- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Đêm Nổi Lửa

20 Tháng Tám 201412:00 SA(Xem: 63005)

thieu nu 4Tôi yêu em đã từ lâu. Từ lúc mắt em còn trong veo như suối nguồn. Đôi mắt phượng hoàng nhìn tôi mê hoặc. Tôi ngộp thở, bàng hoàng trong ý nghĩ muốn chiếm đoạt.

Thung lũng Yosemite cực kỳ quyến rũ ở độ xuân về. Mặt trời vươn dậy sau mùa đông dài ảm đạm. Nắng đầu mùa vỡ giòn trên đỉnh núi óng ánh băng. Tuyết tan khi mảnh nắng đầu tiên chạm mặt. Những thác nước hùng vĩ bật sống dậy, dòng nước lạnh rầm rập đổ xuống thung lũng, tuôn rào rạt rồi êm đềm uốn lượn qua vùng thảo nguyên bát ngát.

Yosemite mang nét đẹp bốn mùa. Mùa hạ du khách, mùa đông tuyết phủ, mùa thu rực rỡ sắc màu. Mùa xuân ở Yosemite trữ đầy huyền thoại, khảm vào ký ức một lần rồi mãi mãi không phai.

Cử rủ tôi đi cắm trại ở Yosemite với nhóm bạn. Buổi sáng se lạnh, tôi co ro đeo ba lô theo Cử đến chỗ hẹn. Cử bảo ông chuẩn bị vài nụ cười. Nét mặt hắc ám chỉ hù dọa được trẻ con. Tôi vừa đi vừa nắn nót, cười vài kiểu với bầy chim sẻ lách chách chung quanh. Hôm qua chúng tôi đến Yosemite vào lúc nửa đêm. Trời tối đen, tôi theo đốm đèn pin Cử soi trên đường. Đêm vắng lặng, chỉ nghe tiếng suối reo rì rào. Cử dò dẫm trên những phiến đá băng qua lòng suối. Sao đêm lấm tấm dát trên mặt nước. Bóng tối quấn theo những bước chân. Chúng tôi dựng lều với ánh sáng xanh ma quái tỏa ra từ chiếc đèn măng xông treo lên nhánh sồi. Căng lều xong, tôi lăn ra ngủ, chưa kịp làm quen với những người bạn của Cử.

Mặt trời ửng hồng trên đỉnh Half Dome. Khối đá hoa cương rực ánh hoàng kim. Bên dưới, nơi chúng tôi chuẩn bị leo núi, khí lạnh vẫn giăng đầy. Sương vẫn tỏa mờ những con đường thâm u rợp bóng tuyết tùng. Tôi đưa máy ảnh lên, ngắm những giọt sương còn bám trên lá. Hình dáng thiếu nữ chợt hiện lên trên khung ảnh nhỏ. Em bất ngờ bước ra trong vũng sương chơi vơi huyền ảo. Màu áo xanh lam chập chờn. Mái tóc cột cao, đuôi tung chấm cổ. Những bước chân mộng du tiến về phía tôi. Tôi không rời mắt nổi khung hình. Trong vô thức, ngón tay trỏ bấm xuống. Tôi chụp em, như chụp bắt dung nhan con gái phơi phới xuân thì. Em cười khi bước ngang qua tôi. Đôi mắt phượng ướt rượt. Tôi buông tay. Chiếc máy ảnh thả rơi đập xuống ngực tôi tê buốt.

*

Giá như thời gian trở lại. Tôi muốn ngắm em lần nữa. Khi nắng chưa lên. Khi đôi mắt phượng hoàng còn trong vắt sương mai.

Hình ảnh tươi mát của em đã kéo tôi ra khỏi giấc ngủ chập chờn.

Buổi sáng nặng những cơn đau. Tôi nhìn ra khung cửa lấp lánh sao đêm vừa vụt tắt. Sớm mai loang trên ngấn cửa. Nắng rạng đông đỏ au hắt lên bức mành trúc. Tôi thèm nghe tiếng trúc chạm nhau lách cách vui tai. Tôi muốn đến bên cửa, chạm tay lên chuỗi trúc vàng úa thời gian.

"Rosa. Rosa..."

Rosa chưa đến. Tôi nhìn đồng hồ trên tường. Sáu giờ bốn mươi lăm phút. Giờ này nàng đang yên giấc nồng. Tôi nhích từng chút ra mép giường. Những dây thần kinh trong đầu run bần bật. Ký ức chưa quên những lần quỵ ngã. Tôi tưởng mình vẫn còn sức lực. Như ngày xưa tôi nhấc bổng thân hình bé nhỏ của em trên hai cánh tay lực lưỡng. Em cười khúc khích. Tiếng cười thanh ngắt như làn gió nhẹ len qua mành trúc.

