- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Văn Học Miền Nam Điều Sót Lại

26 Tháng Chín 20143:07 SA(Xem: 74486)

SachXua- Luu Na

Một phút một đời - Sống mới xuất bản 1972


 

Tôi đến Mỹ đầu tuổi đôi mươi.  Tôi đã lao vào một cuộc phiêu lưu, đã hứng lấy những kinh hoàng không ai tưởng tượng được, để bắt đầu một cuộc đời mới với cái vạ tuyệt thông trùm phủ lên tất cả mọi người dân Việt lưu lạc: tuyệt lối về, đoạn dứt tình thân.  Dưới chân không còn đất, chung quanh không còn người, chỉ còn mảnh trăng cũ thì cũng chỉ là trăng của nhà ai.  Trong nỗi bơ vơ thất lạc, còn cứu cánh nào hơn là tìm lại chính mình.  Mà biết đâu tìm, quanh tôi chỉ là nỗi trống.  Chỉ còn một sợi chỉ mỏng manh _ đó là tiếng Mẹ, những con chữ.  Tôi lao vào đống chữ còn sót, và thấy…

 

 

 

Thấy tôi

 

 

Tôi thấy tôi những ngày thơ dại, 10 tuổi, lớp nhất.  Cô giáo Tân áo dài đen tóc búi da trắng ngà ánh mắt buồn bã tâm sự cùng lũ trẻ ngây ngô: cha cô không thích cô học Luật, nói rằng đó là nghề bất nhân.  Tôi thấy tôi tìm mua Tâm Hồn Cao Thượng vì thầy dạy luyện thi đệ thất nói nên đọc. 

 

Tôi thấy tôi vào trường nữ trung học, những năm đệ nhất cấp học Kim văn với Lê văn Trương, Tự Lực Văn đoàn, Nửa chùng Xuân…, học cổ văn với những bài thơ của Cao bá Quát Tú Xương Nguyễn công Trứ Lê thánh Tông, giảng và bình:

 

Nghi ngút đầu gềnh tỏa khói hương

Miếu ai như miếu vợ chàng Trương

Ngọn đèn dù nhẵn đừng nghe trẻ

Làn nước chi cho lụy đến nàng

Chứng quả đã đôi vừng nhật nguyệt

Giải oan chi mượn đến đàn tràng

Qua đây mới rõ nguồn cơn ấy

Khá trách chàng Trương khéo phụ phàng

 

(Đề Miếu chàng Trương, Lê Thánh Tông)

http://hovuvo.com/Forum.aspx?View=ViewNews&NewsID=41

 

Ở tuổi 13 tôi vẫn còn cột 2 tà áo dài vào một bên hông để chơi u trong sân chùa Xá Lợi, mấy bài thơ vớ vẩn ấy chỉ gieo được vào lòng một âm hưởng ngậm ngùi.  Nhưng ngoài học đường, sách truyện vui và hay hơn nhiều.  Tha hồ đọc Tuổi Hoa Xanh tình cảm nhẹ nhàng hay Tuổi Hoa Đỏ trinh thám giật gân, hay xé rào mà đọc Quỳnh Dao, đọc truyện chưởng.  Anh tôi mê truyện du đãng Duyên Anh, chị tôi tỉ tê em ơi lửa tắt bình khô rượu, má tôi khoái Bên giòng sông Trẹm đăng hằng ngày trên nhật báo, ba tôi bĩu môi _ xem tin tức nghị luận chứ xem chi những thứ rặt màu son phấn. 

 

Mười lăm mười sáu tôi đã có thể tha hồ đọc những quyển sách người lớn, nhờ cô hàng xóm học Văn Khoa.  Tôi mượn cô đưa liền, chắc hẳn thâm tâm cô nghĩ tôi trả lại ngay vì có đọc được đâu.  Những cuốn truyện dịch Yêu Chỉ Một Người, Những Bông Hồng Đầu Hạ, Một Phút Một Đời…  Bạn tôi thì đằm thắm hơn, đọc sách học làm người do Nguyễn Hiến Lê giới thiệu, và các anh của nó thì lúc nào cũng suy tư nghiêm trọng mà lẩm bẩm những cái tên lạ hoắc hết hồn…

 

Bên cạnh khói mù xe lam xe gắn máy, trưa trưa các bác xích lô ăn cơm tấm hành mỡ xong thì đọc báo và úp tờ báo lên mặt đánh một giấc.  Các chị giúp việc đến tối rảnh rang thì ra tiệm tạp hóa của ông Z27 đường Phan Đình Phùng mua bản nhạc về hát, mua tập vọng cổ về ca.  Cả xã hội miền Nam lăn ra nuốt chữ, nghĩa là đâu đó có cả huyện các tác giả lăn ra viết, và những nhà xuất bản tiệm sách sạp báo tiệm cho thuê truyện lăn ra mà sống bằng chữ.  Sách giáo khoa ở trường, sách đọc ở bên ngoài, nhìn lại, tôi đã lớn lên trong văn học miền Nam dẫu tôi không nhìn thấy không ý thức được điều ấy.  Vả chăng, muốn “thấy” một nền văn học thì phải đứng bên ngoài nó chứ không thể nào đứng ở trong ở giữa nó mà mong thấy đúng thấy đủ một nền văn học.  Bây giờ, dù muốn hay không, tôi cũng đã ra khỏi nền văn học đó.

