- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,585,635

Duyên Xưa

02 Tháng Mười Một 20143:01 SA(Xem: 20993)
lopez
Photo by Lopez


Tôi đã tự hứa với mình bao nhiêu lần. Là sẽ viết về cái duyên xưa của người xưa trước khi ký ức dòn tan, đậm đà ấy nhạt phai dần, tan dần từng mảnh ray rứt bé tí một, như mùi hương hoa trong khu vườn cũ hư hao dần và rưng rức theo gió bay đi tan vào trời xa...

Như từ khi bà ngoại tôi ra đi, mùi hương duyên dáng ấy , lỏng lẻo dần trong ký ức của tôi và tuột dần qua từng kẻ quên quên nhớ nhớ chập chờn của tôi, rồi heo hút mất. Tôi sợ lắm cảm giác ấy, cái hình bóng yêu kiều bé nhỏ, giòn tan, chân chất mà mượt mà ấy bỏ tôi đi một ngày.

Và tôi không còn là tình nhân của ngày cũ nữa.

Cảm giác ấy dù tôi sợ biết bao nhiêu ngày nó đến, đã đến gần lắm rồi, trước khi tôi kịp viết cho cạn hết.

Như anh tình nhân bị bỏ rơi, con mắt đau đớn, con tim xót xa nhìn hộc tủ lưu giữ ký ức của người yêu cũ hao gầy từng ngày một. Điều đau đớn nhất, anh chàng rưng rức nói, không phải là cơn đau nhói ngày em nói chúng ta phải chia tay, mà là khi anh chợt nhận ra ký ức về em, về nổi đau ấy, về nổi nhớ cồn cào xưa ấy, về niềm vui sướng say mê điên dại của một lần gặp mặt, một cái nắm tay, lần va chạm đầu tiên, nụ hôn lên mắt đầu tiên, cảm giác thần tiên ấy cùng với những cơn đau bóp nghẹt hơi thở khi mất em....không còn nữa. Và ngày anh nhận ra anh không còn nhớ em nữa, không còn nhớ về chúng ta nữa. Ngày ấy rất nhiều thứ trong anh sẽ chết đi rồi cùng với tình xưa chết đi!

Mà tôi đã đi xa lắm rồi.

Thiệt tình tôi đã từng là tình nhân của ngày cũ , của những người rất cũ, những thứ cũ kỹ. Gọi là duyên xưa.

Khi bà ngoại tôi còn sống, bà hay nói, tôi là con bé dễ ưa, ưa nhìn. Bây giờ không còn ai khen tôi như vậy nữa. (Có lẻ vì tôi không còn dễ ưa nữa rồi. Tôi khó ưa!)  Chỉ mỗi từ ưa nhìn ấy làm tôi mê mẩn!  Mà đã lâu lắm rồi, tôi chẳng còn nghe ai xài từ ưa nhìn dung dị mà ngọt ngào đó nữa.  Như nhan sắc cái bông hoa dừa cạn mọc bừng bừng dưới chân hiên gạch tàu, một sớm mai nào ngả ngớn nở tràn trề trên lối đi, khoe màu sắc hồng non nõn hay trắng nhởn nhơ tươi hơn hớn giữa rêu xanh cổ mốc. Ưa nhìn là như vậy đó!

Nói đến duyên xưa, không thể không nhớ về cái duyên dáng lặng lẻ, đằm thắm , sâu thẵm của người đàn bà xưa.

Cái duyên lẩn quất trong nếp áo vải thô, nhuộm tuyền một màu mộc của đất nâu, xanh cây cỏ hay trắng tinh khôi, dung dị mà gần gũi như chạm vào hơi thở hôi hổi của sự sống.

Cái duyên thanh tao vì đức khiêm nhường, tính chịu đựng. Ẩn trong nét cười che nửa miệng, mắt liếc nhin quay đi còn có đuôi, nét mày thanh nhã đen ngời ngợi và môi tươi cắn chỉ ??? không tô son.