Tôi ngẩng đầu lên, nhắm khoảng cách từ chỗ tôi nằm ra đến mép giường. Không nhiều, chỉ độ hai gang tay. Tôi có đến một giờ mười lăm phút để lê tấm thân nặng nề xuống giường. Tôi đã chán chỗ nằm. Rosa ra về từ buổi chiều chập choạng. Cả đêm tôi thiếp đi tỉnh dậy nhiều lần. Đêm xuống, nhưng hai mí mắt tôi vẫn mở căng. Tôi đếm từng vì sao hiện lên trên nền trời tím ngắt. Những cơn đau đến từng chặng, mỗi lúc một mãnh liệt hơn. Tôi cố nhắm mắt, lắng nghe trong sâu thẳm của cơ thể, những mạch máu li ti bụp vỡ. Cơn đau nhói lên như một mũi nhọn đâm suốt, kéo tôi xuống đáy vực mê man. Tôi ngất đi một chút, rồi tỉnh lại khi cơn đau đã dịu. Những vì sao vẫn sáng rỡ lấp lánh trên nền trời thẳm. Những vì sao không ru tôi vào giấc ngủ êm đềm, chúng thức tiễn tôi về với hư vô. Tôi nằm đây, khắc khoải đợi chờ. Chờ em về. Chờ chết. Một cái chết không định ngày giờ nhưng nhất định sẽ đến. Nhưng nếu em không bao giờ trở về? Ý nghĩ đó làm trí óc tôi tê liệt. Cái chết đang đến với tôi. Chậm nhưng chắc. Như thân xác ngày một bào mòn. Như hơi thở ngày một hư hao. Nếu em không về? Tôi mong em. Tôi mong em về khi trí óc còn tỉnh, tinh thần còn mạnh, trái tim còn say. Tôi lại nhìn ra cửa sổ. Ngoài kia, ánh dương lao xao. Ngoài kia, ngày sắp bắt đầu. Ngoài kia, có em.

Tôi đưa hai cánh tay níu lấy đầu giường, trụ thân trên làm bàn chống. Đầu tiên, tôi di chuyển đôi chân. Mồ hôi toát ra trên trán. Không ăn thua gì. Không thể nhấc lên. Thân thể tôi vẫn dán chặt trên mặt nệm. Tôi nghĩ đến cánh tay Rosa. Hai cánh tay nàng mát rượi, cũng màu da trắng muốt như em. Rosa khoẻ như lực sĩ. Chỉ một cánh tay, nàng vực tôi xuống giường. Mồ hôi tôi đầm đìa mà nàng vẫn tỉnh khô. Nhưng một giờ mười lăm phút nữa nàng mới đến.

Tôi thở dốc. Mồ hôi vã ra ướt đằm lưng áo. Chân tôi đã ra đến mép giường. Chỉ cần bấu được thành ghế cạnh giường, tôi có thể xoay người trườn xuống nền thảm. Tôi ghì đôi chân chặt xuống nệm, lấy thế để trở phần thân trên. Tôi với tay. Chiếc ghế nhẹ hơn sự tưởng tượng của tôi. Tôi buông vội ghế, bám lấy giường. Nhưng không kịp. Chiếc ghế đổ nhào. Tôi thả mình xuống thung lũng trong tiếng thác đổ ào ạt.

Em là người đầu tiên leo đến thác. Nắng chói ngời trên bờ vai em. Hơi nước bốc lên trắng mịn, nhẹ lướt như khói. Thác Bridalveil như làn sa mềm uốn lượn. Thác khoác lên tóc em dải sa mỏng, thứ sa trắng tinh kết bằng vạn bọt nước li ti. Em đứng nghếch đầu, mặt hếch lên tựa nữ thần sơn cước. Em tỏa sáng trên nền thác tung bọt trắng xóa. Chiếc áo xanh mỏng dán rịt vào người. Dáng em lồ lộ. Bầu ngực nở, chân dài, và đôi mắt trong veo như suối nguồn.

Tôi yêu em. Điều giản dị dễ hiểu. Không chừng Cử cũng yêu em, và cả những người đàn ông có mặt ở thác Bridalveil. Em yêu tôi, nghe như chuyện cổ tích. Tôi lập dị, thô kệch không giống những người đàn ông vây quanh em. Đàn bà thường như vậy. Họ yêu những gì khác lạ.

*

Rosa đến. Nàng hốt hoảng thấy tôi nằm sóng soải trên nền thảm.

"Trời ơi. Ông có sao không?"

Rosa chạy nhanh lại. Nàng ngồi xệp xuống, đưa tay lên mũi tôi tìm hơi thở. Tôi hé mắt, mỉm cười để nàng yên tâm.

"Xin lỗi Rosa. Tôi vẫn còn đang thở đây."

"Tôi đã dặn ông tối qua. Muốn gì thì chờ tôi đến."

"Nằm nhiều mỏi lưng, tôi muốn nhìn xem bên ngoài."

Rosa dìu tôi đến cửa sổ. Bên ngoài nắng đã lên cao. Ánh sáng ban mai lộng lẫy chảy tràn vào phòng. Thấy tôi nhíu mày, Rosa nhanh tay thả lỏng sợi dây. Bức mành trúc rơi rào. Những dây trúc óng ả chảy tuôn, lung linh như thếp lụa ngày nào. Buổi chiều qua phố tôi chọn xấp lụa hoàng anh sóng sánh nắng vàng. Tôi ướm lên người em. Hàng lụa mỏng rũ mềm trên thân thể. Đôi vai xuôi, vòng eo nhỏ. Đồi ngực no mềm và vòng mông to tròn gợi cảm. Em quyến rũ như một trái cấm. Tôi run rẩy, choáng ngợp trong ham muốn tột cùng.

