)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 82681)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 21268)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
08 Tháng Mười Hai 202110:17 CH(Xem: 69)
Chúng tôi xin được lấy tên thiên tiểu luận đặc sắc Một cuốn kinh về tình thương [12, tr.139] của nhà văn Lưu Trọng Lư làm nhân lõi cho nội dung bài viết này. Người viết vốn được mệnh danh là “nhà văn của tình thương” từ đầu những năm 30 của thế kỷ trước đã “chiêu tuyết” cho nhân vật từng bị phán xét là “đĩ đứng đầu” bằng những lời nồng nhiệt, đặc biệt nhận định Thúy Kiều là “kẻ có một mối từ tâm lớn” [13, tr.1690]. Và suốt từ khi Truyện Kiều ra đời đến nay, tình thương hay “mối từ tâm lớn” toát ra từ kiệt tác này cùng những giá trị nội dung tư tưởng nhiều mặt của nó đã/ đang được bàn luận sôi nổi, với nhiều lý thuyết cũ - mới chắc không bao giờ chấm dứt…
08 Tháng Mười Hai 20219:36 CH(Xem: 53)
Vũ trụ này đâu chỉ có em / nên chi trăng vẫn rớt bên thềm / và gió vẫn nằm trên bậu cửa / hoa vẫn muộn thầm. đêm, rất đêm
08 Tháng Mười Hai 20219:20 CH(Xem: 73)
Tôi vừa gặp một người có ít nhiều liên quan đến quãng đời xưa cũ, xa lăng lắc của mình. Đang đứng tần ngần nhìn các cây thông Giáng Sinh bằng nhựa đủ kiểu, đủ cỡ bày trong một cửa tiệm, chưa biết lựa cây nào thì tôi nghe có tiếng người hỏi từ phía sau: – Xin lỗi, cậu là cậu Việt, phải không? Tôi hơi giật mình, quay lại, thấy một người đàn ông đứng tuổi mà trước đây tôi chưa bao giờ gặp. – Dạ phải. —Tôi e dè đáp. – Tôi hơi đường đột, cậu bỏ qua cho. —Người đàn ông nói tiếp— Tôi là Nhơn, em của ông Quới, trung sĩ Quới ngày trước làm chung chỗ với ông thân của cậu.
08 Tháng Mười Hai 20219:13 CH(Xem: 49)
một ngày nắng qua vườn em hái lá / trên cành cây hoa trái rụng hà phương / màu da trắng đã dầm mưa dãi nắng / cho tay anh về trải chiếu lót giường