Cái duyên dai dẵng, bền bỉ mà sâu sắc vì không tự thân phơi bày mà lẳng lặng tỏa hương, thứ mùi hương của trà ủ trong nhụy sen qua đêm, của hoa lài chum' chím nụ mà thấm vào không gian trời đất, của hoa lá cỏ cây đến độ thắm là say lòng người.

Tôi nhớ cái duyên đó qua hình ảnh bà ngoại. Khi bà ngoại mất đi rồi, mùi duyên xưa còn phảng phất mãi trong ngôi nhà cũ, đến mười năm sau tôi quay trở lại ,hầu như chưa dễ phai tàn.

Duyên của người xưa là vậy, phảng phất mà lâu bền, như chính bản thân đã là thời gian vĩnh cữu. Vạn vật thì mất còn, cái hồn của thời gian là chuyển động muôn đời và bất di bất dịch.

Mãi tôi vẫn không hiểu, người đàn bà duyên dáng ngần ấy, yêu kiều đến vậy, sao không thể giữ được ông ngoại tôi, người đàn ông của bà cho riêng mình. Người đàn bà hấp dẫn như thế, sao có thể cam lòng đi cưới vợ bé cho chính chồng mình, mà không chỉ một lần trong đời làm vợ của bà.

Sao rồi , dần dà tôi mới hiểu ra, bà chẳng cần giữ một người đàn ông cho chính bà, vật gì không thể giữ, hẳn là không nên giữ, thứ gì không phải của mình, không thuộc về mình, rồi sẽ không là của mình. Duyên là như thế, phận là như thế. Tuân theo duyên phận, cũng là một phần của đức khiêm cung, trong vẻ đẹp duyên dáng của người xưa.

Tiếc là con cháu về sau này, chẳng ai giữ được đức tính nhân hậu, nhuần nhã đó của bà. Các dì tôi hối hả, đau đáu tìm mọi cách để giữ chân người đàn ông của mình, người chồng cho gia đình, người cha cho những đứa con... hậu quả là những cuộc chạy trốn , ra đi, từ ly và đuổi bắt ngày càng trở nên vội vã và gay gắt sắt cạnh hơn.

Mẹ tôi kể bà ngoại chưa bao giờ tỏ ra buồn khổ khi ông tôi tiếp tục những cuộc ra đi và phiêu lưu của ông. Bà cũng không tỏ ra mừng rỡ hay cuống cuồng níu giữ khi ông tôi quay về. Góc vườn có hồ sen, chốn bình an u nhã. Là nơi ông tôi lẳng lặng quay về sau những cuộc vui ồn ào mệt mỏi. Cuối vườn là bờ ao xanh ngắt màu bèo, bên trên là cầu tre uốn khúc vài thân lan dại, là nơi lưu lại nắng chiều, nơi ông buông thả tấm thân mỏi mệt. Có vài lần bà gội đầu thả tóc bên bờ ao hong khô, ông tôi ngồi một bên, thong thả cầm quạt nan đong đưa khe khẽ. Tôi hiểu đó chính là cái duyên thầm lặng, tình tứ thu giữ linh hồn một người đã từ giã thú phong trần.

Tôi nhớ đến cái duyên thắm đỏ khi bà tôi nghiện trầu.

Bà duyên từ chiếc túi lỉnh kỉnh đựng đồ nghề ăn trầu.  Bộ đồ nghề nhỏ nhắn bằng bạc khắc hoa văn tinh xảo như đồ hàng của con nít, nào là bình vôi có quai hình chùm cau, ống vôi nhỏ xíu có dây xà tích đeo cầu kỳ, cối giã trầu và cái ống ngoáy nhọn chĩa ba, con dao bổ cau ngắn chỉ bằng ngón tay mà bén ngót, đến cái ống nhổ loe miệng cũng trổ khảm cầu kỳ.