Em cúi xuống. Hai hàng mi đen nhánh mượt mà rợp lên viền mắt. Không phải đôi mắt trong ngắt như suối nguồn tôi trông thấy ở thác Bridalveil, mà là hai hạt pha lê long lanh chứa đầy ánh sáng, thứ ánh sáng nóng bỏng muốn thiêu muốn đốt. Tôi vuốt những sợi tóc mai vương sau gáy em, lần xuống ngực. Đôi bầu vú bầu bĩnh đong đưa. Tôi kéo em xuống, vục mặt vào đồi ngực con gái trinh nguyên. Thân thể em nóng hấp như than hầm. Tôi nhìn thấy em bốc lửa ở Yosemite. Lửa trại cháy bùng ký ức. Ngàn năm sau tôi vẫn nhớ khuôn mặt em ngời sáng. Lửa bập bùng, củi nổ tí tách, những đốm than hồng nở xoè trong mắt em. Đôi mắt phượng dài hút đêm thâu. Càng về khuya, ánh lửa càng xanh biếc. Hơi nóng hun ngùn ngụt. Em phừng lên như ngọn lửa. Tôi nóng ran người, bừng bừng mặt.

"Đừng yêu em. Em sẽ đốt cháy tất cả."

Mặc, tôi cứ lao vào em như con thiêu thân say mê ánh lửa. Hai cánh tay em mềm mại ấm áp quấn lấy tôi. Vòng tay em bỏng, siết chặt như không muốn tách rời. Tôi phát sốt. Thân thể em kết bằng ngàn tia lửa đốt cháy thịt da.

"Ông uống thuốc đi, xong chúng ta đi dạo. Nắng ấm lắm."

Rosa xoè bàn tay đầy thuốc. Những viên độc dược tôi uống hàng ngày. Để làm gì tôi không hiểu. Bệnh tôi đã đến thời kỳ cuối, đã hết thuốc chữa. Hãy để tôi ra đi.

"Đau đớn lắm. Ông uống đi. Có chết cũng phải chết an lành, ông hiểu không?"

Tôi vốc nắm thuốc bỏ vào miệng, nuốc ực. Rosa cười hài lòng. Nàng mặc thêm áo cho tôi, đội mũ, rồi xếp tôi ngồi ngay ngắn vào chiếc xe lăn. Trời hừng chút nắng, nhưng không ấm. Như nắng chỉ có màu sắc mà không nhiệt lượng. Rosa đẩy tôi đi giữa hai hàng anh đào trổ hoa trắng xóa. Tôi nắm bàn tay Rosa, cám ơn nàng. Rosa hiền, dịu dàng. Nàng chịu đựng được tính khí bất thường của tôi thời gian mới lâm bệnh. Không phải cô y tá tại gia nào cũng đằm thắm như Rosa. Tôi đã thay mấy lượt y tá mới chọn được nàng.

"Ông không có bà con họ hàng gì sao?"

"Không. Tôi là con một. Bố mẹ tôi mất đã lâu rồi."

"Còn vợ con, người yêu?"

Rosa không tha, nàng chất vấn đến cùng ngày nhận việc.

Em đến vào một ngày mùa đông. Nắng đã thôi hừng lên mành trúc. Bức mành tôi lùng mãi mới mua được. Chiều em, tôi treo nó lên cửa sổ. Từng dóng trúc vàng ươm kết chuỗi. Từng thanh âm uyển chuyển vờn nhau. Gió lay, bức mành reo róc rách tựa ngàn con suối nhỏ vui đùa. Gió càng mạnh, trúc càng thánh thót reo cao. Những ngày mùa hạ, em cuộn tròn bên tôi nghe trúc ngân nga. Không gian buồn lơi dễ chịu. Cuộc đời thật bình yên và đáng sống. Chúng tôi hay uống chút rượu với nhau vào lúc ấy. Tôi mê Campari vị đắng, màu bưởi tím thẫm pha với cam vắt và đá nhuyễn uống trong buổi trưa lừng nắng. Không biết từ ai, em học cách pha rượu thật tuyệt diệu. Gin tonic vắt chanh rắc muối, uống sau buổi leo núi làm hồi sinh bắp thịt mỏi mệt. Martini Rosso ngọt ngào làm dịu môi còn mặn muối sau giây phút vẫy vùng trên biển. Rượu sim tím Kir Royal vương giả hòa chung với champagne, Amaretto thơm ắp hạnh nhân... Em cười giòn tan. Tôi uống tiếng em cười từ đáy ly. Tôi say em, say những giọt rượu nồng tê mê khứu giác.

Em hiện ra ở cửa phòng, nước mắt đẫm trên gò má.

"Anh có yêu em không?"

Tôi gật đầu, hoảng hốt.

"Anh cho em ở lại với anh."

Tôi thở phào. Tưởng chuyện gì. Căn nhà này em còn lạ gì. Em cứ đến ở.

"Không. Không phải một đêm, mà ở với anh... làm vợ anh."

