- Tạp Chí Hợp Lưu P.O.BOX 8782 Fountain Valley, CA 92728-9809 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,433,207

Duyên Xưa

02 Tháng Mười Một 20143:01 SA(Xem: 15765)
lopez
Photo by Lopez


Tôi đã tự hứa với mình bao nhiêu lần. Là sẽ viết về cái duyên xưa của người xưa trước khi ký ức dòn tan, đậm đà ấy nhạt phai dần, tan dần từng mảnh ray rứt bé tí một, như mùi hương hoa trong khu vườn cũ hư hao dần và rưng rức theo gió bay đi tan vào trời xa...

Như từ khi bà ngoại tôi ra đi, mùi hương duyên dáng ấy , lỏng lẻo dần trong ký ức của tôi và tuột dần qua từng kẻ quên quên nhớ nhớ chập chờn của tôi, rồi heo hút mất. Tôi sợ lắm cảm giác ấy, cái hình bóng yêu kiều bé nhỏ, giòn tan, chân chất mà mượt mà ấy bỏ tôi đi một ngày.

Và tôi không còn là tình nhân của ngày cũ nữa.

Cảm giác ấy dù tôi sợ biết bao nhiêu ngày nó đến, đã đến gần lắm rồi, trước khi tôi kịp viết cho cạn hết.

Như anh tình nhân bị bỏ rơi, con mắt đau đớn, con tim xót xa nhìn hộc tủ lưu giữ ký ức của người yêu cũ hao gầy từng ngày một. Điều đau đớn nhất, anh chàng rưng rức nói, không phải là cơn đau nhói ngày em nói chúng ta phải chia tay, mà là khi anh chợt nhận ra ký ức về em, về nổi đau ấy, về nổi nhớ cồn cào xưa ấy, về niềm vui sướng say mê điên dại của một lần gặp mặt, một cái nắm tay, lần va chạm đầu tiên, nụ hôn lên mắt đầu tiên, cảm giác thần tiên ấy cùng với những cơn đau bóp nghẹt hơi thở khi mất em....không còn nữa. Và ngày anh nhận ra anh không còn nhớ em nữa, không còn nhớ về chúng ta nữa. Ngày ấy rất nhiều thứ trong anh sẽ chết đi rồi cùng với tình xưa chết đi!

Mà tôi đã đi xa lắm rồi.

Thiệt tình tôi đã từng là tình nhân của ngày cũ , của những người rất cũ, những thứ cũ kỹ. Gọi là duyên xưa.

Khi bà ngoại tôi còn sống, bà hay nói, tôi là con bé dễ ưa, ưa nhìn. Bây giờ không còn ai khen tôi như vậy nữa. (Có lẻ vì tôi không còn dễ ưa nữa rồi. Tôi khó ưa!)  Chỉ mỗi từ ưa nhìn ấy làm tôi mê mẩn!  Mà đã lâu lắm rồi, tôi chẳng còn nghe ai xài từ ưa nhìn dung dị mà ngọt ngào đó nữa.  Như nhan sắc cái bông hoa dừa cạn mọc bừng bừng dưới chân hiên gạch tàu, một sớm mai nào ngả ngớn nở tràn trề trên lối đi, khoe màu sắc hồng non nõn hay trắng nhởn nhơ tươi hơn hớn giữa rêu xanh cổ mốc. Ưa nhìn là như vậy đó!

Nói đến duyên xưa, không thể không nhớ về cái duyên dáng lặng lẻ, đằm thắm , sâu thẵm của người đàn bà xưa.

Cái duyên lẩn quất trong nếp áo vải thô, nhuộm tuyền một màu mộc của đất nâu, xanh cây cỏ hay trắng tinh khôi, dung dị mà gần gũi như chạm vào hơi thở hôi hổi của sự sống.

Cái duyên thanh tao vì đức khiêm nhường, tính chịu đựng. Ẩn trong nét cười che nửa miệng, mắt liếc nhin quay đi còn có đuôi, nét mày thanh nhã đen ngời ngợi và môi tươi cắn chỉ ??? không tô son.

Cái duyên dai dẵng, bền bỉ mà sâu sắc vì không tự thân phơi bày mà lẳng lặng tỏa hương, thứ mùi hương của trà ủ trong nhụy sen qua đêm, của hoa lài chum' chím nụ mà thấm vào không gian trời đất, của hoa lá cỏ cây đến độ thắm là say lòng người.