 

Thời cuộc buộc Văn Học Miền Nam phải chấm dứt năm 1975, tôi cho đó là phải lẽ vì không thể nào có một biến động xã hội lịch sử lớn lao ảnh hưởng đến cuộc sống con người xảy ra mà văn học không chuyển mình thay đổi, chấm dứt một thời kỳ để bước qua một thời kỳ khác.  Vấn đề chỉ là nó đã chấm dứt ra sao, ở đây có thể nói ngay là hết, không chuyển hướng không đẩy lùi cái cũ tiếp thu cái mới không thêm vào một khuynh hướng một đường lối gì cả, chấm hết, hết; và nó đã được bảo tồn thế nào cho thế hệ chuyển tiếp.  Tôi nói bảo tồn, vì văn học cùng với giáo dục cùng với tập quán sinh sống cùng với tục lệ xã hội là những thành tố của văn hóa dân tộc, văn hóa một miền đất một nhóm con người, không bảo tồn để cho nó mất đi thì kể như lịch sử bị đục thủng bị đứt đoạn, quá khứ bị xóa nhòa, ai biết ai là ai, chúng ta liên hệ với nhau ra sao, làm sao để tôi thấy được người?

 

 

 

Thấy Người

 

 

Thấy người, chẳng phải tôi không thấy người.  Còn người còn chữ viết, chả phải không thể thấy.  Chỉ là, tôi phải thấy nền văn học cũ qua hoài niệm của những người đi trước, của thế hệ đàn anh hơn tôi một giáp, mươi mười lăm tuổi.  Tôi chỉ thấy Mai Thảo, Sáng Tạo, Thanh Tâm Tuyền, Dương Nghiễm Mậu, thầy triết Nguyên Sa, thầy triết Nguyễn xuân Hoàng…  Cả một rừng chữ với người đâu phải chỉ có bấy nhiêu tên?  Bậc đàn anh tôi đã đi qua rất nhiều, đã thu nhận biết bao nhiêu, sao chỉ lập lại mãi hoài mấy tên tuổi đó, và cũng chả ai nói được điều gì mới, có đủ ý nghĩa về một tác giả, ngoài những tiểu sử, những vụn vặt bên lề, những hào quang đã tỏa những vương miện đã được trao.  Tôi khát khao biết tại sao văn Mai Thảo hay, tại sao người ta chỉ biết có Thanh Tâm Tuyền Dương Nghiễm Mậu, tại sao các thầy triết Nguyên Sa, Nguyễn Xuân Hoàng mới đáng nhắc.  Không phải thầy Nguyễn văn Trung mới thực đã góp nhiều công mang khái niệm triết học đến cho sinh viên thời ấy?  Tại thầy Hoàng đẹp trai, tại thầy Lan biết làm thơ?  Tại Nguyễn Đình Toàn không thuộc nhóm Sáng Tạo?  Đi học ở Paris thì phải nhắc Paris trong nhạc trong thơ và như vậy mới hay mới xịn mới sang?  Hoàng Ngọc Tuấn Thư Về Đường Sơn Cúc đâu có đi Paris bao giờ nhưng thơ truyện hay quá trời đó chứ?

 

Tôi đi tìm tôi tìm người trong văn học cũ, lòng ngao ngán ê chề, vì tôi thì còn nhỏ, còn ngu, và người thì dường mang nhiều quên lãng, quên quá khứ, quên nhau?  Tôi hậm hực, người ta càng tung hô tôi càng không đọc Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền.  Cũng còn may tôi biết mê Võ Phiến _ văn Võ Phiến không cần sự tung hô hay giới thiệu, ngày ngày chờ Văn Học Tổng Quan in ra được cuốn nào thì rước về cuốn đó, mua bao ny lông bọc, mua tem màu hình sao dán vào gáy sách để đánh dấu phân loại…  Cái trò trẻ con ấy tôi làm với tất cả thành kính, vì chứa trong đó là dĩ vãng của tôi, của biết bao người.  Nhưng tôi vẫn không thấy người.

 

Tôi đi qua một nửa đời, tìm đọc không biết là bao sách cũ dù biết là mình không thể nào đọc hết dẫu có thể thu góp lại tất cả kho tàng, những câu hỏi cũ còn hoài, cho đến khi tuổi đời ghè bớt cái tánh cứng đầu, bớt lòng háo thắng.  Tôi phải tìm đọc Mai Thảo Thanh Tâm Tuyền để tự trả lời mình, văn học miền Nam lẽ đâu chỉ gồm những cái tên vô nghĩa.  Quá khứ của tôi, của bao người, lẽ nào chỉ là những dòng mực đen.

 

Tôi tìm thấy Mai Thảo khi đọc câu thơ  Đời ta sử chép cả nghìn chương,” khi đọc Luân, đọc trang nói lên cảm xúc của người đàn ông, một lòng xót thương, và bị cuốn hút theo cái lên đồng của Mai Thảo khi Mai Thảo tuôn đổ cảm xúc nghĩ suy xuống trang giấy trắng.  Cái nhìn về một quyết định không thể giải thích của một cõi lòng hoang mang trong một khoảnh khắc thật ngắn mà không thể bỏ qua không thể quên đi, đọc lại vẫn thấy ngợp.  Và không thể nhớ gì hơn dù một chữ một lời.  Những con chữ, chấm câu ngắt khúc, nó có nhịp sống riêng không gạn lọc so đo.  Chưa chắc người viết có thể sửa được những gì đã được viết xuống mà không phản bội cảm xúc ý nghĩ của mình.  Nếu đọc chữ của Mai Thảo như đọc văn, một mạch với những kết cấu dựng nên thì sẽ bị nhốt trong cái sườn văn hoa đó.  Quên hết đi chỉ đọc những suy cảm, không tìm mà thấy một Mai Thảo với tâm hồn và suy nghĩ thật phong phú sâu sắc, một con người chỉ viết về quá khứ và chỉ nói về cảm xúc của mình.  Mai Thảo sống thật trọn vẹn mà vẫn mang theo mình một nỗi cô đơn; xem thường tất cả mà mọi người chung quanh vẫn cảm được cái quan hoài; thật ngang ngược thật quái mà người chung quanh vẫn bị cuốn hút vào, hạt cát sông Hằng ấy, từ những năm 50’s, 60’s, đã đòi

 

…chế lấy mây và gây lấy nắng

Chế lấy, đừng vay mượn đất trời…

 

Văn học với những tâm hồn ý tưởng đó đáng ra phải được bảo tồn phát huy, có phải?