Tôi lặng yên, nhìn em qua khói thuốc. Tôi không nhớ mình đã suy nghĩ điều gì lúc ấy. Đôi mắt phượng hoàng nhìn tôi đăm đăm. Ánh mắt em làm tôi bấn loạn. Tôi yêu em, nhưng tôi chưa quyết định gì hết. Ốc chưa mang nổi mình ốc, tôi đâu thể đa mang. Tôi ngồi trên ghế, toàn thân tê liệt, trí óc mụ mẫm. Mặt trời tắt lịm bên ngoài. Căn phòng tối đen như tôi đang mù lòa nghĩ đến tương lai.

Em đứng tựa tượng đá ngàn năm câm nín. Ánh mắt u hoài chuyển sang kinh ngạc giận dữ. Em cắn chặt môi, cơn giận chèn vào khí quản khiến ngôn ngữ tắc nghẹn. Chỉ cần tôi đưa cánh tay ra, em sẽ ngả ngay vào. Rồi mặc kệ tương lai ra sao. Tôi từng nghĩ tình yêu em dành cho tôi kỳ diệu xiết bao. Nhưng tôi vẫn ngồi bất động. Tôi không đủ can đảm như em đòi hỏi.

Thời gian rồi qua đi. Thật nhiều năm sau, tôi vẫn nhớ đôi mắt em quyết liệt tóe lửa. Như hai hạt pha lê vỡ chẳng bao giờ còn lành lại được.

"Sao ông không đi tìm cô ấy? Đàn bà dễ mủi lòng, chỉ cần ông thành tâm."

Rosa đặt những câu hỏi tôi không thể trả lời. Em đi rồi tôi mới biết mình yêu em nhường nào. Đôi mắt phượng hoàng một thời mê hoặc, giờ thiêu đốt tâm can. Những đêm dài mất ngủ, tôi tưởng tượng về em. Tôi vẽ gương mặt, vành môi, ngấn cổ em. Tôi vẽ đôi mắt phượng long lanh đen nháy, đuôi cong dài tựa nét bút lông sắc lẹm. Tôi vẽ đồi ngực bồng, cặp mông to tròn gợi cảm. Tôi vẽ đam mê khao khát. Tôi vẽ em như ngọn lửa hồng cháy nung.

Lửa rồi cũng tàn. Tro bụi rồi cũng bay tan. Đôi mắt phượng hoàng ra đi mất hút với thời gian. Tôi gặp lại em trong ngày cưới của Cử. Tóc em đen nhánh xõa dài dưới tấm sa mỏng như khói thác Bridalveil. Đôi mắt phượng hoàng lặng câm không xao động. Em là cô dâu xinh đẹp của Cử.

Sau khi đi dạo, Rosa đưa tôi vào phòng tắm.

"Sáng nay ông té, mồ hôi đầm đìa, tắm một chút cho sạch sẽ."

Sao cũng được, tôi không phản đối. Tôi sống để chờ em. Tôi sống để Rosa vui lòng. Nàng cần tiền để gửi về cho bố mẹ ở Mễ Tây Cơ. Tôi đã hứa với Rosa. Khi tôi ra đi, mọi thứ sẽ thuộc về nàng, trừ tấm mành trúc. Những chuỗi trúc giòn tan tiếng cười tôi giữ cho em. Nhưng giờ em ở đâu? Em ra đi biệt tăm từ ngày chia tay với Cử. Tôi hiểu lòng em chưa hết oán hận.

Khi phát hiện tôi đã tham khảo với bác sĩ để kết thúc cuộc đời trước thời hạn, Rosa la toáng lên rồi ngồi khóc. Nàng vần hai thùng khí helium ra cửa, gởi trả lại mũ trùm đầu ngay chiều hôm ấy.

"Ông dại quá, chỉ có Thượng Đế mới có quyền sinh sát trong tay."

"Tôi sẽ chết, trước hay sau có nghĩa gì đâu? Chết là một cách hóa thân."

"Nhưng sống mới là quan trọng. Hóa thân thành xác chết à? Ông có biết hít khí helium vào sẽ chết thế nào không?"

Tôi biết. Tôi biết hết. Khi mũ trùm đầu chụp xuống, helium tràn vào, người bệnh bắt đầu ngắc ngoải. Helium vào đến đâu, người cứng xanh đến đấy. Trái tim cạn kiệt không khí thở thoi thóp. Mắt trợn ngược, cổ vươn dài, miệng há hốc cố thu vào phổi chút dưỡng khí cuối đời thấm đẫm chất độc. Tôi rợn người.

"Ông quên rồi sao, cô ấy sẽ trở về."

Tôi thầm cảm ơn Rosa. Những cơn đau quặn thắt đã khiến tôi mê muội. Em nhất định sẽ về.

"Ông chết tôi sẽ mất việc. Tôi đang cần tiền lắm..."

Rosa thường chấm dứt đối thoại bằng những lời cầu xin, đôi khi là những tiêu chuẩn đạo đức nàng tin.