Tôi nhớ cái duyên đó qua hình ảnh bà ngoại. Khi bà ngoại mất đi rồi, mùi duyên xưa còn phảng phất mãi trong ngôi nhà cũ, đến mười năm sau tôi quay trở lại ,hầu như chưa dễ phai tàn.

Duyên của người xưa là vậy, phảng phất mà lâu bền, như chính bản thân đã là thời gian vĩnh cữu. Vạn vật thì mất còn, cái hồn của thời gian là chuyển động muôn đời và bất di bất dịch.

Mãi tôi vẫn không hiểu, người đàn bà duyên dáng ngần ấy, yêu kiều đến vậy, sao không thể giữ được ông ngoại tôi, người đàn ông của bà cho riêng mình. Người đàn bà hấp dẫn như thế, sao có thể cam lòng đi cưới vợ bé cho chính chồng mình, mà không chỉ một lần trong đời làm vợ của bà.

Sao rồi , dần dà tôi mới hiểu ra, bà chẳng cần giữ một người đàn ông cho chính bà, vật gì không thể giữ, hẳn là không nên giữ, thứ gì không phải của mình, không thuộc về mình, rồi sẽ không là của mình. Duyên là như thế, phận là như thế. Tuân theo duyên phận, cũng là một phần của đức khiêm cung, trong vẻ đẹp duyên dáng của người xưa.

Tiếc là con cháu về sau này, chẳng ai giữ được đức tính nhân hậu, nhuần nhã đó của bà. Các dì tôi hối hả, đau đáu tìm mọi cách để giữ chân người đàn ông của mình, người chồng cho gia đình, người cha cho những đứa con... hậu quả là những cuộc chạy trốn , ra đi, từ ly và đuổi bắt ngày càng trở nên vội vã và gay gắt sắt cạnh hơn.

Mẹ tôi kể bà ngoại chưa bao giờ tỏ ra buồn khổ khi ông tôi tiếp tục những cuộc ra đi và phiêu lưu của ông. Bà cũng không tỏ ra mừng rỡ hay cuống cuồng níu giữ khi ông tôi quay về. Góc vườn có hồ sen, chốn bình an u nhã. Là nơi ông tôi lẳng lặng quay về sau những cuộc vui ồn ào mệt mỏi. Cuối vườn là bờ ao xanh ngắt màu bèo, bên trên là cầu tre uốn khúc vài thân lan dại, là nơi lưu lại nắng chiều, nơi ông buông thả tấm thân mỏi mệt. Có vài lần bà gội đầu thả tóc bên bờ ao hong khô, ông tôi ngồi một bên, thong thả cầm quạt nan đong đưa khe khẽ. Tôi hiểu đó chính là cái duyên thầm lặng, tình tứ thu giữ linh hồn một người đã từ giã thú phong trần.

Tôi nhớ đến cái duyên thắm đỏ khi bà tôi nghiện trầu.

Bà duyên từ chiếc túi lỉnh kỉnh đựng đồ nghề ăn trầu.  Bộ đồ nghề nhỏ nhắn bằng bạc khắc hoa văn tinh xảo như đồ hàng của con nít, nào là bình vôi có quai hình chùm cau, ống vôi nhỏ xíu có dây xà tích đeo cầu kỳ, cối giã trầu và cái ống ngoáy nhọn chĩa ba, con dao bổ cau ngắn chỉ bằng ngón tay mà bén ngót, đến cái ống nhổ loe miệng cũng trổ khảm cầu kỳ.

Và duyên đến cả cách têm trầu . Từ cách bà chọn trái cau ngon cân hạt, loại lá trầu bánh tẻ tươi mởn, để tỉa thành hình cánh phượng mời khách quý hay cánh kiến, cánh quế , mũi mác để đơm trên bàn thờ . Tôi hay luẩn quẩn bên bà, ngẹo cổ say sưa ngắm bà tỉ mẫn, cầu kỳ têm miếng trầu, quẹt vôi vào lá trầu, quấn thêm vỏ quạch, vỏ quế, vỏ chay đã giã nát, và nhón bỏ vào miệng đầy tao nhã. Và say cả mùi hương cay cay say nồng của vôi, của cau và trầu lá tỏa ra từ người bà. Cái mùi hương làm người ta sinh ra nghiện ngập, nửa nhớ, nửa lỡ quên, con mắt lim dim, chân phải đi tìm lạ lẫm.