 

Và văn học đó không chỉ có Mai Thảo.  Bây giờ tôi cắm đầu đọc Thanh Tâm Tuyền.  Tôi hiểu vì sao thanh niên thời đó, những bậc đàn anh của tôi chỉ nhớ TTT.  Những lời TTT viết ra chỉ toàn gầm gừ đòi xóa bỏ mình, xóa bỏ chữ nghĩa, xóa bỏ suy tư, xóa bỏ tình cảm _  những thói quen của cuộc đời, tự làm rỗng mình để sống, sống trọn vẹn từng phút giây, sống cuộc sống như phải là, sống:

 

nếu ưa cái đời sống của mình thì hãy sống với nó thực hơn. Viết là muốn cái khác, trong khi muốn cái khác mà cứ phải che đậy nói về cái mình đã bỏ đi là giả dối, là đạo đức giả. Anh có ưa cái đời sống loăng quăng này của anh không? Có. Anh còn muốn gì khác không? Không. Vậy đúng rồi, ôm lấy nó mà sống mà tận hưởng thú vị, việc gì phải viết, bỏ cái thú sống thực đổi lấy cái thứ sống giả..”

 

 (Khuôn Mặt, Tập truyện ngắn, nxb Sáng Tạo 1964)

http://motsach.info/story.php?story=khuon_mat__thanh_tam_tuyen&chapter=002

 

A ha, Thanh Tâm Tuyền, cái ngần ngừ _ luôn ngần ngừ, cái dằn vặt _ luôn dằn vặt, được viết ra một cách sắc xảo quyết liệt, cái sắc quyết ấy như tiếng sấm làm ù tai, như làn sét làm lóa mắt, tôi đọc, và dù không hiểu hết vẫn cảm được cái bồng bột nhiệt huyết của tuổi trẻ như lửa bùng như nắm cát bỏng của sa mạc ném vào mặt mình.  Mang vết bỏng đó ở tuổi vào đời chắc tôi cũng sẽ như bậc đàn anh chỉ nhớ hoài một cái tên và cũng sẽ gọi hoài cái tên ấy cho đỡ nhớ!!!  Tôi hiểu vì sao nơi rừng văn học ấy Thanh Tâm Tuyền được nhắc hoài và Nguyễn đình Toàn được quên hoài dù người ta vẫn đọc, vẫn tìm mua sách vẫn mang lòng quí mến cho đến tận bây giờ.  Bên cạnh lò lửa Thanh Tâm Tuyền, Nguyễn đình Toàn như sương, phủ sương mờ lên cuộc sống.  Nguyễn đình Toàn mang hết chữ, tràng giang đại hải, viết xuống chỉ để không nói.  Mang vết bỏng Thanh Tâm Tuyền thì dễ nhắc, nhưng mang cái sương mờ của Nguyễn Đình Toàn thì chỉ thấy ớn nặng tâm hồn chứ biết nhắc cái gì?  Tôi nhớ cái ngu của mình khi đọc Một Phút Một Đời, hình như của Pearl Buck, ba mươi năm trước. 

 

 

Một phút một đời 


Một Phút Một Đời nói chuyện một anh họa sĩ về miền đồng quê vẽ.  Khi chiều xuống, từ giã đồng hoang rạ vàng trong nắng anh đến gõ cửa nhà một nông dân, và người con gái ra mở cửa.  Trong ánh hoàng hôn thôn dã, cô đứng đó hoàn tất bức họa đồng quê và anh yêu cô ngay phút ấy.  Rồi anh cưới cô, mang cô về thành thị.  Những ngày ray rứt rã rời vì thương nhớ làng quê, những ngày khó ở vì mang đứa con đầu, anh yêu từng giây phút đổi thay của cô.  Đưa cô trở về quê cũ, anh yêu từng hình ảnh của cô, người mẹ trẻ, phút giận dữ phút dã dượi mệt mỏi đồng áng phút lấm tấm mồ hôi lau chùi quét dọn, phút lo lắng cho con phút nổi giận với chồng.  Anh yêu, mải yêu đến một lúc nào đó đã thấy răng long đầu bạc.  Bây giờ, bà cụ leo qua ngọn đồi, tới ngồi dưới gốc cây trong nắng tưởng nhớ đến người chồng một đời của mình đã khuất. 