Rosa tưới nước lên người tôi. Nước ấm nhưng tôi vẫn rùng mình. Nàng dùng miếng bọt biển trắng xốp xoa lên da tôi. Bàn tay nàng trơn láng trôi qua phần thân thể bỏ quên. Cảm giác được khơi dậy, tỏa bừng lên não. Như thể tôi chưa từng bất lực vì chứng bệnh quái ác. Hy vọng lóe lên như liều thuốc thần diệu chữa lành. Tôi hãy còn muốn nhìn sâu vào mắt em tìm giấc mơ lãng du ban đầu, hãy còn mê thân hình em phát sáng đêm lửa trại Yosemite. Tôi vẫn còn thèm rượu, một ly rượu tần Calvados chưng cất bằng táo xanh, rượu mạnh mà không gắt, hớp một ngụm đã nóng ran người. Cơ thể tôi chưa hề bị hủy hoại. Sự sống trồi lên dưới làn da, dưới bàn tay Rosa đang kỳ cọ. Bàn tay Rosa như có lửa. Hơi nóng lan tỏa khắp châu thân. Tôi bỗng cương lên một cách kỳ quặc. Tôi ngượng, nhưng Rosa tỉnh bơ như không thấy. Nàng tắm cho tôi như nhân viên tống táng lau chùi xác chết.

Rosa đỡ tôi lên giường. Tay chân tôi khuơ vào không khí. Tôi không còn điều khiển được các cử động. Rosa lại đem thuốc đến. Người con gái xứ Mễ Tây Cơ hiền lành, dễ thương nhìn tôi mơ màng. Đôi mắt to đen, rèm mi dài cong vút. Rosa cầm bàn tay tôi ấp lên má. Da mặt nàng ấm mịn. Sau lưng nàng, hoàng hôn đang lịm tắt. Ánh sáng cuối ngày dẫy dụa như trái tim tôi đang giập thảng thốt. Tôi thấy em vén cao mành trúc và bước ra từ vầng sáng kỳ lạ.

Em cúi xuống. Vẫn như lần đầu tiên. Hai hàng mi đen nhánh mượt mà rợp lên viền mắt. Tôi vuốt những sợi tóc mai vương sau gáy em, lần xuống ngực. Em thơm ngát, mát nồng. Em cuốn tôi vào cơn giông tố của đời. Tôi siết chặt lấy em. Tôi đã mất em một lần. Tôi không thể mất em lần nữa.

Em cúi xuống. Bờ môi mọng đỏ tỏa hương nồng nàn, thứ hương thơm của vùng biển Cancun ngời nắng. Đôi mắt to đen bí ẩn dấu sau rèm mi dài cong vút. Tôi tìm đôi mắt phượng hoàng trong veo như suối nguồn. Tôi tìm tiếng cười ngân nga len qua kẽ trúc.

"Em đây."

Đôi cánh tay em trắng muốt quấn lấy cổ tôi. Bầu ngực căng đè lên mặt tôi ứ đầy muốn ngộp. Bàn tay trơn láng vuốt lên phần thân thể bỏ quên. Bàn tay em như có lửa. Hơi nóng rà dọc trên da. Em phừng lên, hừng hực.

"Đừng yêu em. Em sẽ thiêu đốt tất cả."

Tôi không thể đừng. Tôi hối hả nuốt từng đốm lửa trên mình em. Ruột gan tôi cào xé, cháy đỏ như nằm trên vỉ nướng. Nệm giường nóng như lò thiêu. Toàn thân em sáng rực. Đôi mắt to đen tóe lửa. Tôi nhìn vào đôi mắt em, thấy mình đang vỡ nát như mảnh vụn thủy tinh. Tôi bỗng nhớ lại tất cả, nguyên vẹn như ký ức chưa hề băng hoại, vẹn toàn như thân thể chưa từng hủy diệt. Khoảnh khắc đầu tiên tôi gặp em với đôi mắt phượng trong vắt. Những ly rượu hồi Pernod đậm đặc em pha với đá cục, màu vàng đồng hóa thành màu vàng khói thơm ngái, hăng hăng, uống vào xây xẩm mặt. Hai hạt pha lê vỡ òa tan trên da bỏng rát. Em yêu tôi, dịu dàng nhưng ngầm ẩn, sôi sục như núi lửa triệu năm âm ỉ. Tôi ghì chặt lấy em. Hơi thở ướp lửa táp lên ngực tôi. Tôi bật dậy. Bằng tất cả sức lực còn lại, tôi đâm thốc vào em. Cảm giác rát buốt, bỏng dộp như vừa ấn sâu vào miệng núi lửa khiến tôi choáng váng đến ngất. Gió nóng ràn rạt quét qua người. Nham thạch phun cao tựa những cầu vồng ngũ sắc.

Đêm nổi lửa. Hỏa ngục là thiên đàng.

*

Buổi sáng oi ả, nắng dàu dàu. Ngôi biệt thự đứng lặng, nhìn xuống triền đồi. Cửa nhà mở toang. Gió thổi u u, len vào từng góc nhà còn đẫm âm khí. Nhân viên nhà quàn đặt xác người đàn ông lên chiếc cáng dài. Khuôn mặt người chết nhăn dúm, nhưng trên môi lại phảng phất nét cười.

"Xin cô đừng quá đau buồn. Ông nhà ra đi thật thanh thản."