Duyên trầu là thế!

Còn bao duyên dáng khác không thể kể hết từ trong nét đi nhẹ nhõm, kiểu ngồi ý tứ, dịu dàng mà không e dè sượng sùng. Từ trong mắt nhìn trong trẻo thẳng băng mà không táo bạo sỗ 43sàng. Từ trong miệng cười tươi thắm, mềm mại mà không đong đưa lả lơi. Từ trong duyên nói năng nhỏ nhẹ mềm mỏng từ tốn mà như lạt mềm buộc chặt, ở bên cạnh thì gần gụi thu hút mà khi xa lại nhớ nhung bỗi hỗi bồi hồi thắt lòng thắt dạ chỉ muốn quay về...

Duyên người, duyên nhân cách là thế!

Sau này rồi, con cháu dần dần mai một, chẳng ai còn giữ được chút nét đằm thắm xưa của bà. Cái tinh thần của hoa mai, cốt cách trong trắng như tuyết trong thơ xưa chỉ còn tìm thấy trong hơi xưa, thảng hoặc phảng phất như mùi thơm phấn sáp vùi dưới đáy rương, trang sức ủ trong hộp gỗ khảm trai , một ngày bất chợt ùa ra hương thơm một lần ngây ngất rồi đột ngột tàn phai ngay.

Đó là tôi sáng nay, chạm tay vào chiếc hộp cũ, qua lần vải nhung đã gần mục, nghe mùi hương thoang thoảng Chanel No. 5 gây gây xưa, vài thỏi phấn nụ không còn màu hường, chiếc sáp môi đã phai mùi son thắm... Bất chợt thấy loảng lênh vì tay níu không kịp một làn hương mỏng manh, vụt thoát lên trời.

Và tan vào không trung. Rồi mất hẳn.