 

Mười mấy tuổi tôi đọc thấy lãng xẹt.  Ba mươi tuổi tôi đọc, cũng vẫn thấy nhàn nhạt buồn buồn.  Bây giờ đọc Nguyễn Đình Toàn mấy ngàn trang mấy mươi ngàn chữ tôi hốt hoảng nhận ra NĐT viết để không nói cái điều mà Thanh Tâm Tuyền vẫn gầm gừ: sống.  Nguyễn Đình Toàn đã sống mỗi một phút bằng cả một đời, sống không biết bao nhiêu kiếp rồi trong mỗi trang viết về một phút.  Hiện sinh, Thanh Tâm Tuyền và Nguyễn Đình Toàn như nước với lửa như âm với dương như âm bản và dương bản của bức hình sự sống.  Nguyễn Đình Toàn không dạy, nhưng tôi vỡ ra thế nào là Một Phút Một Đời.  Tác giả ấy đã viết, người nào đó đã dịch, đã đem nó đến với văn học, với tôi, với chúng ta, và tôi đã lớn lên như cỏ cây hoang dại trong rối ren chữ nghĩa ấy, mang một nỗi băn khoăn thắc mắc 30 năm dài.  Văn học, không phải nhiệm vụ của nó là đánh thức lương tri trí thức cảm xúc sâu thẳm của mỗi con người?  Văn học, không phải chính nó cầy xới gieo mầm cho hiểu biết cảm xúc của mình lớn mạnh để tìm chính mình, thấy mình thấy người và thấy được tha nhân?

 

 

 

Thấy Tha Nhân

 

 

Thấy mình, thấy bậc đàn anh, thấy người, tôi cũng thấy ra tha nhân.  Tha nhân của tôi là người miền Nam.  Tôi buồn lòng và xấu hổ thú nhận như vậy.  Nhưng chính là nhờ những học giả nhà văn của miền Nam cũ, những người đã mang công sức dịch những truyện nhàn nhạt buồn buồn, dịch những tác phẩm văn học mà bên Mỹ này học sinh trung học phải đọc, đưa những ý niệm văn triết của phương Tây đến giới thiệu với xã hội miền Nam, sáng tác những tác phẩm văn chương nhiều màu sắc dạng hình đánh thức lòng yêu thương cuộc sống, mà miền Nam đã có những thành quả văn hóa, những sinh hoạt văn hóa nhiều sắc màu, mà tôi biết thích những vần thơ Giang Nam những năm đầu ở với Cộng Sản.  Bài thơ ấy thì chỉ giản dị thôi, thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường, yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ, nhưng nó nói với tôi người miền Bắc cũng là người, cũng yêu quê hương như mình, và nhất là, họ cũng đau khổ như mình:

 

Từ độ xa nhau thư không bao giờ gửi nữa

Anh vui đời sương gió

Nhọc nhằn gian khổ đã mười năm

Khăn em trao từ độ lên đường

Trải bao dãi nắng dầm sương vẫn còn

Nay công đồn Ninh Bắc,

Mai Hạ Lào Sầm Giả

Điện Biên Phủ anh gian khổ từng giờ

Mong ngày dựng lại màu cờ

Anh về quê cũ em chờ đợi anh

 

Nhưng anh nào có đâu ngờ

Lịnh Đảng về Giải Phóng

Gia đình em bị qui phản động

Chỉ vì năm mẫu ruộng ngày xưa

Cưới em không được nữa

Bây giờ ai đợi ai chờ ai đây

Sầu dưng lệ đổ bàn tay

Thư không gửi nữa từ ngày xa nhau  *

 

 

Tác giả là ai tôi không còn nhớ, nhưng tuổi mười sáu đơn sơ dẫu oán hận người cộng sản tôi vẫn thấy cảm xúc dâng đầy với bài thơ mộc mạc ấy.  Máu ai không đỏ, lòng ai không mềm.  Đáng ra Nam và Bắc đã có thể lại gần nhau hơn, vì rõ ràng có con đường nào có nhịp cầu nào nối được lòng người với nhau hơn nhịp cầu văn học?  Đáng ra văn học Việt Nam đã có thể có nhiều những sinh hoạt văn học gắn kết người trong ngoài xưa nay với nhau hơn, có nhiều những thành quả đồng bộ hơn là những giải văn chương cá nhân và cá biệt.

 

Tôi nghĩ rằng chúng ta không có được một sinh hoạt văn học như phải có: người sáng tác sáng tác cho mình nhưng phải với tới tha nhân làm giàu tha nhân, người làm công việc biên soạn khảo cứu làm vì lẽ thật vì điều hay để xã hội được cùng tiến, và chúng ta đến với nhau để chấp nhận nhau để cùng nhau hướng về một điều gì cao cả hơn chúng ta bây giờ, đẹp đẽ hơn những gì đang có bây giờ.

 

Khi tôi đọc lại người cũ, những gì đã viết và bây giờ được viết, tôi sung sướng ghi nhận cái riêng tư của mỗi người.  Như Phan Lạc Phúc và Phan Lạc Tiếp.  Họ là anh em lớn lên trong cùng một gia đình, cùng trong quân đội Cộng Hòa, cùng trong cuộc chiến, cùng phục vụ một chính thể, nhưng họ tiếp cận cùng một vấn đề theo tính cách riêng, theo suy nghĩ riêng của mỗi người.  Phan Lạc Phúc thấy cái giải đất chữ S của Việt Nam giúp mình nhiều cơ hội tiếp cận nhiều nguồn văn hóa khác nhau, nhưng vì nhiều văn hóa quá nên thành bánh da lợn (Tuyển Tập Tạp Ghi).  Phan Lạc Tiếp thấy mảnh đất chữ S giáp biển giúp mình nhiều cơ hội học hỏi nhưng chiến tranh triền miên nên cái học không thấm sâu nên nhân tài cho đất nước còn thiếu.  Nói chung không chỉ có anh em nhà họ Phan khác nhau, mà là cả thiên hạ miền Nam nói và nghĩ theo ý của riêng mình. 