Rosa ôm mặt, khóc nấc. Nhân viên nhà quàn đã quen cảnh thân chủ khóc lóc, bình thản đặt lên bàn tờ biên lai.

"Chúng tôi sẽ lo cho ông nhà thật chu đáo. Cô cần chúng tôi đóng cửa lại không?"

Rosa khẽ lắc đầu. Nàng đi mở tất cả các cửa sổ lớn nhỏ trong nhà. Gió phần phật thổi tung các tấm rèm. Nàng nhìn vào góc phòng, nơi người đàn ông đã nằm liệt nhiều ngày. Người đàn ông đã thật tử tế với nàng. Ân hận đưa lên làm nàng cảm thấy nghẹt thở. Nếu ông ta không quá xúc động, có lẽ cũng chưa đến nỗi.

"Chết trước hay sau có nghĩa gì đâu. Chết là một cách hóa thân." Nàng lập lại câu nói của người đàn ông, thấy lòng dịu đi đôi chút. Người đàn ông đã hóa thân. Thế giới mới của ông bao la không giới hạn.

Những đợi chờ đã dứt. Người đàn ông đã ra đi. Ngôi biệt thự trên đồi và những gì trong đó; xe lăn, giường nệm, sách vở, áo quần của người đàn ông vẫn còn nguyên chỗ cũ. Những chai rượu uống dở nằm bừa trên kệ. Tất cả như cùng toát ra nỗi cô đơn lạnh lẽo. Vắng người đàn ông, căn nhà hoang vắng, vô cùng xa lạ với nàng. Rosa bứt rứt không yên. Nàng ngồi xuống mặt nệm, nơi người đàn ông đã kiên nhẫn chờ nàng đến mỗi buổi sáng. Bức mành trúc lách tách đập vào mắt nàng. Chuỗi trúc vàng chuyển động, rì rầm những tiếng thở dài. Rosa xắn tay áo, trèo lên ghế, gỡ bức mành xuống. Nàng cuộn bức mành trong tay, tần ngần một lúc rồi ném vào lò sưởi. Lửa phựt lên, thiêu đốt tất cả. Người đàn bà ấy sẽ không bao giờ trở về nữa.

Mùa xuân ở Yosemite vẫn cực kỳ quyến rũ. Nắng vỡ giòn, tuyết rã tan. Dòng nước lạnh băng vẫn tuôn rầm rập ở thác Bridalveil. Gió đầu mùa vi vu thổi suốt vùng thảo nguyên xanh ngát huyền thoại.