UYÊN LÊ

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
04 Tháng Giêng 20205:40 CH(Xem: 1367)
Những tư liệu về thuở thiếu thời của Petrus Key đầy chi tiết trái ngược nhau. Năm 1958, Viên Đài & Nguyễn Đồng cho rằng thân phụ Trương Vĩnh Ký là “Lãnh binh Truơng Chánh Thi,” chết năm 1845 trong khi tùng sự ở Nam Vang (Bách Khoa [Saigon], số 40, [1/9/1958], tr. 43); năm 1846 mẹ (Nguyễn Thị Châu) ủy thác cho một giáo sĩ người Pháp có tên Việt là “cố Long” (tr. 44); năm 1847, Nguyễn Phước Thời (1847-1883), niên hiệu Tự Đức, lên ngôi, cấm đạo gắt gao phải chạy sang Cao Miên [Kampuchea]; năm 11 tuổi nói được 5 thứ tiếng (tr. 44); năm 1852 [sic] được cố Long hướng dẫn sang Đại chủng viện Penang, và ghé qua Sài Gòn gặp mẹ được vài giờ (tr. 44). Tại Penang học tiếng Anh, Nhật, Ấn (tr. 45). Năm 1858 mẹ chết, về Cái Mơn thọ tang. Ngày 28/12/1860 [sic], được Giám mục Dominique Lefèbvre giới thiệu “giúp việc cho Đại úy thủy quân” [sic] Jauréguiberry (tr. 45). Chữ “capitaine” của Pháp ở đây là hạm trưởng, không phải “đại úy” như quân chủng bộ binh.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 4883)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
31 Tháng Ba 20207:18 CH(Xem: 566)
NGÔ THẾ VINH Lời Dẫn Nhập: Giáo sư Phạm Hoàng Hộ sau khi hoàn tất bộ sách đồ sộ “Cây Cỏ Việt Nam” mà Giáo sư gọi là “công trình của đời tôi" và vào mấy năm cuối đời, như một Di Chúc, Giáo sư Phạm Hoàng Hộ đã đề tặng toàn sự nghiệp ấy cho: “Những ai còn sống hay đã chết trong tù vì tháng Tư năm 1975 đã quyết định ở lại để tiếp tục dâng góp cho đất nước. Tặng giáo sư Nguyễn Duy Xuân nguyên viện trưởng Đại Học Cần Thơ, mất ngày 10/XI/1986 tại trại Cải Tạo Hà-Nam-Ninh. Tặng hương hồn những ai trên biển Đông đã chết nghẹn ngào”.
30 Tháng Ba 20206:04 CH(Xem: 510)
Em hớ hênh thèm một miếng thương / Để anh dáo dát đụng chân giường / Ngoài kia dẫu dịch tràn như sóng / Anh vẫn chết chìm trong mắt em. /
30 Tháng Ba 20205:57 CH(Xem: 391)
tháng hai, tháng ba ta trở về / chiều đi lên đồi nghe mùi của đất bốc lên thoang thoảng / lá vây quanh và mây xanh trên đầu / mớ ký ức vẽ hình vòng cung /
28 Tháng Ba 20206:12 CH(Xem: 751)
Ban đầu, ông thấy người gai gai, sốt, chán ăn. Bụng bảo dạ, nhẽ mình lao động hơi quá sức. Chả là vừa tập Gym hồi đêm về sáng trên máy bay với Hải Yến xong, thì tối hôm đó lại về sân hàng chiếu ở Times city thi đấu cả đêm. Bắt buộc phải cả đêm, bởi nếu không thì khó mà sống với phòng nhì đang kỳ lửa nồng được. Dù ông biết thân trước khi lâm trận, đã viện đến bao nhiêu sự trợ giúp, ngay cả từ lúc mới xuống sân bay kia. Thế nên đêm đầu về nhà cũng làm cho em Thuận mãn nguyện. Những đêm sau thì phải cố, cũng qua bài. Gặp mặt Hội 3G, tay bắt mặt mừng ôm hôn thắm thiết, mừng công trình rực rỡ để đời đã hoàn thành. Mừng cú tuyệt tác one in hole trên chín tầng mây, thật là độc nhất vô nhị! Nhưng mấy hôm tiếp theo đi họp hành, tiệc tùng chiêu đãi nhiều thấy mệt mỏi. Càng ngày càng thấy người ốm tệ. Sốt, ho, khó thở... Hay là nhiễm cúm virus corona? Em Thuận hoảng hốt vội gọi xe đưa vào viện khám. Xe đưa ông Nam vừa đi thì cũng có xe khác đến đưa ngay cả hai mẹ con đi cách ly chống dịch.
26 Tháng Ba 202010:54 CH(Xem: 495)
Raymond Clevie Carver Jr. sinh ngày 25 tháng Năm, 1938, là tác giả Hoa Kỳ chuyên về truyện ngắn và thơ; người được xem như một trong những nhà văn lớn của nước Mỹ. Các tác phẩm chính của Carver gồm có: Will You Please Be Quiet, Please? (1976), Furious Seasons and other stories (1977), What We Talk About When We Talk About Love (1981), Cathedral (1983), Elephant (1988), Where I'm Calling From: New & Selected Stories (1988), Short Cuts: Selected Stories (1993), Collected Stories (2009).
25 Tháng Ba 202010:33 CH(Xem: 494)
Ơi bạn ta / Trong mỗi căn phòng cách ly / Hãy quán chiếu về sự chết / Hãy mở cánh cửa thâm u đã từng khóa chặt / Hãy mĩm cười về phía biển xanh / Sóng vẫn chập chùng pháp âm vô lượng nghĩa.
25 Tháng Ba 20209:32 CH(Xem: 546)
Lúc này, bên những vết tích còn lại của bản Thái hoang tàn, Cư có cảm tưởng lạc vào nơi từng ghi dấu sự tích kể về cô gái con tạo bản đã héo hon mà chết vì mong nhớ người yêu; nhưng mọi người không sao đem nổi xác nàng ra khỏi nhà, bởi hồn nàng quyết không chịu rời đi. Bản bị hồn ma ám, không ai dám ở. Còn chàng trai nghèo thất tình, khi trở về đã ôm ấp nàng suốt bảy ngày đêm mà không biết đó là thi thể giá lạnh, giữa cái bản vắng tanh...
25 Tháng Ba 20209:25 CH(Xem: 616)
Đêm đêm, nhất là những đêm trăng sáng, thỉnh thoảng có những “sinh hoạt” gì đó tôi cũng chẳng biết. Và thỉnh thoảng, có những đoàn quân rất đông người với bao nhiêu là súng ống đạn dược, kéo về trong một đêm, rồi sáng sớm hôm sau họ lại lên đường. Chắc là đánh nhau ở đâu đó. Tôi nghe loáng thoáng cha mẹ tôi nói là bộ đội chủ lực gì gì đó.