 

Nguyễn Văn Trung viết Ngôn Ngữ Và Thân Xác thì Võ Phiến cười cợt Chửi (Võ Phiến, Tùy Bút 1); người ta nói Nguyễn đình Toàn Thanh Tâm Tuyền Hùynh Phan Anh là hiện sinh thì Nguyễn Hiến Lê nói văn học miền Nam không có hiện sinh (Nguyễn Hiến Lê.  Hồi Ký, tập II.  Nhà xuất bản Văn Nghệ, California, USA.  1990); người ta nói thuyết Việt Học gì đó thì có người hỏi khẽ đâu là bằng chứng. 

Bây giờ trong và ngoài nước hình như đồng loạt mang tứ khoái vào văn chương, nói là hiện sinh thì đó là bước thụt lùi, nói là thực hóa thì cũng vẫn là lui lại.  Bây giờ hình như chúng ta bình văn thơ bằng kiến thức hơn là bằng tâm hồn đồng cảm đồng điệu.  Tôi không thấy ai bình thơ như Bùi Giáng bình Tuệ Sỹ, Võ Phiến bình Tô Thùy Yên, Huỳnh Phan Anh viết về Áo Mơ Phai.  Nói đề tài hay nói hình thức, tôi đều cho đó là sự giật lùi khi nghĩ đến điều Mai Thảo đã khêu gợi năm xưa: Chế lấy mây và gây lấy nắng, Chế lấy đừng vay mượn đất trời.

 

Hãy cho rằng tôi là một người lỗi thời không theo kịp ngôn ngữ thời đại nên đọc người thời nay, trong cũng như ngoài nước, mà không cảm được như đã từng ghi nhận hai năm trước trong Giữa Đọc Và Viết:

 

Có cần không một cái nền liên kết người đọc và người viết?  Cái chung cần có không nhất thiết là mảnh đất địa lý dù đó là nơi mà chúng ta cùng đứng để cùng yêu mến; một tổ quốc chung cũng vẫn là điều khả thể khi bị ngăn cách không gian. 

 

…Nền văn học cũ toát ra cái ý chung: bảo tồn một bản sắc đã có _dân tộc, đất nước, con người_  và mong làm giầu nó.  Người ta muốn khác nhau chứ không chống nhau.  Những tiếng kêu những trăn trở dù mơ hồ nhưng có nét thực của tâm hồn, gắn bó người viết với người đọc.  Văn học bây giờ, bên ngoài là hoài niệm cái đã mất, là đi tìm lối thoát cho cái đã có và đưa nó đi xa hơn, là hội nhập và nói với thế giới bên ngoài về mình.  Nhưng chúng ta có thực biết mình muốn viết cái gì, sẽ viết ra sao?  Hình như chúng ta nhận định phê bình rất nhiều trước khi có tác phẩm thực để phê bình, trước khi biết rõ thế nào là phê bình.  Số người am hiểu và viết đứng đắn không đủ để tạo ra một cái nền.  Tôi đọc mãi đọc hoài, vẫn thấy không gắn kết được những trang chữ hải ngoại lại cho thành một nền văn học văn chương.  Văn học bên trong dường như là đi tìm chính mình, khẳng định bản sắc.  Tại sao mình phải đi tìm bản sắc khi mình đã có bản sắc từ lịch sử bao nhiêu năm?  Chung chung những tác phẩm bài viết trong nước mà tôi đọc được đầy rẫy ẩn dụ và những tình tiết éo le kinh khủng, những tiếng kêu thống khổ; rõ là thực mà lại không mang cho tôi được ý niệm người viết là ai, và có điều gì nơi tâm hồn người ấy.  Những hàng chữ vẫn như chưa ra khỏi tính cách “hiện thực xã hội.”  Tôi vẫn thấy mình thất lạc với cái viết của hôm nay, bây giờ. 

 

Nơi cái thất lạc nêu trên, tôi càng tiếc là văn học miền Nam đã không được bảo tồn.  Trên cái căn bản văn học miền Nam mà tôi đã lớn lên, tôi đã có thể cảm thương với những mất mát của người anh em phía Bắc, tôi chấp nhận những khác biệt của văn hóa của con người, và tôi biết đợi chờ biết thành thực để trả lời cho mình những thắc mắc.  Giả mà chúng ta kẻ Nam người Bắc đã có thể cùng đọc những gì đã được viết ra trong 20 năm văn học miền Nam, nếu không tiếp nhận được cái nhân bản trong nền văn học ấy, tối thiểu chúng ta vẫn có thể có cùng niềm yêu mến Quốc Văn Giáo Khoa Thư như người xưa, hoặc nếu có bất đồng, chúng ta đã có chung một ngôn ngữ để bàn trên một tác phẩm.  Nghĩ thêm,  tôi tin rằng ngôn ngữ, của thời đã qua, chính là điều nối chúng ta lại, giúp chúng ta hiểu nhau hơn.  Thời đại đổi thay ngôn ngữ đổi thay, chúng ta đã có thể cùng nhau đổi thay, không như bây giờ cùng nói tiếng Việt mà mỗi nơi mỗi khác, chúng ta không hiểu nhau và cũng chẳng chấp nhận nhau. 