Nguyễn Xuân Tường Vy
California Tháng 3, 2010

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
09 Tháng Tám 20267:14 CH(Xem: 209)
“Một suy ngẫm nối tiếp Từ bài viết “CUỘC TỰ VẤN LƯƠNG TÂM LỚN NHẤT VÀ RUNG CẢM NHẤT TRONG ĐIỆN ẢNH” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey của Christopher Nolan, chúng tôi thử đi thêm một bước: từ Troy của Homer nhìn về những cuộc chiến của thế giới hôm nay.” MINH HẠO -
09 Tháng Tám 20266:02 CH(Xem: 174)
Hợp Lưu trân trọng giới thiệu bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey — bộ phim mới của đạo diễn Christopher Nolan. Không chỉ là một bài điểm phim, tác giả đã đọc cuộc trở về của Odysseus như một hành trình trở về với lương tri và Nhân tính; nơi chiến thắng, quyền lực và những cuộc chinh phạt cuối cùng phải đối diện với món nợ máu của những người vô tội. Từ thành Troy của Homer đến một thế giới hôm nay vẫn còn “gió tanh mưa máu”, bài viết đặt ra một câu hỏi tưởng cổ xưa mà vẫn nhức nhối: Sau mỗi cuộc chiến, ai sẽ là người trả giá cho những gì con người đã gây ra cho con người? — BAN BIÊN TẬP HỢP LƯU
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 326)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:11 CH(Xem: 275)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
07 Tháng Tám 202611:05 CH(Xem: 388)
tháng giêng hoa xoan chưa nở / thì em đã vội lấy chồng / mùi hương còn đang dang dở / rụng đầy xuống cả dòng sông / *** tháng hai ánh trăng vừa cũ / chênh chao ngõ vắng im lìm / em không còn gì để nói / chỉ màu nắng nhạt qua tim /
07 Tháng Tám 202610:29 CH(Xem: 561)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
30 Tháng Bảy 20261:56 CH(Xem: 1016)
XÓM BỜ MƯƠNG – Truyện thứ hai trong bộ ba "Tam Quan" của Phạm Ngọc Lương. Hôm qua, chúng tôi giới thiệu CÁT HOANG. Hôm nay là XÓM BỜ MƯƠNG – truyện ngắn thứ hai trong bộ ba Tam Quan của nhà văn trẻ Phạm Ngọc Lương, từng đăng trên Hợp Lưu số 87 (2006). Hơn hai mươi năm trước, nhà phê bình Thụy Khuê đã gọi đây là "một câu chuyện cổ tích kinh dị", nơi cái chết của một dòng sông song hành với sự mục rữa của môi trường, sự tha hóa của con người và số phận bi thảm của một đứa trẻ. Một truyện ngắn đầy chất thơ, nhưng càng đẹp càng khiến người đọc rùng mình. Hai mươi năm đã trôi qua. Dòng sông trong truyện có còn là một ẩn dụ của hôm nay? Xã hội Việt Nam đã thay đổi đến đâu trước những vấn đề mà XÓM BỜ MƯƠNG đặt ra: môi trường, bạo lực, sự vô cảm, và phẩm giá con người? Chúng tôi xin giới thiệu lại truyện ngắn này. Câu trả lời, có lẽ, xin dành cho mỗi bạn đọc.
29 Tháng Bảy 20263:34 CH(Xem: 1082)
Có những tác phẩm không thuộc về một thời điểm. Chúng lặng lẽ nằm lại trên trang giấy nhiều năm, rồi một ngày nào đó bỗng hiện lên với sức nặng như thể vừa mới được viết hôm qua. Cát Hoang là một truyện ngắn như vậy. Lần đầu xuất hiện trên Tạp chí Hợp Lưu bởi lối viết tối giản, đứt đoạn như điện ảnh, ngôn ngữ đầy ký hiệu, và một thế giới nghệ thuật khiến người đọc vừa bối rối vừa ám ảnh. Nhà phê bình Thụy Khuê từng nhận xét đây là một truyện ngắn có cấu trúc của thơ hiện đại, nơi mỗi câu chữ đều trở thành một ám hiệu, buộc người đọc phải đọc bằng trực giác nhiều hơn bằng cốt truyện. Trong thế giới ấy, có một bãi đất nổi giữa dòng sông, một cộng đồng sống như chưa từng biết đến ánh sáng của văn minh, nơi trẻ em không được học chữ, nơi người biết chữ bị gọi là "con điên", và nơi bạo lực dần trở thành trật tự bình thường. Đó là một không gian hư cấu. Nhưng điều khiến Cát Hoang sống mãi không nằm ở tính hư cấu ấy, mà ở khả năng đánh thức những câu hỏi chưa bao giờ cũ:
22 Tháng Bảy 202610:50 CH(Xem: 1684)
MẢNH ĐẤT ÍT NGƯỜI NHIỀU MA… NGƯỜI, viết hoa, theo tính chất triết học cả Đông lẫn Tây, và theo cách hiểu của tâm lý đời thường nhiều biến động này là “Tử tế”, đang ít dần đi cùng với sự teo tóp của Lương tri, sự lẩn trốn của cái Thiện, sự đánh mất Tình thương và Lòng trắc ẩn… Ma, theo nghĩa khái quát về bản chất Ma Quỷ trong con người đang trỗi dậy, không chỉ là hình tượng dọa nạt con trẻ nữa mà đang trở thành thế lực khủng khiếp đe dọa thống trị toàn bộ cơ chế hoạt động lẫn tinh thần – đạo lý xã hội…
22 Tháng Bảy 202610:23 CH(Xem: 1980)
Bão Maysak đổ bộ vào Móng Cái / các bản tin điện tử dồn lên trang nhất / suốt nhiều giờ chống bão / anh đợi bản tin em
07 Tháng Tám 2026(Xem: 560)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 11054)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17689)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16757)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 325)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:05 CH(Xem: 387)
tháng giêng hoa xoan chưa nở / thì em đã vội lấy chồng / mùi hương còn đang dang dở / rụng đầy xuống cả dòng sông / *** tháng hai ánh trăng vừa cũ / chênh chao ngõ vắng im lìm / em không còn gì để nói / chỉ màu nắng nhạt qua tim /
22 Tháng Bảy 202610:23 CH(Xem: 1980)
Bão Maysak đổ bộ vào Móng Cái / các bản tin điện tử dồn lên trang nhất / suốt nhiều giờ chống bão / anh đợi bản tin em
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 2527)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
(Xem: 274)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
(Xem: 2415)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
(Xem: 2183)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