Và duyên đến cả cách têm trầu . Từ cách bà chọn trái cau ngon cân hạt, loại lá trầu bánh tẻ tươi mởn, để tỉa thành hình cánh phượng mời khách quý hay cánh kiến, cánh quế , mũi mác để đơm trên bàn thờ . Tôi hay luẩn quẩn bên bà, ngẹo cổ say sưa ngắm bà tỉ mẫn, cầu kỳ têm miếng trầu, quẹt vôi vào lá trầu, quấn thêm vỏ quạch, vỏ quế, vỏ chay đã giã nát, và nhón bỏ vào miệng đầy tao nhã. Và say cả mùi hương cay cay say nồng của vôi, của cau và trầu lá tỏa ra từ người bà. Cái mùi hương làm người ta sinh ra nghiện ngập, nửa nhớ, nửa lỡ quên, con mắt lim dim, chân phải đi tìm lạ lẫm.

Duyên trầu là thế!

Còn bao duyên dáng khác không thể kể hết từ trong nét đi nhẹ nhõm, kiểu ngồi ý tứ, dịu dàng mà không e dè sượng sùng. Từ trong mắt nhìn trong trẻo thẳng băng mà không táo bạo sỗ 43sàng. Từ trong miệng cười tươi thắm, mềm mại mà không đong đưa lả lơi. Từ trong duyên nói năng nhỏ nhẹ mềm mỏng từ tốn mà như lạt mềm buộc chặt, ở bên cạnh thì gần gụi thu hút mà khi xa lại nhớ nhung bỗi hỗi bồi hồi thắt lòng thắt dạ chỉ muốn quay về...

Duyên người, duyên nhân cách là thế!

Sau này rồi, con cháu dần dần mai một, chẳng ai còn giữ được chút nét đằm thắm xưa của bà. Cái tinh thần của hoa mai, cốt cách trong trắng như tuyết trong thơ xưa chỉ còn tìm thấy trong hơi xưa, thảng hoặc phảng phất như mùi thơm phấn sáp vùi dưới đáy rương, trang sức ủ trong hộp gỗ khảm trai , một ngày bất chợt ùa ra hương thơm một lần ngây ngất rồi đột ngột tàn phai ngay.

Đó là tôi sáng nay, chạm tay vào chiếc hộp cũ, qua lần vải nhung đã gần mục, nghe mùi hương thoang thoảng Chanel No. 5 gây gây xưa, vài thỏi phấn nụ không còn màu hường, chiếc sáp môi đã phai mùi son thắm... Bất chợt thấy loảng lênh vì tay níu không kịp một làn hương mỏng manh, vụt thoát lên trời.

Và tan vào không trung. Rồi mất hẳn.

UYÊN LÊ

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 1585)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1630)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 2306)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 6328)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 6188)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13567)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 30694)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81716)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20525)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
10 Tháng Mười 202111:31 CH(Xem: 397)
Sau khi đưa một cảm ngôn về bức tranh của họa sĩ Lê Sa Long & ý kiến của nhà văn Trần Thùy Linh như một lời kêu gọi các nhà điêu khắc, họa sĩ, nhà văn, nhạc sĩ hôm nay: “DỰNG TƯỢNG ĐÀI NÀY ĐI: CUỘC “THIÊN DI” CỦA NHỮNG ĐỨA TRẺ VÀ BÀ MẸ CHƯA TỪNG CÓ TRONG LỊCH SỬ…”, nhằm góp phần miêu tả “nhân vật chính của Thời Đại, biểu tượng cho cả một dân tộc vượt lên cảnh ngộ bi kịch tìm lối thoát cho quyền sống của mình”, rất nhiều người đã ủng hộ. Nhưng cũng có không ít người lồng lên phản đối như bị “chạm nọc”, thậm chí chửi bới rất tục tĩu (xin lỗi không viết ra vì xấu hổ thay cho họ). Để trả lời họ, với tư cách là một người làm phim, tôi xin có vài suy ngẫm về NHÂN VẬT THỜI ĐẠI giúp họ tham khảo.