 

 

 

Đâu là kẻ khác

 

 

Khi trong với ngoài cùng lúc nêu vấn đề 20 năm Văn Học Miền Nam, phải chăng chúng ta đã bắt đầu nhìn thấy nhau?  Đã đủ dài chưa những tháng ngày vùi dập lấp che, mắt liếc mắt nhìn mà chẳng dám nhận nhau?  Trong khi đất nước đối mặt cùng hiểm họa xâm lăng thì một hố chia rẽ dù nhỏ cũng mang lại tổn thất bội phần, làm vấy một nền văn học sau khi nó đã từng bị dập vùi e không còn lối quay lui. 

 

Văn Học Miền Nam, trước hết, là văn học của Việt Nam Cộng Hòa, một thực thể toàn vẹn, không có tạm chiếm hay đô thị núi rừng gì cả, và nó đã qua, đã chấm dứt sau cuộc chiến 20 năm.  Nền văn học đó đã có dẫu công nhận hay không, với những thành tựu và giới hạn của riêng nó. Nhắc lại quá khứ là để thấy ta thấy người, để có thể cảm hòa.  Nếu ngoài này nêu vấn đề 20 năm Văn Học Miền Nam chỉ để quanh quẩn tung hô người muôn năm cũ, hay làm sống lại một thời đã qua, thì chỉ là mở đường cho chuyện chối bỏ nhau thêm.  Nếu bên trong cho là cứu vớt, đó có thể là ném bùn vào mặt người anh em mà mình mong bắt tay nối nhịp cảm thông.

 

Nói là hội luận tìm hiểu, nói là bảo tồn phát triển, nói là gì đi nữa, chúng ta nên chính danh và thành thực hỏi lòng, mình làm điều đó cho ai và mong muốn điều gì. 

 

 

Lưu Na

Tháng 9-12-2014

 

 

 

* Lá thư không gửi của Nhất Tuấn:

lá thư không gửi

Tác giả: Nhất Tuấn
Từ độ xa em thư không bao giờ gửi nữa
Anh vui đời sương gió
Nuốt hận thù trong lòng súng hờn căm
Đêm ngày say máu giặc
Nhọc nhằn gian khổ đã mười năm

Khăn em trao từ độ lên đường
Trải bao dãi nắng dầm sương vẫn còn
Hết Ninh Bắc công đồn
Qua thượng Lào Sầm Nứa
Từng vùng bom rơi đạn nổ
Điện Biên Phủ anh gian khổ từng giờ
Mơ ngày chiến thắng dựng cờ
Anh về quê cũ em chờ đợi anh
Đôi lúc hành quân qua đèo
Nhìn mây đầu núi , lòng tương tư về
Sầu dưng vời vợi
Không biết quê người em gái
Có gì đổi thay
Những đêm mưa bay bay
Nằm nghe gió về rung lá chết
Nhớ thương sao mà da diết
Sầu núp mặt bàn tay
Anh về mong gặp người em gái
Biết nói làm sao khỏi nghẹn lời
Từng chiều xôn xao nhớ
Từng chiều nao nao buồn
Những mộng đêm đêm đầu gối súng
Những vần thơ yêu nóng bỏng
Viết trong chiến dịch mùa Đông
Bao nhiêu là nhớ là mong
Bao nhiêu là đợi là trông là chờ

Nhưng anh nào có đâu ngờ
Lệnh Đảng về giải phóng (**)
Gia đình em bị qui phản động !
Vì năm mẫu ruộng ngày xưa
Cưới em không được nữa
Bây giờ ai đợi ai chờ ai đây ?
Sầu dưng lệ đẫm bàn tay
Thư không gửi nữa từ ngày xa nhau ...