(Xem: 2771)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
30 Tháng Bảy 20261:56 CH(Xem: 1016)
XÓM BỜ MƯƠNG – Truyện thứ hai trong bộ ba "Tam Quan" của Phạm Ngọc Lương. Hôm qua, chúng tôi giới thiệu CÁT HOANG. Hôm nay là XÓM BỜ MƯƠNG – truyện ngắn thứ hai trong bộ ba Tam Quan của nhà văn trẻ Phạm Ngọc Lương, từng đăng trên Hợp Lưu số 87 (2006). Hơn hai mươi năm trước, nhà phê bình Thụy Khuê đã gọi đây là "một câu chuyện cổ tích kinh dị", nơi cái chết của một dòng sông song hành với sự mục rữa của môi trường, sự tha hóa của con người và số phận bi thảm của một đứa trẻ. Một truyện ngắn đầy chất thơ, nhưng càng đẹp càng khiến người đọc rùng mình. Hai mươi năm đã trôi qua. Dòng sông trong truyện có còn là một ẩn dụ của hôm nay? Xã hội Việt Nam đã thay đổi đến đâu trước những vấn đề mà XÓM BỜ MƯƠNG đặt ra: môi trường, bạo lực, sự vô cảm, và phẩm giá con người? Chúng tôi xin giới thiệu lại truyện ngắn này. Câu trả lời, có lẽ, xin dành cho mỗi bạn đọc.
29 Tháng Bảy 20263:34 CH(Xem: 1082)
Có những tác phẩm không thuộc về một thời điểm. Chúng lặng lẽ nằm lại trên trang giấy nhiều năm, rồi một ngày nào đó bỗng hiện lên với sức nặng như thể vừa mới được viết hôm qua. Cát Hoang là một truyện ngắn như vậy. Lần đầu xuất hiện trên Tạp chí Hợp Lưu bởi lối viết tối giản, đứt đoạn như điện ảnh, ngôn ngữ đầy ký hiệu, và một thế giới nghệ thuật khiến người đọc vừa bối rối vừa ám ảnh. Nhà phê bình Thụy Khuê từng nhận xét đây là một truyện ngắn có cấu trúc của thơ hiện đại, nơi mỗi câu chữ đều trở thành một ám hiệu, buộc người đọc phải đọc bằng trực giác nhiều hơn bằng cốt truyện. Trong thế giới ấy, có một bãi đất nổi giữa dòng sông, một cộng đồng sống như chưa từng biết đến ánh sáng của văn minh, nơi trẻ em không được học chữ, nơi người biết chữ bị gọi là "con điên", và nơi bạo lực dần trở thành trật tự bình thường. Đó là một không gian hư cấu. Nhưng điều khiến Cát Hoang sống mãi không nằm ở tính hư cấu ấy, mà ở khả năng đánh thức những câu hỏi chưa bao giờ cũ:
22 Tháng Bảy 202610:14 CH(Xem: 1622)
Đất nước ta khởi đi từ hình bóng một người mẹ thuở hồng hoang. Lịch sử chúng ta khởi đi từ lời ru và những cuộc phân ly. Giữa huyền thoại về những người anh hùng, thấp thoáng bóng dáng những người mẹ trầm mình trên sông.
14 Tháng Bảy 202612:37 SA(Xem: 2400)
Bích Lan sinh trưởng ở Đồng Nai, tính tình hiền lành và có ngoại hình dễ nhìn. Năm nay bốn mươi tuổi. Ở cái tuổi mà nhiều người phụ nữ đã có con vào đại học, cô trở về căn hộ của mình mỗi chiều với một chùm chìa khóa và sự im lặng. Từ ban công tầng mười sáu nhìn xuống, thành phố đêm nào cũng sáng rực. Xe cộ vẫn xuôi ngược, những ô cửa vẫn hắt ra ánh đèn vàng ấm áp. Chỉ có căn hộ của Lan, nhiều lúc rộng đến mức nghe rõ tiếng dép của chính mình trên nền gạch. Sự nghiệp làm ăn thì thuận tiện nhưng về đường tình duyên thì có phần lận đận.
09 Tháng Tám 2026(Xem: 209)
“Một suy ngẫm nối tiếp Từ bài viết “CUỘC TỰ VẤN LƯƠNG TÂM LỚN NHẤT VÀ RUNG CẢM NHẤT TRONG ĐIỆN ẢNH” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey của Christopher Nolan, chúng tôi thử đi thêm một bước: từ Troy của Homer nhìn về những cuộc chiến của thế giới hôm nay.” MINH HẠO -
09 Tháng Tám 2026(Xem: 174)
Hợp Lưu trân trọng giới thiệu bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey — bộ phim mới của đạo diễn Christopher Nolan. Không chỉ là một bài điểm phim, tác giả đã đọc cuộc trở về của Odysseus như một hành trình trở về với lương tri và Nhân tính; nơi chiến thắng, quyền lực và những cuộc chinh phạt cuối cùng phải đối diện với món nợ máu của những người vô tội. Từ thành Troy của Homer đến một thế giới hôm nay vẫn còn “gió tanh mưa máu”, bài viết đặt ra một câu hỏi tưởng cổ xưa mà vẫn nhức nhối: Sau mỗi cuộc chiến, ai sẽ là người trả giá cho những gì con người đã gây ra cho con người? — BAN BIÊN TẬP HỢP LƯU
22 Tháng Bảy 2026(Xem: 1684)
MẢNH ĐẤT ÍT NGƯỜI NHIỀU MA… NGƯỜI, viết hoa, theo tính chất triết học cả Đông lẫn Tây, và theo cách hiểu của tâm lý đời thường nhiều biến động này là “Tử tế”, đang ít dần đi cùng với sự teo tóp của Lương tri, sự lẩn trốn của cái Thiện, sự đánh mất Tình thương và Lòng trắc ẩn… Ma, theo nghĩa khái quát về bản chất Ma Quỷ trong con người đang trỗi dậy, không chỉ là hình tượng dọa nạt con trẻ nữa mà đang trở thành thế lực khủng khiếp đe dọa thống trị toàn bộ cơ chế hoạt động lẫn tinh thần – đạo lý xã hội…
11 Tháng Bảy 2026(Xem: 2246)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 3079)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 14404)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 30478)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 36755)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 12177)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 13518)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 3943)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 5962)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 5449)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 6010)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 6659)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 8986)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 8287)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 11226)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.