nguồn: http://poem.tkaraoke.com/11159/La_Thu_Khong_Gui.html

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
18 Tháng Tám 20269:54 CH(Xem: 1739)
Thu nằm trong bệnh viện đã được 7 ngày. Cũng vào ngày cuối cùng của “tuần chung thất” theo một lễ tục người Việt từ cả ngàn năm nay mà Thu được biết qua chuyện trò của mẹ với các bà vãi hàng xóm, phải đúng ngày này, khi nỗi đau ghê gớm của cơ thể từng chuyển hóa lẫn lộn trong những cơn mê sảng chưa từng có trong quãng đời 18 cái xuân xanh đã dịu đi chút ít, em mới bàng hoàng nhận ra: em đã bị mất toàn bộ chân trái…
09 Tháng Tám 20267:14 CH(Xem: 1377)
“Một suy ngẫm nối tiếp Từ bài viết “CUỘC TỰ VẤN LƯƠNG TÂM LỚN NHẤT VÀ RUNG CẢM NHẤT TRONG ĐIỆN ẢNH” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey của Christopher Nolan, chúng tôi thử đi thêm một bước: từ Troy của Homer nhìn về những cuộc chiến của thế giới hôm nay.” MINH HẠO -
09 Tháng Tám 20266:02 CH(Xem: 1291)
Hợp Lưu trân trọng giới thiệu bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey — bộ phim mới của đạo diễn Christopher Nolan. Không chỉ là một bài điểm phim, tác giả đã đọc cuộc trở về của Odysseus như một hành trình trở về với lương tri và Nhân tính; nơi chiến thắng, quyền lực và những cuộc chinh phạt cuối cùng phải đối diện với món nợ máu của những người vô tội. Từ thành Troy của Homer đến một thế giới hôm nay vẫn còn “gió tanh mưa máu”, bài viết đặt ra một câu hỏi tưởng cổ xưa mà vẫn nhức nhối: Sau mỗi cuộc chiến, ai sẽ là người trả giá cho những gì con người đã gây ra cho con người? — BAN BIÊN TẬP HỢP LƯU
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 2146)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:11 CH(Xem: 1708)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
07 Tháng Tám 202611:05 CH(Xem: 2295)
tháng giêng hoa xoan chưa nở / thì em đã vội lấy chồng / mùi hương còn đang dang dở / rụng đầy xuống cả dòng sông / *** tháng hai ánh trăng vừa cũ / chênh chao ngõ vắng im lìm / em không còn gì để nói / chỉ màu nắng nhạt qua tim /
07 Tháng Tám 202610:29 CH(Xem: 1671)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
30 Tháng Bảy 20261:56 CH(Xem: 2007)
XÓM BỜ MƯƠNG – Truyện thứ hai trong bộ ba "Tam Quan" của Phạm Ngọc Lương. Hôm qua, chúng tôi giới thiệu CÁT HOANG. Hôm nay là XÓM BỜ MƯƠNG – truyện ngắn thứ hai trong bộ ba Tam Quan của nhà văn trẻ Phạm Ngọc Lương, từng đăng trên Hợp Lưu số 87 (2006). Hơn hai mươi năm trước, nhà phê bình Thụy Khuê đã gọi đây là "một câu chuyện cổ tích kinh dị", nơi cái chết của một dòng sông song hành với sự mục rữa của môi trường, sự tha hóa của con người và số phận bi thảm của một đứa trẻ. Một truyện ngắn đầy chất thơ, nhưng càng đẹp càng khiến người đọc rùng mình. Hai mươi năm đã trôi qua. Dòng sông trong truyện có còn là một ẩn dụ của hôm nay? Xã hội Việt Nam đã thay đổi đến đâu trước những vấn đề mà XÓM BỜ MƯƠNG đặt ra: môi trường, bạo lực, sự vô cảm, và phẩm giá con người? Chúng tôi xin giới thiệu lại truyện ngắn này. Câu trả lời, có lẽ, xin dành cho mỗi bạn đọc.
29 Tháng Bảy 20263:34 CH(Xem: 2167)
Có những tác phẩm không thuộc về một thời điểm. Chúng lặng lẽ nằm lại trên trang giấy nhiều năm, rồi một ngày nào đó bỗng hiện lên với sức nặng như thể vừa mới được viết hôm qua. Cát Hoang là một truyện ngắn như vậy. Lần đầu xuất hiện trên Tạp chí Hợp Lưu bởi lối viết tối giản, đứt đoạn như điện ảnh, ngôn ngữ đầy ký hiệu, và một thế giới nghệ thuật khiến người đọc vừa bối rối vừa ám ảnh. Nhà phê bình Thụy Khuê từng nhận xét đây là một truyện ngắn có cấu trúc của thơ hiện đại, nơi mỗi câu chữ đều trở thành một ám hiệu, buộc người đọc phải đọc bằng trực giác nhiều hơn bằng cốt truyện. Trong thế giới ấy, có một bãi đất nổi giữa dòng sông, một cộng đồng sống như chưa từng biết đến ánh sáng của văn minh, nơi trẻ em không được học chữ, nơi người biết chữ bị gọi là "con điên", và nơi bạo lực dần trở thành trật tự bình thường. Đó là một không gian hư cấu. Nhưng điều khiến Cát Hoang sống mãi không nằm ở tính hư cấu ấy, mà ở khả năng đánh thức những câu hỏi chưa bao giờ cũ:
22 Tháng Bảy 202610:50 CH(Xem: 2356)
MẢNH ĐẤT ÍT NGƯỜI NHIỀU MA… NGƯỜI, viết hoa, theo tính chất triết học cả Đông lẫn Tây, và theo cách hiểu của tâm lý đời thường nhiều biến động này là “Tử tế”, đang ít dần đi cùng với sự teo tóp của Lương tri, sự lẩn trốn của cái Thiện, sự đánh mất Tình thương và Lòng trắc ẩn… Ma, theo nghĩa khái quát về bản chất Ma Quỷ trong con người đang trỗi dậy, không chỉ là hình tượng dọa nạt con trẻ nữa mà đang trở thành thế lực khủng khiếp đe dọa thống trị toàn bộ cơ chế hoạt động lẫn tinh thần – đạo lý xã hội…
07 Tháng Tám 2026(Xem: 1671)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 11604)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18193)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17255)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 2146)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:05 CH(Xem: 2295)
tháng giêng hoa xoan chưa nở / thì em đã vội lấy chồng / mùi hương còn đang dang dở / rụng đầy xuống cả dòng sông / *** tháng hai ánh trăng vừa cũ / chênh chao ngõ vắng im lìm / em không còn gì để nói / chỉ màu nắng nhạt qua tim /
22 Tháng Bảy 202610:23 CH(Xem: 3457)
Bão Maysak đổ bộ vào Móng Cái / các bản tin điện tử dồn lên trang nhất / suốt nhiều giờ chống bão / anh đợi bản tin em
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 3595)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
(Xem: 1708)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
(Xem: 3192)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
(Xem: 2978)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
(Xem: 3616)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
18 Tháng Tám 20269:54 CH(Xem: 1738)
Thu nằm trong bệnh viện đã được 7 ngày. Cũng vào ngày cuối cùng của “tuần chung thất” theo một lễ tục người Việt từ cả ngàn năm nay mà Thu được biết qua chuyện trò của mẹ với các bà vãi hàng xóm, phải đúng ngày này, khi nỗi đau ghê gớm của cơ thể từng chuyển hóa lẫn lộn trong những cơn mê sảng chưa từng có trong quãng đời 18 cái xuân xanh đã dịu đi chút ít, em mới bàng hoàng nhận ra: em đã bị mất toàn bộ chân trái…
30 Tháng Bảy 20261:56 CH(Xem: 2006)
XÓM BỜ MƯƠNG – Truyện thứ hai trong bộ ba "Tam Quan" của Phạm Ngọc Lương. Hôm qua, chúng tôi giới thiệu CÁT HOANG. Hôm nay là XÓM BỜ MƯƠNG – truyện ngắn thứ hai trong bộ ba Tam Quan của nhà văn trẻ Phạm Ngọc Lương, từng đăng trên Hợp Lưu số 87 (2006). Hơn hai mươi năm trước, nhà phê bình Thụy Khuê đã gọi đây là "một câu chuyện cổ tích kinh dị", nơi cái chết của một dòng sông song hành với sự mục rữa của môi trường, sự tha hóa của con người và số phận bi thảm của một đứa trẻ. Một truyện ngắn đầy chất thơ, nhưng càng đẹp càng khiến người đọc rùng mình. Hai mươi năm đã trôi qua. Dòng sông trong truyện có còn là một ẩn dụ của hôm nay? Xã hội Việt Nam đã thay đổi đến đâu trước những vấn đề mà XÓM BỜ MƯƠNG đặt ra: môi trường, bạo lực, sự vô cảm, và phẩm giá con người? Chúng tôi xin giới thiệu lại truyện ngắn này. Câu trả lời, có lẽ, xin dành cho mỗi bạn đọc.
29 Tháng Bảy 20263:34 CH(Xem: 2167)
Có những tác phẩm không thuộc về một thời điểm. Chúng lặng lẽ nằm lại trên trang giấy nhiều năm, rồi một ngày nào đó bỗng hiện lên với sức nặng như thể vừa mới được viết hôm qua. Cát Hoang là một truyện ngắn như vậy. Lần đầu xuất hiện trên Tạp chí Hợp Lưu bởi lối viết tối giản, đứt đoạn như điện ảnh, ngôn ngữ đầy ký hiệu, và một thế giới nghệ thuật khiến người đọc vừa bối rối vừa ám ảnh. Nhà phê bình Thụy Khuê từng nhận xét đây là một truyện ngắn có cấu trúc của thơ hiện đại, nơi mỗi câu chữ đều trở thành một ám hiệu, buộc người đọc phải đọc bằng trực giác nhiều hơn bằng cốt truyện. Trong thế giới ấy, có một bãi đất nổi giữa dòng sông, một cộng đồng sống như chưa từng biết đến ánh sáng của văn minh, nơi trẻ em không được học chữ, nơi người biết chữ bị gọi là "con điên", và nơi bạo lực dần trở thành trật tự bình thường. Đó là một không gian hư cấu. Nhưng điều khiến Cát Hoang sống mãi không nằm ở tính hư cấu ấy, mà ở khả năng đánh thức những câu hỏi chưa bao giờ cũ:
22 Tháng Bảy 202610:14 CH(Xem: 2395)
Đất nước ta khởi đi từ hình bóng một người mẹ thuở hồng hoang. Lịch sử chúng ta khởi đi từ lời ru và những cuộc phân ly. Giữa huyền thoại về những người anh hùng, thấp thoáng bóng dáng những người mẹ trầm mình trên sông.
09 Tháng Tám 2026(Xem: 1377)
“Một suy ngẫm nối tiếp Từ bài viết “CUỘC TỰ VẤN LƯƠNG TÂM LỚN NHẤT VÀ RUNG CẢM NHẤT TRONG ĐIỆN ẢNH” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey của Christopher Nolan, chúng tôi thử đi thêm một bước: từ Troy của Homer nhìn về những cuộc chiến của thế giới hôm nay.” MINH HẠO -
09 Tháng Tám 2026(Xem: 1290)
Hợp Lưu trân trọng giới thiệu bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey — bộ phim mới của đạo diễn Christopher Nolan. Không chỉ là một bài điểm phim, tác giả đã đọc cuộc trở về của Odysseus như một hành trình trở về với lương tri và Nhân tính; nơi chiến thắng, quyền lực và những cuộc chinh phạt cuối cùng phải đối diện với món nợ máu của những người vô tội. Từ thành Troy của Homer đến một thế giới hôm nay vẫn còn “gió tanh mưa máu”, bài viết đặt ra một câu hỏi tưởng cổ xưa mà vẫn nhức nhối: Sau mỗi cuộc chiến, ai sẽ là người trả giá cho những gì con người đã gây ra cho con người? — BAN BIÊN TẬP HỢP LƯU
22 Tháng Bảy 2026(Xem: 2356)
MẢNH ĐẤT ÍT NGƯỜI NHIỀU MA… NGƯỜI, viết hoa, theo tính chất triết học cả Đông lẫn Tây, và theo cách hiểu của tâm lý đời thường nhiều biến động này là “Tử tế”, đang ít dần đi cùng với sự teo tóp của Lương tri, sự lẩn trốn của cái Thiện, sự đánh mất Tình thương và Lòng trắc ẩn… Ma, theo nghĩa khái quát về bản chất Ma Quỷ trong con người đang trỗi dậy, không chỉ là hình tượng dọa nạt con trẻ nữa mà đang trở thành thế lực khủng khiếp đe dọa thống trị toàn bộ cơ chế hoạt động lẫn tinh thần – đạo lý xã hội…
11 Tháng Bảy 2026(Xem: 2973)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 3902)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 14765)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 30911)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 37461)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 12629)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 13895)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 4815)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 7116)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 6375)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 6852)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 7701)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 9591)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 8813)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 11756)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.